1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGÂN HÀNG NGOẠI TH¬ƯƠNG VỚI HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ

25 284 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngân Hàng Ngoại Thương Với Hoạt Động Thẩm Định Tài Chính Dự Án Đầu Tư
Trường học Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank University)
Chuyên ngành Ngân hàng và Tài chính
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 46,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, hoạt động huy động vốn của NHTM được thể hiện tập trung thông qua việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong công chúng, Ngân hàng tập chung được một số vốn lớn từ các khoản séc, t

Trang 1

NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VỚI HOẠT ĐỘNG THẨM

ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ

1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG

NHTM là tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và Ngân hàng Tất cả các hoạt động của Ngân hàng đều hướng tới mục tiêu tối cao, chi phối các mục tiêu khác là tối đa hoá lợi nhuận Theo đuổi mục tiêu này, NHTM không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến dịch vụ đa dạng hóa các loại hình dịch vụ và được thực hiện qua ba hoạt động chính:

-Hoạt động huy động vốn.

-Hoạt động cho vay và đầu tư.

-Hoạt động trung gian.

Đây là ba hoạt động truyền thống của một NHTM Chúng có quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau Để có vốn vay Ngân hàng phải huy động những đồng tiền nhàn rỗi từ tay các nhà tiết kiệm Đồng thời với một lợi thế là một trung gian trên thị trường tài chính, NHTM thực hiện một số dịch vụ cung cấp cho khách hàng Các hoạt động dịch vụ này vừa tạo ra thu nhập, vừa hỗ trợ cho các hoạt động huy động vốn, cho vay, đầu tư.

Trang 2

Thứ nhất, huy động vốn: trước hết mỗi NHTM phải có một số vốn tự có

là điều kiện ban đầu của hoạt động kinh doanh của mình Số vốn này được tạo lập bằng cách phát hành cổ phiếu hay do ngân sách Nhà nước cấp, hay là từ các quỹ được tạo ra trong quá trình hoạt động của Ngân hàng.

Tuy nhiên, hoạt động huy động vốn của NHTM được thể hiện tập trung thông qua việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong công chúng, Ngân hàng tập chung được một số vốn lớn từ các khoản séc, tài khoản tiết kiệm, tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, từ các công cụ kỳ phiếu, trái phiếu, giấy chứng nhận tiền gửi v v Bên cạnh đó khi cần vốn cho nhu cầu thanh toán, cho vay Ngân hàng có thể vay của NHTW hay các tổ chức tín dụng khác Trên bảng cân đối tài sản, hoạt động huy động vốn được biểu hiện qua các tài sản nợ của Ngân hàng.

Thứ hai, hoạt động cho vay, đầu tư: NHTM sử dụng số tiền tiết kiệm,

nhàn rỗi huy động được từ công chúng đem cho vay hoặc đầu tư chứng khoán Trên bảng cân đối tài sản, các hoạt động này được biểu hiện là tài sản có của Ngân hàng.

Các hoạt động cho vay và đầu tư mang lại cho NHTM một khoản thu nhập Đây là khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập của NHTM.

Thứ ba, hoạt động trung gian: các NHTM còn thực hiện nghiệp vụ trung

gian theo yêu cầu của khách hàng nh: thanh toán, chuyển tiền, ưuỷ thác, ký gửi, tư vấn, bảo lãnh Nghiệp vụ này không những mang lại thu nhập cho Ngân hàng mà còn tạo điều kiện mở mang các hoạt động trên.

1.2 Hoạt động cho vay của NHTM.

Đây là hoạt động truyền thống mang tính đặc trưng cơ bản của NHTM.

Nó đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, Ngân hàng tiến hành cho vay và thu khoản lãi nhất định trên

số tiền cho vay theo nguyên tắc vay vốn phải được khoản trả và thu tiền lãi phải đủ trang trải cho các khoản chi và phải có lợi nhuận.

NHTM có thể cho vay theo nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo tiêu thức phân loại:

Theo mục đích cho vay:

-Cho vay công nghiệp.

-Cho vay nông nghiệp.

-Cho vay xây dựng cơ bản.

Trang 3

-Cho vay xuất nhập khẩu.

Theo lãi xuất:

-Cho vay theo lãi xuất cố định.

-Cho vay theo lãi xuất thả nổi.

Theo thành phần kinh tế:

-Cho vay quốc doanh.

-Cho vay ngoài quốc doanh.

Theo tài sản đảm bảo:

-Cho vay có tài sản đảm bảo.

-Cho vay không có tài sản đảm bảo.

Theo thời hạn cho vay:

-Cho vay dài hạn.

-Cho vay trung, ngắn hạn.

Dù cho vay theo bất kỳ hình thức nào thì nghiệp vụ cho vay cũng trải qua

ba giai đoạn sau:

-Xem xét trước khi cho vay.

-Thực hiện cho vay.

-Thu gốc và lãi.

Ba giai đoạn này là một quá trình gắn bó chặt chẽ, mỗi giai đoạn đều có tầm quan trọng nhất định, ảnh hưỏng đến chất lượng của khoản vay Tuy nhiên, giai đoạn xem xét trước khi cho vay mang ý nghĩa chiến lược, nó ảnh hưỏng đến chất lượng của khoản vay và các giai đoạn sau Bởi vì, trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại sự bất cân xứng về thông tin giữa Ngân hàng Thương Mại và khách hàng dẫn đến Ngân hàng có thể thực hiện những khoản cho vay sai lầm Vì vậy Ngân hàng Thương Mại luôn luôn cân nhắc, xem xét kỹ lưỡng và bằng nhiều phương pháp nghiệp vụ đặc thù, phải xác định đúng khách hàng tốt, khoản cho vay đảm bảo yêu cầu trước khi quyết định cho vay.

Đó chính là hoạt động thẩm định các khoản cho vay, một hoạt động mang tính dịch vụ của Ngân hàng Thương Mại nhằm xác định các khoản cho vay an toàn, chất lượng cao.

Một hình thức phổ biến cho vay của Ngân hàng Thương Mại là cho vay theo dự án đầu tư ) Đây chính là hình thức cho vay trung và dài hạn với đặc điểm là số vốn cho vay lớn, thời hạn cho vay dài do đó chịu nhiều biến động và

Trang 4

rủi ro cao Tuy nhiên, nếu là một dự án đầu tư tốt thì sẽ đem lại cho Ngân hàng một khoản thu nhập xứng đáng và bảo đảm an toàn vốn Để đạt được mục tiêu này, Ngân hàng Thương Mại phải làm tốt công tác thẩm định dự án đầu tư từ trước khi đi đến một quyết định tài trợ.

2 SỰ CẦN THIẾT THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Đầu tư được hiểu là việc bỏ vốn vào một hoạt động nhất định nhằm mục đích thu lại một khoản tiền lớn hơn hay là việc sử dụng tiền vào mục đích sinh lời Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động đầu tư vô cùng quan trọng Đầu tư

sẽ duy trì được tiềm lực sẵn có đảm bảo cho quá trình tái sản xuất diễn ra bình thường vào tạo một tiềm lực lớn hơn trong tương lai.

Mục tiêu của đầu tư là hiệu quả, nhng ở những mức độ khác nhau, người ta nhìn nhận vấn đề hiệu quả không giống nhau Doanh nghiệp(DN) quan tâm đến hiệu quả tài chính, tối đa hoá lợi nhuận, nhà nước lại quan tâm đến lợi ích xã hội, đầu tư sẽ mang lại hiệu quả và đóng góp cho sự phát triển xã hội của đất nước.

Mặt khác hợp đồng đầu tư là hợp đồng phức tạp, nó liên quan và đòi hỏi

sự phối hợp của nhiều cấp: Chính phủ-Bộ-Ngành-Ngân hàng-Chủ đầu tư Do

đó, để đảm bảo cho hoạt động đầu tư được tiến hành thuận lợi, đạt được mục tiêu mong muốn của các bên liên quan thì trước khi bỏ vốn chúng ta cần làm tốt thận trong và nghiêm túc trong công tác chuẩn bị đầu tư Hợp đồng đầu tư được thể hiện qua việc thực hiện các dự án đầu tư.

2.1 Dự án đầu tư

Khái niệm:

Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với các mục tiêu phương pháp và phương tiện cụ thể để dạt tới trạng thái mong muốn.

Các yếu tố cấu thành nên Dự án đầu tư.

- Các mục tiêu của dự án: đó là những kết quả và lợi ích mà dự án đem lại cho các nhà đầu tư và cho xã hội

- Các hợp đồng (giải pháp về tổ chức, kinh tế xã hội ) để thực hiện mục tiêu dự án.

- Đầu vào của dự án đầu tư: Đó là những kết quả cụ thể, mang tính chuẩn mực được tao ra từ những hoạt động khác của dự án.

Trang 5

- Thời hạn: Là khoảng thời gian từ khi bắt đầu nghiên cứu cơ hội đầu tư đến khi chấm dứt hợp đồng Thông thường, thời hạn hợp đồng của dự án được xác địnhtrong luận chứng kinh tế kĩ thuật.

- Địa điểm thực hiện dự án đầu tư.

- Các nguồn đầu tư để hình thành nên vốn đầu tư của dự án

- Các chủ thể; bao gồm các bên liên quan phối hợp với nhau để thực hiện

và thụ hưỏng những lợi ích mà dự án đầu tư mang lại.

Các giai đoạn hình thành và phát triển của dự án đầu tư

Một dự án đầu tư từ khi hình thành đến khi kết thúc thường trải qua ba giai đoạn sau:

- Giai đoạn1: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:

Nghiên cứu, đánh giá cơ hội đầu tư: sản phẩm của bước này là báo cáo cơ hội đầu tư.

Nghiên cứu tiền khả thi: sản phẩm của bước này là báo cáo tiền khả thi.

Nghiên cứu khả thi: sản phẩm của bước này là luận chứng kinh tế, kỹ thuật.

-Giai đoạn 2: Giai đoạn thực hiện đầu tư:

Đây là giai đoạn cụ thể hoá về nguồn hình thành vốn đầu tư và triển khai thực hiện dự án đầu tư Trong các dự án đầu tư người ta thường thực hiện một loạt các ký kế hợp đồng như hợp đồng liên doanh, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, thuê nhà xởng, nhận thầu thiết kế về thi công công trình, mua bán máy móc thiết bị, chuyển giao công nghệ, thuê công nhân lao động, để xây dựng và đa công trình vào hoạt động.

-Giai đoạn 3: Giai đoạn vận hành khai thác:

Là giai đoạn chính thức đa công trình vào hoạt động và tạo ra sản phẩm tiêu thụ trên thị trường.

Trong 3 giai đoạn trên, giai đoạn 1 có ý nghĩa và vai trò quan trọng, nó mang ý nghĩa quyết định và là cơ sở cho việc triển khai dự án ở các giai đoạn sau trong giai đoạn này thẩm định hiệu quả tổ chức, nói cách khác là thẩm định dự án đầu tư, đóng vai trò then chốt để có một quyết định đầu tư đúng đắn.

2.2 Sự cần thiết thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại.

2.2.1 Thẩm định dự án đầu tư.

Trang 6

KN: Thẩm định dự án đầu tư là một tổ chức xem xét một cách

khách quan, khoa học và toàn diện cho phép ra quyết định đầu tư.

Thẩm định về sự cần thiết phải đầu tư: Với quan điểm mỗi dự

án đầu tư là một mắt xích quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế dài hạn, trung hạn của ngành, vùng lãnh thổ nhằm đạt được các mục tiêu của chương trình phát triển kinh tế đó, việc thẩm định sự cần thiết phải đầu tư nhằm trả lời các câu hỏi: Dự án có ưu thế nào trong quy hoạch phát triển chung Dự án nếu đầu tư sẽ làm gia tăng thu nhập cho doanh nghiệp và cho nền kinh tế là bao nhiêu? sử dụng các nguồn tài nguyên và cơ sở vật chất sẵn

có, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu, giảm chi ngoại tệ ra sao, công nghệ trong dự án nguồn tài nguyên Nội dung của thẩm định này không phức tạp nhng có ý nghĩa định hướng cho nội dung tiếp theo của thẩm định dự án.

Thẩm định dự án là phương diện thị trường: Đây là khía

cạnh quan trọng quyết định đến sự thành bại của dự án đầu tư Nhìn nhận dưới góc độ của của Ngân hàng thương mại thì sản phẩm của dự án chính là đối tượng tín dụng Ngân hàng sẽ tài trợ Xét dưới góc độ gián tiếp thì rủi ro của Ngân hàng sẽ gắn liền với sản phẩm của dự án Vì vậy việc phân tích đánh giá vị thế sản phẩm và thị trường của doanh nghiệp vô cùng quan trọng Việc thẩm định dự án về phương diện thị trường được tiến hành trên các mặt giá

cả, quy cách sản phẩm, mẫu mã, nhu cầu thị trường, chất lượng sản phẩm cạnh tranh, phạm vi hoạt động của sản phẩm, từ đó xây dựng khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp.

Thẩm định về mặt kỹ thuật công nghệ: Phân tích kỹ thuật là

tiền đề cho việc phân tích kinh tế tài chính của dự án đầu tư Việc thẩm định về mặt kỹ thuật phải xem xét việc lựa chọn công nghệ, thiết bị, giải pháp kỹ thuật

có phù hợp không, tiết kiệm được chi phí sản xuất, địa điểm có phù hợp không, các giải pháp xử lý tác động đến môi trường.

Thẩm định dự án về khía cạnh tổ chức quản lý: Trong nhiều

trường hợp mức độ thành bại của dự án không phải do yếu tố về thị trường hay kỹ thuật mà do chính năng lực tổ chức, quản lý và thực hiện của các cơ quan có liên quan cũng như quan hệ kết hợp giữa họ, đó là chủ dự án, các tổ chức thiết kế thi công, cung ứng nguyên vật liệu, thiết bị và đội ngũ thi công chịu trách nhiệm vận hành dự án.

Trang 7

Thẩm định dự án về phương diện tài chính: Phải xem xét tính

toán các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính, xem xét các kế hoạch của DÙ áN đầU Tư có đem lại hiệu quả tài chính hay không.

Thẩm định các điều kiện pháp lý để quyết định xét duyệt

dự án bao gồm: Hồ sơ trình duyệt có đủ và có hợp lệ theo quy định hay

không? tư cách pháp nhân và năng lực của chủ đầu tư?

Thẩm định mục tiêu của dự án: Nhằm xem xét các mục tiêu

của dự án có phù hợp với chương trình kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của

cả nước, của vùng, ngành, địa phương Ngành nghề trong dự án có thuộc ngành nghề nhà nước cho phép hay không, có được ưu tiên hay không?

Thẩm định về kinh tế xã hội: Thực tế là việc đánh giá, xem xét

những cái được và mất khi thực hiện dự án đầu tư đối với nền kinh tế xã hội.

Dự án có sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên sẵn có hay không? đã mang lại lợi ích gì cho đất nước, dự án có mang lại công ăn việc làm cho người lao động làm nâng cao đời sống xã hội, thu nhập, tạo nếp sống phong tục tập quán Mục tiêu của dự án có phù hợp với mục tiêu của xã hội hay không?

Thẩm định dự án về môi trường theo hai chiều hướng: Tích

cực và tiêu cực.

2.2.2.Sự cần thiết thẩm định tài chính dự án đầu tư.

Mỗi dự án đầu tư chứa đựng nhiều nội dung kinh tế kỹ thuật rất phù hợp Các nội dung này có mối quan hệ ràng buộc, ảnh hưỏng lẫn nhau hình thành nên dự án đầu tư Do vậy bất cứ một khó khăn tại một mặt nào đều ảnh hưỏng đến mặt khác và ảnh hưỏng tới kết quả của dự án đầu tư Thẩm định

dự án đầu tư phải xem xét tất cả các khía cạnh để đề ra câu trả lời cho mỗi khía cạnh đó Tuy nhiên các dự án đầu tư đa đến Ngân hàng thương mại xin vay vốn thường rất đa dạng, với nhiều lĩnh vực và quy mô khác nhau Trong điều kiện và khả năng có hạn, đặc biệt là đối với những Ngân hàng thương mại không chuyên sâu về nghiệp vụ cho vay đầu tư phát triển thì Ngân hàng khó có thể thẩm định chi tiết tất cả các khía cạnh Ngân hàng chủ yếu tập trung vào mặt tài chính-Đây là mặt Ngân hàng có thế mạnh cả về quyền hạn cũng như trách nhiệm Dự án đầu tư thường do các chủ dự án lập hoặc thuê các cơ quan tư vấn lập trên cơ sở các ý đồ kinh doanh và ý muốn chủ quan của chủ dự án Trên quan điểm của chủ dự án thì dự án của họ bao giờ cũng có tính khả thi và họ mong muốn được Ngân hàng cho vay Do vậy, dự án mang

Trang 8

tính chủ quan của chủ đầu tư và thường không xem xét đánh giá được hết tất

cả các khía cạnh có liên quan Thông tin, số liệu trong luận chứng kinh tế, kĩ thuật hay các báo cáo tài chính liên quan có thể không phản ánh đúng thực trạng Doanh nghiệp có thể quá lạc quan về tình hình tiêu thụ trong những năm tới hay tính toán không đầy đủ các yếu tố làm tăng tính hiệu quả của dự án Vì vậy, để thẩm định tài chính dự án đầu tư được đa đến NHTM khi vay vốn là cần thiết.

Là một đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, hoạt động Ngân hàng có những đặc thù mà các ngành khác không có được, đặc biệt là mức độ rủi ro cao Nâng cao hiệu quả dụng vốn và hạn chế rủi ro là mục đích của bất cứ Ngân hàng nào.Lĩnh vực kinh doanh càng hứa hẹn sinh lời cao thì càng chịu nhiều rủi ro Vấn đề là phải đánh giá tác động rủi ro để có các biện pháp trách hoặc tính toán mức rủi ro có thể chấp nhận tương ứng với hiệu quả

mà dự án mang lại Tuy nhiên an toàn vốn không có nghĩa là không đảm bảo đầu tư vào các dự án dài hạn mà trước hết phải tìm các giải pháp tích cực để giải quyết thẩm định tài chính dự án đầu tư được coi là biện pháp hữu hiệu để phát huy tích cực.

Đối với Ngân hàng thương mại, việc tài trợ cho dự án đầu tư là một hoạt động nghiệp vụ là hình thức cho vay trung và dài hạn hay theo các dự án đầu tư Đây là một phương pháp kinh doanh thu lợi nhuận và là cơ sở để các Ngân hàng thong mại cung cấp các sản phẩm dịch vụ Cho vay theo dự án đầu

tư Tư hiện nay là một hoạt động rất phổ biến của các Ngân hàng thương mại.

Do vậy trước khi đi đến một quyết định cho vay theo dự án đầu tư, Ngân hàng thương mại phải tiến hành xem xét, đánh giá thẩm định như đối với các khoản vay khác như trên chúng ta đã nêu thẩm định một khoản cho vay theo dự án đầu tư bao gồm nhiều nội dung khác nhau, trong đó thẩm định tài chính là một khía cạnh rất quan trọng Việc thẩm định tài chính dự án đầu tư sẽ giúp Ngân hàng thương mại ra được những quyết định đúng đắn trong việc tài trợ như

số lượng cho vay, thời hạn, lãi suất áp dụng, quản lý và thu hồi vốn hỗ trợ dự án

Qua thẩm định tài chính dự án đầu tư, Ngân hàng thương mại phải lựa chọn và tìm ra được những dự án đầu tư có hiệu quả tài chính để cho vay Bởi

vì chỉ có như thế mới đảm bảo cho các hoạt động của Ngân hàng diễn ra một cách bình thường trong nền kinh tế.

Trang 9

Cũng như cụ thể là việc thu hồi cả gốc và lãi theo đúng tiến độ nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế mức độ rủi ro ở mức thấp nhất Qua đó Ngân hàng thương mại mới đảm bảo có lợi nhuận và an toàn trong hoạt động cho vay để không ngừng tăng trưởng và phát triển Đây chính là lý do và sự cân bằng cần thiết Ngân hàng thương mại thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay

3 TRÌNH TỰ VÀ NỘI DUNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐÀU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

Thẩm định dự án là xem xét, kiểm tra tính khả thi về tất cả các mặt của

dự án đầu tư, xét trên quan điểm cho vay- thu hồi vốn là trách nhiêm chính của

Ngân hàng thương mại thì ngiệp vụ thẩm định tài chính là một ngiệp vụ quan trọng hàng đầu của Ngân hàng Đối với Ngân hàng thương mại, việc thẩm định hiệu quả dự án đầu tư là xem xét dự án có đủ khả năng trả nợ Ngân hàng

từ kết quả tài chính tạo ra hay không.

Thẩm định tài chính xuất hiện trong quá trình hoạt động của dự án có tính đến giá trị thời gian của tiền thu nhập ròng của các luồng tài chính này sẽ được so sánh với luồng chi phí đầu tư bỏ ra ban dầu và xem xét sự bù đắp đó

có thoả đáng hay không Bên cạnh đó, thẩm định tài chính dự án đầu tư còn

tiến hành phân tích tài chính dự án qua các năm hoạt động để ngành đánh giá tinh hình tài chính, chất lượng hoạt động, các rủi ro để có biện pháp khắc phục kịp thời, hữu hiệu.

Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư :

Thẩm định tài chính dự án đầu tư

Tổng vốn đầu

tư Các nguồn tài trợ phân tích tài chính Bảng tài chính, Đánh giá tài chính năng trả nợ Cân đối khả

Đánh giá tài chính

Khả năng sinh lợi Khả năng hoàn vốn Mức độ rủi ro

Trang 10

- Giá trị hiện tại thuần

- Chỉ số doanh lợi

- Tỉ lệ hoàn vốn nội bộ

- Tỉ lệ vốn tự có/VĐT

- Thời gian hoàn vốn

- Thời gian hoàn trả vốn

Một là: Xác định tổng nhu cầu vốn đầu tư (VĐT) cho dự án Khi một dự

án đầu tư đưa đến Ngân hàng xin vay thì dự án đó được thông qua nhiều cấp đánh giá, phê duyệt, tổng VĐT đươc xác định Tuy nhiên, Ngân hàng thương mại vẫn xem xét lại trên cơ sở thẩm định của Ngân hàng Điều này là rất quan trọng vì khi xác định được một lượng vốn đầu tư vừa đủ cho dự án sẽ tạo điều kiện được thực hiện một cách thuận lợi thông suốt, từ đó nâng cao tính hiệu quả của dự án Vốn đầu tư thiếu sẽ gây khó khăn cho việc thi công cũng như các hoạt động của dự an sau này Ngược lại, thừa vốn sẽ gây lãng phí vốn, làm giảm hiệu quả tài chính của dự án gây thiệt hại cho nền kinh tế.

Tổng vốn đầu tư cần thiết cho một doanh nghiệp bao gồm:

Vốn đầu tư cố định:

- Chi phí ban đầu: mặt đất, mặt nước.

- Giá trị nhà xưởng và vật kiến trúc.

- Chi phí xây dựng mới hoặc cải tạo nhà xưởng…

- Chi phí về máy móc thiết bị, phương tiện vận tải…

- Chi phí trước vận hành.

Vốn lưu động ban đầu:

Là các chi phí để tạo ra tài sản cố định ban đầu, các điều kiện để dự án có thể đi vào hoạt động bình thường theo các điều kiện kinh tế kỹ thuật dự tính gồm:

- Dự trữ sản xuất

- Dự trữ cho bán thành phẩm, thành phẩm tồn kho

- Các khoản thuộc quỹ tiền mặt

Trang 11

Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể của từng dự án mà có thể

có hoặc không có, có ít hay có nhiều về vốn lưu động ban đầu

Hai là: Xem xét các nguồn tài trợ cho dự án khả năng đảm bảo từ mỗi

nguồn, từ đó xác định số vốn mà Ngân hàng phải tài trợ

Các nguồn tài trợ cho dự án có thể do ngân sách nhà nước cấp phát, NH cho vay, vốn liên doanh, vốn nước ngoài … vì vậy, khi thẩm định cơ cấu nguồn vốn đầu tư, Ngân hàng cần làm rõ vốn đầu tư cần thiêt từ từng nguồn để đi sâu tìm hiểu khả năng hiện thực của các nguồn đó Đối với các dự án được ngân sách nhà nước hỗ trợ vốn một phần hay cấp phát thì cần xem xét các cam kết đảm bảo các cấp có thẩm quyền đối với ngân sách.

Đối với các nguồn vốn vay từ các Ngân hàng khác cần xem xét độ tin cậy

về khả năng cho vay của các Ngân hàng đã cam kết cho vay Nếu là vốn tự có thì Ngân hàng cần kiểm tra, phân tích tình hình tài chính và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 3 năm trước đây và hiện tại chứng tỏ rằng cơ sở đã, đang và sẽ tiếp tục hoạt động có hiệu quả, có tích luỹ để đảm bảo cho cung cầu vốn để thực hiện dự án.

Ở những dự án có vốn vay nước ngoài, Ngân hàng tập trung xem xét các điều kiện cho vay: lãi xuất cố định thả nổi, các loại chi phí vay vốn, thời gian cho vay và ân hạn, phương thức và kĩ thuật chuyển vốn, hoàn trả vốn và lãi vay.

Về vốn đầu tư phải được thưc hiện đúng tiến độ ghi trong dự án để đảm bảo tiến độ thực hiện các công việc chung của dự án vừa để tránh ứ đọng vốn,

do đó, các nguồn tài trợ không chỉ được xem xét về mặt số lượng mà cả về thời đIểm được nhận tài trợ.

Sau khi kiểm tra tính hiện thực của các nguồn vốn, xác định lịch trình rút vốn từ các nguồn khác, Ngân hàng thương mại sẽ xác định được số vốn mà Ngân hàng cần phải tài trợ và kế họch bỏ vốn của mình

Ba là: Xem xét dự án các bảng tài chính và phân tích tài chính

Ở nội dung này, Ngân hàng thương mại sẽ thẩm định tính chính xác, hợp

lí, hợp lệ của các bảng dự trù tài chính Cơ sở để xem xét là dụa trên nội dung của luận chứng kinh tế kĩ thuật, các chỉ tiêu định mức kinh tế kĩ thuật của ngành do Ngân hàng ban hành hoặc do các cơ quan chức năng chuyên môn công bố và dựa trên kết quả thẩm định các mặt thị trường, tổ chức, kinh tế xã hội của Ngân hàng

Trang 12

Các bảng tài chính được thẩm định thông thường bao gồm:

- Bảng dự trù chi phí sản xuất

- Bảng dự trù lỗ lãi

- Bảng dự trù tổng kết tài sản

- Bảng dự trù cân đối thu chi

Trên cơ sở thẩm định được tính chính xác hợp lý của bảng này, Ngân hàng thương mại tiến hành phân tích tài chính dự án để xác định tình hình tài chính hiệu quả hoạt động của dự án qua các năm và thường sử dụng các phương pháp sau:

Ngày đăng: 09/10/2013, 07:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng dự trù cân đối thu - chi: - NGÂN HÀNG NGOẠI TH¬ƯƠNG VỚI HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Bảng d ự trù cân đối thu - chi: (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w