Cách đây 100 năm, thậm chí con người vẫn chưa có khái niệm về dầu nhờn. Tất cả các loại máy móc lúc bấy giờ đều được bôi trơn bằng dầu mỡ lợn và sau đó dùng dầu ôliu. Khi dầu ôliu khan hiếm thì người ta chuyển sang sử dụng các loại dầu thảo mộc khác. Khi ngành chế biến dầu mỏ ra đời, sản phẩm chủ yếu tại các nhà máy chế biến dầu mỏ là dầu hỏa, phần còn lại là mazut (chiếm 70 – 90 %) không được sử dụng và coi như bỏ đi. Nhưng khi ngành công nghiệp dầu mỏ phát triển thì lượng cặn mazut càng ngày càng lớn, buộc con người phải nghiên cứu để sử dụng nó vào mục đích có lợi. Lúc đầu người ta lấy cặn dầu mỏ pha thêm vào dầu thảo mộc hoặc mỡ lợn với tỉ lệ thấp để tạo ra dầu bôi trơn, nhưng chỉ ít lâu sau người ta đã biết dùng cặn dầu mỏ để chế tạo ra dầu nhờn. Dầu nhờn là sản phẩm không thể thiếu trong đời sống con người. Nó được dùng để bôi trơn cho các thiết bị máy móc, động cơ trong công nghiệp và dân dụng . Nó làm giảm ma sát cũng như bảo vệ thiết bị khỏi tác động bên ngoài. Duy trì tính ổn định của động cơ. Ngày nay với sự phát triển công nghiệp, giao thông, các động các động cơ ngày càng tối ưu hóa. Do vậy dầu nhờn cũng đang cải thiện để đáp ứng sự phát triển đó.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Cách đây 100 năm, thậm chí con người vẫn chưa có khái niệm về dầu nhờn.Tất cả các loại máy móc lúc bấy giờ đều được bôi trơn bằng dầu mỡ lợn và sau đódùng dầu ôliu Khi dầu ôliu khan hiếm thì người ta chuyển sang sử dụng các loạidầu thảo mộc khác
Khi ngành chế biến dầu mỏ ra đời, sản phẩm chủ yếu tại các nhà máy chếbiến dầu mỏ là dầu hỏa, phần còn lại là mazut (chiếm 70 – 90 %) không được sửdụng và coi như bỏ đi Nhưng khi ngành công nghiệp dầu mỏ phát triển thì lượngcặn mazut càng ngày càng lớn, buộc con người phải nghiên cứu để sử dụng nó vàomục đích có lợi Lúc đầu người ta lấy cặn dầu mỏ pha thêm vào dầu thảo mộchoặc mỡ lợn với tỉ lệ thấp để tạo ra dầu bôi trơn, nhưng chỉ ít lâu sau người ta đã biếtdùng cặn dầu mỏ để chế tạo ra dầu nhờn
Dầu nhờn là sản phẩm không thể thiếu trong đời sống con người Nó đượcdùng để bôi trơn cho các thiết bị máy móc, động cơ trong công nghiệp và dân dụng
Nó làm giảm ma sát cũng như bảo vệ thiết bị khỏi tác động bên ngoài Duy trì tính
ổn định của động cơ
Ngày nay với sự phát triển công nghiệp, giao thông, các động các động cơngày càng tối ưu hóa Do vậy dầu nhờn cũng đang cải thiện để đáp ứng sự phát triển
đó
Trang 2CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DẦU NHỜN
I Khái niệm
Dầu nhờn được chế luyện từ dầu mỏ, nó có thể có màu đen nâu hay màu lục Phạm vi độ sôi khoảng 350°C và tỉ trọng d= 0.88 - 0.95
II Công dụng của dầu nhờn
2.1 Bôi trơn máy
Dầu nhờn có nhiều công dụng trong đó công dụng quan trọng nhất là bôi trơncác bề mặt có chuyển động trượt giữa các chi tiết, làm giảm ma sát, do đó làm giảmtổn thất cơ giới trong động cơ nên làm tăng hiệu suất có ích của toàn động cơ
Nguyên nhân của việc giảm ma sát là do khi bôi trơn sẽ có sự thay thế masát trực tiếp giữa các chi tiết máy bằng ma sát nội tại của màng chất bôi trơn thể lỏngngăn cách các chi tiết máy Ma sát nội tại giữa các màng chất lỏng này luôn nhỏ hơnnhiều so với các dạng ma sát khác
2.2 Chống ăn mòn kim loại
2.2.1 Nguyên nhân của sự mài mòn kim loại
Nước là nguyên nhân góp phần gây nên sự rỉ sét của các chi tiết được chế tạo
từ kim loại Một thể tích nhiên liệu đốt cháy trong động cơ sinh ra một thể tích nước.Mặc dù phần lớn nước ở thể hơi và thoát ra ống xả, tuy nhiên vẫn còn một ít đọnglại trong lòng xylanh Hiện tượng này thường xảy ra khi thời tiết lạnh hay khiđộng cơ chưa được sưởi ấm, thêm vào đó các sản phẩm phụ sinh ra do nhiên liệucháy dở, ngoài ra còn các chất axit được tạo thành do sự oxi hóa dầu, vì vậy khảnăng tạo rỉ sét và ăn mòn càng trở nên trầm trọng Các chi tiết cần được bảo vệchống lại sự ăn mòn và chống rỉ
2.2.2 Chống ăn mòn kim loại của dầu nhờn
Dầu nhờn sẽ tạo một lớp màng mỏng phủ trên bề mặt các chi tiết ma sát có tácdụng chống rỉ trong thời gian ngừng hoạt động, nhất là những bộ phận ẩm ướt Ngoài
ra dầu nhờn còn có tác dụng hạn chế tối đa sự lan truyền các chất axit được sinh
ra từ các loại nhiên liệu nhiều lưu huỳnh trong động cơ diesel
2.3 Làm mát máy
2.3.1 Mục đích của việc làm mát
Việc làm mát nhằm làm giảm nhiệt độ của các chi tiết máy
2.3.2 Sự cần thiết của việc sử dụng dầu nhờn
Trang 3Nhiều người cho rằng việc làm mát động cơ hoàn toàn dựa vào hệ thống nướclàm mát Trên thực tế hệ thống nước làm mát chỉ thực hiện được 60% công việc làmmát Nước chỉ làm mát phần trên động cơ là các đỉnh xylanh, lòng xylanh và các vancòn trục khuỷu, các ổ đỡ, trục cam, các bánh răng, pittong và nhiều chi tiết khácđược làm mát bằng dầu nhờn Qua số liệu thực nghiệm cho thấy nhiệt độ cháythường là 1090 – 1650°C, những phần chính của van có thể lên tới 540 – 1095°C,nhiệt độ pittông có thể lên tới 540°C Thiếc (Sn) và chì (Pb) là hai kim loại có nhiệt
độ nóng chảy thấp, được dùng chế tạo các chi tiết trong bạc đỡ Chúng thường mềm
ra ở 180°C và nóng chảy ở 232°C (Sn) và 327°C (Pb) Vì vậy nếu như không sửdụng dầu nhờn để tản bớt nhiệt sẽ làm cho kim loại của vòng bi nóng chảy ra và bịphá hủy
2.3.3 Nguyên nhân sinh nhiệt của động cơ
Nguyên nhân sinh nhiệt chủ yếu của động cơ là do ma sát giữa các bề mặt củachi tiết bên trong động cơ và do quá trình cháy của nhiên liệu
2.3.4 Quá trình làm mát
Dầu nhờn ở trạng thái lỏng chảy qua các bề mặt ma sát và mang theo nhiệt sẽlàm mát vật liệu Chức năng làm mát đòi hỏi dầu phải chịu nhiệt cao, không bị biếnchất do tác dụng của oxy trong không khí ở nhiệt độ cao
2.4 Dầu nhờn làm kín máy
Ở một số động cơ ô tô tại vị trí piston, máy phát, bơm thủy lực làm việc ở ápsuất cao, do đó yêu cầu độ kín cao Vì vậy dầu nhờn dựa vào khả năng bámdính và tạo màng lấp kín các khe hở, bảo đảm quá trình làm việc bình thường chothiết bị
và cặn cứng
- Cặn bùn được tạo thành do sự kết hợp giữa hơi nước, bụi, sản phẩm xuống
Trang 4cấp và nhiên liệu cháy chưa hoàn toàn Cùng với thời gian cặn bùn sẽ tích tụ nhiều,đóng cục lại sẽ làm hạn chế sự lưu thông của dầu nhờn.
- Cặn cứng là sản phẩm của quá trình oxi hóa các hợp phần kém ổn định cótrong dầu tại nhiệt độ và áp suất cao Cặn cứng làm thành lớp áo cứng trêncác chitiết có nhiệt độ cao của động cơ Động cơ không thể làm việc một cách bình thườngnếu cặn cứng tích tụ nhiều trên các chi tiết của máy
Dầu nhờn với phụ gia tẩy rửa sẽ có tác dụng ngăn cản sự tích tụ của cặn bùn,cặn cứng, giữ cho bề mặt các chi tiết luôn được sạch sẽ tạo điều kiện cho động cơhoạt động tốt
2.6 Chức năng bảo vệ bề mặt
Sự tiếp xúc các chi tiết máy với các tác nhân gây ăn mòn như: oxy, độ ẩm củakhông khí, khí thải hay khí cháy từ nhiên liệu đốt trong động cơ hay các lò đốt, môitrường làm việc dẫn đến bề mặt vật liệu bị oxy hóa hay bị ăn mòn Vì vậy dầu nhờn
có tác dụng tạo lớp màng bao phủ bề mặt các chi tiết ngăn cách sự tiếp xúc với cácyếu tố môi trường
III Thành phần của dầu nhờn
Dầu nhờn thương phẩm bao gồm hai hợp phần là dầu gốc (base lubes) và phụgia (additives) Dầu gốc được sử dụng nhiều nhất là các phân đoạn dầu khoáng gốcdầu mỏ, được chế biến theo công nghệ truyền thống Ngoài ra còn có thể dùngmột số loại dầu gốc tổng hợp hay dầu gốc động thực vật
3.1 Dầu gốc chế biến từ dầu mỏ
Dầu gốc chế biến từ dầu mỏ có nhiều chủng loại Tuy vậy chúng được sản xuất
từ quy trình pha trộn trên cơ sở bốn loại nguyên liệu là:
- Phân đoạn dầu nhẹ (light fraction) : sôi trong khoảng 350 – 400°C
- Phân đoạn dầu trung bình (midle fraction): sôi trong khoảng 400 – 450°C
- Phân đoạn dầu nặng (heavy neutral): sôi trong khoảng 450 – 500°C
- Phân đoạn dầu cặn (bright stock): sôi khoảng trên 500°C
Thông thường có bốn loại dầu gốc tương ứng với bốn phân đoạn chưng cất
nói trên là : dầu gốc SN 150, dầu gốc SN 300, dầu gốc SN 450, và dầu gốc cặn BS
150.
Với: SN (Solvent Neutral – chỉ dầu trung tính làm sạch bằng dung môi).
BS (Bright Stock – dầu cặn).
Trang 5150; 300; 450 chỉ độ nhớt quy ước ở 100°F (37,8°C).
Cần lưu ý rằng bốn phân đoạn dầu nhờn với độ sôi đã chỉ ra ở trên chỉ mangtính chất tương đối Trong sản xuất, tùy thuộc loại dầu thô đem chế biến cũngnhư những yêu cầu về kĩ thuật và kinh tế người ta có thể chia bốn phân đoạn dầunhờn theo những phạm vi độ sôi khác nhau sao cho hợp lý và kinh tế nhất
3.1.1 Thành phần hydrocacbon của dầu gốc
Thành phần chủ yếu của dầu bôi trơn là các hợp phần hydrocacbon, bao gồmcác nhóm khác nhau:
a Nhóm hydrocacbon naphtalen – parafin
Đây là nhóm hydrocacbon chủ yếu có trong dầu bôi trơn, hàm lượng của chúng
có thể lên tới 40 – 80% tùy thuộc loại dầu mỏ Nhóm này có cấu trúc chủ yếu là
hydrocacbon vòng naphtalen, có kết hợp với nhánh alkyl hoặc iso-alkyl Số cacbon
trong phân tử có thể từ 20 – 70 nguyên tử cacbon Loại hydrocacbon này có tính bôitrơn tốt, có tính ổn định hóa học tốt, do đó chúng là thành phần tốt của dầu bôitrơn
Ngoài ra còn có các hydrocacbon dạng n-parafin và iso-parafin với hàm
lượng không lớn
b Nhóm hydrocacbon thơm và naphtalen thơm
Nhóm này bao gồm các hợp chất trong dãy đồng đẳng của benzen, naphtalen.Đôi khi còn có đồng đẳng của phenantren và antraxen Một hợp phần nữa là cáchydrocacbon hỗn tạp, bao gồm trong phân tử cả vòng thơm và naphtalen Nhómhydrocacbon này dễ bị oxy hóa tạo ra các hợp chất keo nhựa, đồng thời có tính bôitrơn thay đổi nhiều theo nhiệt độ, do đó chúng là hợp phần làm giảm chất lượng dầuthương phẩm
c Nhóm hydrocacbon rắn
Các hydrocacbon rắn có trong nguyên liệu sản xuất dầu bôi trơn khoảng 40 –50% Phần lớn những hợp chất này được loại khỏi dầu bôi trơn nhờ quy trình tách lọc parafin Tùy kĩ thuật tách lọc mà nhóm hydrocacbon rắn này được tách triệt để hay không, nhưng dù sao chúng vẫn còn tồn tại trong dầu với hàm lượng nhỏ sự có mặt của nhóm hydrocacbon này làm tăng nhiệt độ đông đặc, giảm khả năng sử dụng dầu ở nhiệt độ thấp, nhưng lại làm tăng tính ổn định của độ nhớt theo nhiệt độ và tính ổn định chống oxi hóa
Trang 6Nhóm này có hai loại hydrocacbon rắn là parafin rắn có thành phần chủ yếu làalkan có mạch cacbon lớn hơn 20 và xerezin là hỗn hợp các hydrocacbonnaphten có mạch nhánh alkyl dạng thẳng hoặc dạng nhánh và một lượng không đáng
kể hydrocacbon rắn có vòng thơm và mạch nhánh alkyl
Ngoài những thành phần chủ yếu kể trên trong dầu bôi trơn còn có các hợp chấthữu cơ chứa lưu huỳnh, nitơ, oxy tồn tại ở các hợp chất nhựa, asphalten Đây lànhững thành phần làm giảm chất lượng của dầu bôi trơn, chúng có màu sẫm, dễ bịbiến chất, tạo cặn trong dầu khi làm việc ở nhiệt độ cao và áp suất cao Tuy nhiên
sự có mặt của chúng với hàm lượng nhỏ sẽ làm tăng tính bám dính của dầu nhờn đốivới bề mặt kim loại giúp cho khả năng chống ăn mòn, mài mòn các chi tiết máy
ổn định nhiệt không cao, khả năng làm việc ở nhiệt độ thấp không tốt, không đápứng đòi hỏi bôi trơn tốt trong phạm vi nhiệt độ rộng,… Do đó từ những năm 30của thế kỷ 20, người ta đã đề xuất việc sử dụng một số hợp chất hữu cơ để bôi trơn,
đó là dầu nhờn tổng hợp
Nhờ tính ưu việt của dầu nhờn tổng hợp là có thể làm việc trong phạm vi nhiệt
độ rộng hơn, trơ về mặt hóa học, ít tiêu hao, tiết kiệm năng lượng, không gây độc hại,
…mà dầu nhờn tổng hợp ngày càng có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực khácnhau như dùng làm dầu nhờn động cơ, dầu bánh răng,…
Dầu nhờn tổng hợp gồm bốn nhóm chủ yếu là hydrocacbon tổng hợp, các estehữu cơ, các este photphat và các polyglycol
3.2.1 Nhóm hydrocacbon tổng hợp
Hydrocacbon tổng hợp được sản xuất nhờ quá trình polyme hóa các olefin,alkyl hoá các olefin hay các clo – parafin bằng benzen, ngưng tụ - khử clo các dẫnxuất clo – parafin, trên thực tế thường dùng các chất như polyisobuten, các oligomecủa các olefin, các polyalkylbenzen… Bản chất hóa học của chúng là các
Trang 7hydrocacbon khá tinh khiết.
Hydrocacbon tổng hợp là loại dầu tổng hợp phát triển nhanh nhất, chúng thườngđược sản xuất từ các nguyên liệu lấy từ dầu thô Khác với dầu bôi trơn gốc khoáng,các hydrocacbon có giới hạn sôi hẹp, nhiệt độ đông đặc thấp, độ nhớt ít thay đổi theonhiệt độ Về chất lượng nhóm dầu tổng hợp này không thua kém dầu chế biếnbằng công nghệ hydrocracking Ngoài ra khả năng tiếp nhận phụ gia của chúngkhá tốt Một trong những loại dầu tổng hợp thuộc nhóm này được dùng phổ biến làdầu polyalphaolefin (PAOs) dùng bôi trơn trong động cơ ô tô và trong công nghiệp,rất phổ biến ở Mỹ và Châu Âu
3.2.2 Nhóm các este hữu cơ
Các este hữu cơ dùng làm dầu nhờn tổng hợp bao gồm các este diaxit và cáceste polyol có công thức hóa học như sau:
Các este polyol được điều chế từ polyglycol và monoaxit no Các axit điểnhình được dùng có từ 5 – 10 nguyên tử cacbon lấy từ nguồn dầu động thực vật Dầutổng hợp gốc este polyol có nhiệt độ đông đặc -30 tới -70°C, chỉ số độ nhớt
120 – 160, độ bền nhiệt khá cao Chúng được dùng phổ biến nhất để pha chế
Trang 8dầu máy bay phản lực kiểu mới, pha chế dầu động cơ ôtô, máy nén khí,…
3.2.3 Nhóm este photphat
Ưu điểm của este photphat là tính chịu nhiệt cao hơn nhiều so với dầu khoáng
và tính bôi trơn cũng tốt hơn Một lượng đáng kể sản phẩm này được dùng làm chấtbôi trơn cho máy nén những nơi ở nhiệt độ cao, tránh sự bén lửa thường xảy ra đốivới những loại dầu khoáng thông thường Cấu trúc điển hình của este photphatnhư sau:
3.2.4 Nhóm polyalkyl glycol
Nhóm polyalkyl glycol (PAGs) là những hợp chất polyme được tổng hợp trên
cơ sở các monome, mà chất đơn giản nhất trong nhóm này là etylen glycol, ngoài racòn có những polyme của etylen hoặc propylen oxit hoặc của cả hai Cũng có dạngpolyglycoete như:
H – ( OCH2 – CH2)n – OHCác polyalkyl glycol có hai loại là tan trong nước và không tan trong nướcPolyalkyl glycol tan trong nước được dùng rộng rãi làm dầu phanh (dầu thắng)thủy lực, làm chất lỏng thủy lực chịu lửa trong gia công cắt gọt kim loại, trong chếbiến cao su tổng hợp…
Polyalkyl glycol không tan trong nước dùng pha chế các loại dầu thủy lực côngnghiệp, dầu bôi trơn các máy nén lạnh kiểu trục vít…Chúng được sử dụng tốt ở nhiệt
độ môi trường thấp, đồng thời cũng đảm bảo bôi trơn ở nhiệt độ rất cao
Ngoài ra còn có các nhóm dầu tổng hợp khác như các hợp chất chứa halogenchủ yếu là: flo, clo, các hợp chất hữu cơ chứa silic như: este silicat, silicon và silan,các amin thơm, những dẫn xuất của cacbamit, các hợp chất dị vòng chứa nitơ, bo,photpho…Tóm lại dầu nhờn gốc tổng hợp ngày càng phát triển về chủng loại và
Trang 9tăng nhanh về khối lượng sử dụng.
IV Phân loại dầu nhờn
4.1 Phân loại dầu nhờn theo độ nhớt [5]
Theo phương pháp này, các nhà sản xuất dầu nhớt thống nhất dùng cách phânloại của hiệp hội kỹ sư ôtô Mỹ SAE (Society of Automotive Engineers) Cách phânloại của SAE tùy thuộc vào sản phẩm dầu đó là đơn cấp hay đa cấp Dầu đa cấp có
độ nhớt thỏa mãn ở nhiều điều kiện nhiệt độ khác nhau còn dầu đơn cấp chỉ đáp ứng
ở một nhiệt độ nào đó
"10W-30" của Castrol được bán ở Mỹ
Hệ thống phân loại của SAE khá phức tạp, nó liên quan tới nhiều khái niệmkhác nhau Đối với dầu đa cấp, sau chữ SAE là các ký hiệu như 5W, 10W hay15W, 20W Những số đứng trước chữ "W" dùng để chỉ khoảng nhiệt độ mà loạidầu động cơ đó có độ nhớt đủ để khởi động xe lúc lạnh Để xác định nhiệt độ khởiđộng theo ký tự này, chỉ cần lấy 30 trừ đi các số đó nhưng theo nhiệt độ âm Ví dụ,dầu 10W sẽ khởi động tốt ở âm 20°C, dầu 15W khởi động tốt ở âm 15°C Cácloại dầu động cơ ở các nước hàn đới thường là loại 5W, 10W, 15W nhưng đa sốcác sản phẩm ở Việt Nam chỉ là loại 15W hay 20W Mặc dù không có ý nghĩaquan trọng khi khởi động vì thời tiết ở Việt Nam thường không quá lạnh, nhưng đểđạt được các yêu cầu khởi động lạnh, các nhà sản xuất phải thêm vào các chất phụgia nên dầu có số càng nhỏ thì giá dầu càng cao Đứng sau chữ "W" ở loại dầu đacấp có thể là chữ 40, 50 hoặc 60 Đây là ký tự dùng để chỉ khoảng độ nhớt ở 100°Ccủa các loại dầu nhờn Thông thường, số càng lớn thì độ nhớt càng lớn và ngược lại.Với những động cơ hoạt động ở vùng nhiệt độ cao, chỉ số này phải cao hơn, khoảng
Hình 1: Ký hiệu chỉ loại dầu nhờn
Trang 10trên 60 Do sự thay đổi nhiệt độ nên tùy thuộc mùa mà người ta dùng loại 40 hoặc
50 Trong mùa đông, trời lạnh, nhiệt độ động cơ thấp nên chỉ cần dùng loại nhỏ như
30, 40 Ở mùa hè, nhiệt độ động cơ cao nên có thể dùng loại 50 Do đặc tính của dầu
đa cấp nên người ta thường gọi nó là "dầu bốn mùa" Khi có chữ "W", chúng ta cóthể hiểu nó dùng được cho cả mùa đông và mùa hè
Ngoài loại đa cấp, nhiều nhà sản xuất cho ra cả loại dầu đơn cấp và chỉ có kýhiệu như SAE 40, SEA 50 Loại dầu này thường được dùng cho các loại động cơ 2
kỳ, máy nông nghiệp, công nghiệp
4.2 Phân loại dầu theo tính năng
Khi phân loại theo tiêu chuẩn này, các nhà sản xuất thống nhất phân theo tiêuchuẩn của Viện dầu mỏ Mỹ API (American Petroleum Institute) API phân ratheo cấp S (Service) dùng để dành dầu cho động cơ xăng và C (Commercial) cho cácđộng cơ diesel Với động cơ xăng, API phân ra nhiều loại với thứ tự tiến dần từ SA,
SB, SC tới mới nhất là SM Đối với động cơ diesel, API chia thành CA, CD, CC tới
CG, CH và CI Càng về sau, chất lượng sản phẩm càng tốt do các nhà sản xuất phảithêm vào những chất phụ gia đặc biệt để thích nghi với những công nghệ động cơmới
4.3 Phân loại theo ý nghĩa sử dụng
Theo ý nghĩa sử dụng, dầu nhờn có hai loại chính đó là:
- Dầu nhờn sử dụng cho mục đích bôi trơn (gọi là dầu động cơ)
- Dầu nhờn không sử dụng cho mục đích bôi trơn (dầu công nghiệp)
Trong thực tế dầu động cơ chiếm một tỉ lệ khá lớn trong công nghiệp sảnxuất dầu bôi trơn nói chung (khoảng 40%) và được sử dụng phổ biến
V Các chỉ tiêu chất lượng của dầu nhờn
Yêu cầu phẩm chất của dầu nhờn
- Dầu nhờn phải bôi trơn tốt trong mọi điều kiện
- Độ nhớt ít thay đổi theo nhiệt độ và áp suất
- Có tính ổn định chống oxy hóa tốt
- Không có lẫn tạp chất và nước
5.1 Khối lượng riêng và tỉ trọng
Khối lượng riêng (Density) đo bằng g/cm3 hay kg/m3 là khối lượng củamột đơn vị thể tích Tỉ trọng (relative density) là tỉ số khối lượng riêng của một