1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Bách khoa toàn thư mở

91 543 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 767,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tên gọi quốc tế của biển Đông ra đời từ nhiều thế kỷ trước, là biển Nam Trung Hoa vì thời bấy giờ Trung Quốc là nước rộng lớn nhất, phát triển nhất, nổi tiếng nhất trong khu vực và đã có

Trang 1

Biển Đông là một biển rìa lục địa và là một phần của Thái Bình Dương, trải rộng từ Singapore tới eobiển Đài Loan và bao phủ một diện tích khoảng

biển Philippines, biển San Hô và biển Ả Rập Vùng

chấp và xung đột giữa

Tên gọi phổ biến nhất của biển này trong hầu hết các ngôn ngữ thường mang ý nghĩa là vùng biển nằm ở phía nam Trung Quốc

海, Hán văn giản thể: 涨海), "Phí Hải" (Hán văn:

Hải" (南海) Hiện tại "Nam Hải" là tên gọi quan phương của biển này ở Trung Quốc Từ thời cận đại, do tên gọi của biển này trong nhiều ngôn ngữ mang ý nghĩa là biển nằm ở phía nam Trung Quốc

tên gọi "Nam Trung Quốc Hải" (Hán văn phồn

南海, Hán văn giản thể: 中国南海)

Trang 2

Philippines gọi là biển Luzon (theo tên hòn đảo

lớn Luzon của Philippines) hoặc biển Tây

Philippines[1]

Tại Việt Nam biển này thường được gọi là biển

Đông, ý là vùng biển nằm ở phía đông Việt Nam

Do tại Trung Quốc "biển Đông" (Đông hải) được

để tránh lẫn lộn hai khái niệm "biển Đông" khác nhau này

Tên gọi quốc tế của biển Đông ra đời từ nhiều thế

kỷ trước, là biển Nam Trung Hoa vì thời bấy giờ

Trung Quốc là nước rộng lớn nhất, phát triển nhất, nổi tiếng nhất trong khu vực và đã có giao thương

nhiều biển, đại dương vốn căn cứ vào vị trí của chúng so với các vùng đất gần đó cho dễ tra cứu, không có ý nói về chủ quyền Có thể kể ra các thí

Quốc và Nhật Bản

Ở phía nam: giới hạn phía đông và phía nam của eo

biển Singapore và eo biển Malacca, phía tây đến

102,967°Đ), trải xuống bờ biển phía đông đảo

106°05′Đ 3,233°N 106,083°Đ) rồi đến Tanjong

Trang 3

Nanka - cực tây của đảo Banka - băng qua đảo này

Ở phía đông: xuất phát từ Tanjong Sambar, đi qua

bờ phía tây đảo Borneo đến điểm phía bắc Tanjong Sampanmangio, rồi theo một đường thẳng đến các

Secam, hướng đến điểm phía tây của đảo Bancalan

và đến mũi Buliluyan (điểm tây nam của đảo

Palawan), băng qua đảo này đến điểm phía bắc mũi

bắc của đảo Luzon), rồi sau đó đi dọc theo một

đường thẳng nối mũi này với điểm phía đông của đảo Balintang (20°B) và điểm phía đông của đảo

Y'Ami (21°05'B), rồi từ đây hướng đến Garan Bi

qua đảo này đến điểm đông bắc của Santyo (25°B)

Ở phía bắc: từ Fuki Kaku - điểm phía bắc của đảo

Trang 4

về phía tây dọc theo vĩ tuyến 25°24'B tới bờ biển

Phúc Kiến

Ở phía tây: đất liền châu Á, giới hạn phía nam của

vịnh Thái Lan và bờ biển phía đông bán đảo Mã Lai

kỷ băng hà gần đây nước biển đã hạ thấp xuống

địa Châu Á

Các nước và lãnh thổ có biên giới với vùng biển

lục Trung Quốc, Ma Cao, Hồng Kông, Đài Loan,

Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia,

Singapore, Thái Lan, Campuchia, và Việt Nam.Nhiều con sông lớn chảy vào biển Đông gồm các

(Phúc Kiến), sông Hồng, sông Mê Kông, sông

Rajang, sông Pahang, và sông Pasig

Địa danh trong biển Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Vịnh Hạ Long thuộc vịnh Bắc Bộ

Vịnh Bắc Bộ là phần biển Đông giữa miền Bắc

Trang 5

phía đông là 2 tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông của

Hải Nam của Trung Quốc Trong vịnh có hàng

Hạ Long được UNESCO xếp loại là di sản thiên nhiên thế giới Đảo Bạch Long Vĩ thuộc Việt Nam

ở giữa vịnh, có diện tích khoảng 2,5 km²

Đông đã được nhiều chính quyền Việt Nam liên tụcthực hiện chủ quyền từ nhiều thế kỷ qua Quần đảo Hoàng Sa do Trung Quốc dùng vũ lực chiếm giữ

Tranh chấp chủ quyền, một phần hay toàn bộ, cũng

Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Indonesia,

Brunei và Đài Loan

Những lý do chính để các nước tranh chấp chủ

quyền hai quần đảo trên là:

 Diện tích lãnh hải với đặc quyền kinh tế và

giao thông hàng hải lớn trên thế giới, có nguồnthủy sản và tiềm năng dầu khí

Hiện nay sự tranh chấp đang được các bên thương lượng đàm phán vì sự hòa bình và ổn định trong khu vực để phát triển kinh tế

Các đảo và đá ngầm[sửa | sửa mã nguồn]

Trang 6

Bài chi tiết: Các đảo ở Biển Đông và Danh sách các đảo ở Biển Đông

(Pratas Islands) hiện do Đài Loan quản lí nhưng

Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền

Ngãi, Việt Nam khoảng 200 km, cách đảo Hải

Nam, Trung Quốc 235 km có quần đảo Hoàng Sa

với 18 đảo, cồn cát và 22 đá, bãi (theo giáo sư Sơn

nhân dân Trung Hoa nhưng Việt Nam và Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền

Bên trong vùng biển, có hơn 200 đảo và bãi đá

Trường Sa Quần đảo Trường Sa trải dài trên một vùng rộng 810 km, dài 900 km với khoảng 175 thực thể địa lí đã được xác định; hòn đảo lớn nhất

điểm cao nhất là 3,8 mét

Rong ở đông bắc quần đảo Trường Sa-cách biệt

Palawan-hiện đang nằm sâu 20 m dưới mực nước biển nhưng trước kia nó từng là một hòn đảo trước

Trang 7

khi bị mực nước biển dâng lên ở thời băng hà cuối cùng làm chìm ngập.

phía đông quần đảo Hoàng Sa có các bãi và núi

ngầm/cạn Truro và bãi cạn Scarborough

Macclesfield, gần bờ biển Philippines

đá ngầm Bãi này sâu khoảng 15 m

sâu 18,2 m

Địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Miocen sớm (32-17 tr năm) bằng cơ chế giãn đáy đại dương, tiếp tục phát triển như một biển rìa

Tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một vùng biển có ý nghĩa địa chính trị vô

thứ hai trên thế giới, trong khi nếu tính theo tổng lượng hàng hoá thương mại chuyển qua hàng năm,

Trang 8

eo biển Lombok Hơn 1,6 triệu m³ (10 triệu thùng)

dầu thô được chuyển qua eo biển Malacca hàng

khoảng 1,2 km³ (7,7 tỷ thùng), với ước tính tổng

tự nhiên được ước tính khoảng 7.500 km³

Theo những nghiên cứu do Sở môi trường và các nguồn lợi tự nhiên Philippines, vùng biển này

chiếm một phần ba toàn bộ đa dạng sinh học biển thế giới, vì vậy nó là vùng rất quan trọng đối với hệsinh thái

Tranh chấp biển[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tranh chấp chủ quyền Biển Đông

Biển Đông, các khu vực và tài nguyên tranh chấp giữa các nước

Có rất nhiều tranh cãi về lãnh hải trên vùng Biển

200 hải lí (370,6 km) từ lãnh hải của họ, tất cả các nước quanh vùng biển có thể đưa ra tuyên bố chủ quyền với những phần rộng lớn của nó Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã tuyên bố chủ quyền hầu

Trang 9

như toàn bộ vùng biển Những báo cáo gần đây chothấy CHND Trung Hoa đang phát triển một nhóm

tàu sân bay để bảo vệ những đường vận chuyển nhiên liệu ở Biển Đông Những vùng có nguy cơ tranh chấp gồm:

ngầm Scarborough

phía tây Quần đảo Trường Sa Một số hay toàn

bộ quần đảo Trường Sa đang bị tranh chấp bởi

khác

 Quần đảo Hoàng Sa đang bị tranh chấp bởi Việt Nam và CHND Trung Hoa; CHND TrungHoa quản lý một phần quần đảo từ năm 1956

và toàn bộ quần đảo từ năm 1974 đến nay

Johore và Eo biển Singapore

Cả Trung Hoa và Việt Nam đều theo đuổi các

tuyên bố chủ quyền một cách mạnh mẽ Quần đảo

Trang 10

Sa là nơi đã xảy ra xung đột hải quân khiến hơn bảy mươi lính thủy Việt Nam đã bị giết hại ở phía nam đá Gạc Ma vào tháng 3 năm 1988 Các nước tranh chấp thường xuyên thông báo về các vụ va chạm giữa các tàu hải quân.

ASEAN nói chung, và Trung Quốc nói riêng luôn muốn đảm bảo rằng những tranh chấp bên trong Biển Đông sẽ không leo thang trở thành xung đột

quân sự Vì vậy, các cơ cấu phát triển chung (Joint

Development Authorities) đã được lập ra tại các

Branca hay Pulau Batu Putih của cả Singapore và

Tòa án phán quyết theo chiều hướng có lợi cho Singapore

Biển Đông Quốc gia và vùng lãnh

Trang 11

BienDong.Net: Việt Nam là một quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, giữ vị trí chiến lược về địa - chính trị và địa - kinh tế Với bờ biển dài hơn 3.260 km trải dài từ Bắc tới Nam, từ lâu haiquần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã là của người Việt Lịch sử các triều đại cùng hoạt động liên tục của người Việt hàng trăm năm trước đến nay trên hai quần đảo này cũng như theo tập quán và luật pháp quốc tế là những cơ sở để khẳng định điều đó.

Vùng biển VN có khoảng 3.000 đảo lớn nhỏ và hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa được phân bố khá đều theo chiều dài bờ biển của đất

nước

Một số đảo ven bờ còn có vị trí quan trọng được sửdụng làm các điểm mốc quốc gia trên biển để thiết lập đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam, từ đó xácđịnh vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, làm cơ

sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển

Biển Đông là vùng biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới (sau Địa Trung Hải), chiếm khoảng ¼ lưu

lượng tàu hoạt động trên các vùng biển toàn cầu

Là tuyến hàng hải huyết mạch mang tính chiến

lược của nhiều nước trên thế giới và khu vực, nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, châu Âu, Trung Đông với châu Á và giữa các nước châu Á với nhau Cùng với đất liền, vùng biển VN là một

Trang 12

khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, là ngư trường giàu có nuôi sống hàng triệu ngư dân và gia đình từbao đời qua, là một vùng kinh tế nhiều thập kỷ pháttriển năng động.

Bên cạnh nhiều đảo lớn nhỏ khác, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã thuộc về lãnh thổViệt Nam Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 30 đảo,

đá, cồn san hô và bãi cạn, nằm ở khu vực biển giữa

có diện tích khoảng 30.000km2, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi - Việt Nam) khoảng 120 hải lý Đoạn biển từ Quảng Trị chạy tới Quảng Ngãi đối mặt vớiquần đảo Hoàng Sa luôn hứng gió mùa Tây Nam hay Đông Bắc nên thường có nhiều thuyền bị hư hại khi ngang qua đây vào mùa này Các vua chúa Việt Nam thời xưa hay chu cấp cho các tàu thuyền

bị nạn về nước, nên họ thường bảo nhau tìm cách tạt vào bờ biển Việt Nam để nhờ cứu giúp khi gặp nạn Chính vì thế, Hoàng Sa từ rất sớm đã được người Việt biết tới và xác lập chủ quyền của mình Quần đảo Hoàng Sa chia làm hai nhóm An Vĩnh vàTrăng Khuyết (hay còn gọi là Lưỡi Liềm) An Vĩnhnguyên là tên một xã thuộc Quảng Ngãi, theo Đại Nam Thực lục Tiền biên quyển 10: "Ngoài biển xã

An Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi có hơn

100 cồn cát chiều dài kéo dài không biết tới mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn lý Hoàng Sa châu Hồi quốc sơ đầu triều Nguyễn đặt đội Hoàng Sa gồm 70

Trang 13

người lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm cứ đến tháng ba cưỡi thuyền ra đảo, ba đêm thì tới nơi ”.

Quần đảo Trường Sa nằm giữa Biển Đông về phía Đông Nam nước ta, phía Nam quần đảo Hoàng Sa, cách Cam Ranh (Khánh Hoà - Việt Nam) 243 hải

lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) 585 hải lý và đến đảo Đài Loan khoảng 810 hải lý Quần đảo Trường Sa gồm trên 100 đảo lớn nhỏ và bãi san hô với diện tích vùng biển rộng khoảng 410.000 km2,

phần nổi của đảo khoảng 3km2, chia làm 8 cụm (Song Tử, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bình Nguyên) Với vị trí giữa Biền Đông, quần đảo Trường Sa có lợi thế về dịch vụ hàng hải, hậu cần nghề cá trong khu vực, đồng thời cũng là một địa chỉ du lịch hấp dẫn

Điều kiện thiên nhiên trên thực tế đã gắn liền với những hoạt động xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Theocác nhà nghiên cứu, nếu mực nước biển hạ xuống chừng 600m-700m thì Hoàng Sa sẽ dính vào Việt Nam như một khối thịt liền và cách Trung Quốc bằng một vùng biển sâu (Krempf, Giám đốc Hải học Viện Đông Dương, khảo sát năm 1925) Các sinh vật trên các đảo và dưới biển thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như rùa, đời mồi, vít, đồn đột, ốc tai voi, ốc hương đều tương tự như các

Trang 14

đảo ven biển Việt Nam như cù lao Ré Các khảo sát

từ thập niên 40 của thế kỷ XX cũng cho thấy các thú vật sống trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa đều là các loài đã gặp ở Việt Nam, không có nhiều liên hệ với sinh vật ở Trung Quốc Các khảo sát về thảo mộc cũng có kết quả tương tự, hầu hết thảo mộc ở hai quần đảo này đều du nhập từ đất liền của Việt Nam như cây mù u, cây bàng có nhiều

ở cù lao Ré Các sách sử của thời Nguyễn cũng chép rõ, theo lệnh vua Minh Mạng binh lính Việt Nam đã trồng nhiều cây cối trên hai quần đảo

Hoàng Sa và Trường Sa, để ngày sau cây cối cao togiúp người đi biển nhận biết mà tránh mắc cạn Biển Đông cũng như Việt Nam nằm trong khu vực

mà các nhà sinh vật học gọi là Wallacca, là vùng đất sinh sống của các loài động vật Á Đông mà Trung Hoa nằm ngoài vùng này Tại Biển Đông không giống như Thái Bình Dương, có dòng hải lưu chảy thay đổi theo chiều gió mùa Thiên nhiên

đã tạo điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ giữa đấtliền của Việt Nam với các đảo ở Hoàng Sa và

Trường Sa Chính nhu cầu tránh bão hoặc bị nạn rồi theo dòng hải lưu, theo chiều gió tấp vào đất liền Việt Nam của các thương thuyền nước ngoài nên người Việt Nam từ lâu đã biết tới Hoàng Sa và Trường Sa và sẵn lòng cứu giúp những người bị nạn Điều đó chứng tỏ hoạt động xác lập chủ quyền

và thực thi chủ quyền trên thực tế của người Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức tự nhiên từ bao đời qua

Trang 15

Nguồn: Báo Đại Đoàn kết

Khái quát về biển đảo Việt Nam

24/08/2012 08:32:38

Việt Nam là một quốc gia ven biển nằm trongkhu vực trung tâm của Đông Nam Á Bờ biểnViệt Nam dài 3.260km, từ Quảng Ninh ở phíađông bắc tới Kiên Giang ở phía tây nam Có28/63 tỉnh, thành phố của Việt Nam nằm venbiển, chiếm 42% diện tích và 45% dân số cảnước, có khoảng 15,5 triệu người sống gần

bờ biển và hơn 175 ngàn người sống ở đảo.Tính trung bình tỷ lệ diện tích theo số km bờbiển thì cứ 100km2 có 1km bờ biển (so vớitrung bình của thế giới là 600km2 đất liền trên1km bờ biển)

Biển đảo Việt Nam có thể chia thành bốn khuvực: biển Đông Bắc (một phần vịnh Bắc bộ),nằm ở phía đông bắc Việt Nam và tiếp giápvới Trung Quốc (đảo Hải Nam), biển BắcTrung bộ (một phần biển Đông) ở phía đôngViệt Nam, biển Nam Trung bộ (một phần biểnĐông) ở phía đông nam và vùng biển TâyNam (một phần vịnh Thái Lan) nằm phía tâynam của Việt Nam tiếp giáp với Campuchia vàThái Lan

Trang 16

Vùng biển Việt Nam bao gồm vùng nội thủynằm bên trong đường cơ sở; lãnh hải có chiềurộng 12 hải lý (1 hải lý tương đương1.852km); vùng đặc quyền kinh tế và thềm lụcđịa có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơsở; riêng thềm lục địa có thể kéo dài 350 hải

lý Theo Công ước của Liên Hiệp Quốc vềLuật biển năm 1982, vùng biển Việt Nam códiện tích trên 1 triệu km2, gấp ba lần diện tíchđất liền, chiếm 30% diện tích biển Đông Nhànước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã tuyên bốchủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tàiphán quốc gia đối với các vùng biển trên Năm

1982, Chính phủ Việt Nam đã tuyên bố xácđịnh đường cơ sở thẳng ven bờ lục địa ViệtNam gồm 10 đoạn nối 11 điểm

Đảo Trường Sa lớn (thuộc quần đảo Trường

Sa, Việt Nam).

Vùng biển Việt Nam có khoảng 3.000 đảo lớnnhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa vàTrường Sa Trong đó, 84 đảo có diện tích trên1km2, 24 đảo có diện tích trên 10km2, 66 đảo

có dân sinh sống với tổng số dân là 175 nghìnngười Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia đã làmtăng giá trị kinh tế và an ninh quốc phòng đất

Trang 17

nước Các đảo có diện tích lớn nhất là: CáiBầu: 200km2, trên 21 nghìn dân; Phú Quốc:320km2, 50 nghìn dân; Côn Đảo: 56,7km2,1.640 dân; Phú Quý: 32km2, gần 18 nghìndân; Cát Bà: 149km2, trên 15 nghìn dân; Đảo

Lý Sơn: 3km2, có trên 16 nghìn dân sinhsống

Ý nghĩa kinh tế lớn nhất của đảo không chỉ làgiá trị vật chất của bản thân chúng mà còn là

vị trí chiến lược, là cầu nối vươn ra biển cả, làđiểm tựa khai thác các nguồn lợi biển, lànhững điểm tiền tiêu bảo vệ Tổ quốc Nhờ có

hệ thống đảo ven bờ được vận dụng làm cácđiểm cơ sở của hệ thống đường cơ sở thẳngnên đã tạo ra vùng nội thủy rộng lớn, do đóvùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềmlục địa cũng được mở rộng ra hướng biển Vềgiá trị văn hóa, hệ thống đảo đã tạo nênnhững cảnh quan thiên nhiên như những disản văn hóa có sức thu hút mạnh đối với dukhách (ví dụ vịnh Hạ Long)

Những đặc điểm chính của biển đảo Việt Namlà: có khí hậu nhiệt đới tạo điều kiện cho sinhvật biển phát triển và tồn tại tốt, biển có tàinguyên sinh vật và khoáng sản phong phú, đadạng và quý hiếm

Trang 18

Trên bờ biển của nước ta lại có nhiều mũi đánhô ra sát biển tạo nên các “hoành sơn thiênnhiên tráng lệ”, như đèo Ngang, đèo Hải Vân,đèo Cả Địa hình bờ biển của nước ta rất đadạng và độc đáo do được phát triển trên cácloại đất đá khác nhau trong điều kiện khí hậu

có sự phân hóa rõ rệt theo chiều bắc - nam

Đó là địa hình karst phát triển trên đá vôi ởvịnh Hạ Long và Bái Tử Long (vịnh Hạ Long

đã 2 lần được UNESCO công nhận là di sảnthế giới và đang được đề nghị mở rộng khu disản sang cả vịnh Bái Tử Long), ở Hòn Đỏ(Ninh Thuận) Địa hình “karst giả” phát triểntrên cát đỏ ở khu vực Suối Tiên - Mũi Né (BìnhThuận), “karst giả” phát triển trên đá granite ởkhu vực mũi Kê Gà và một số nơi khác ởTrung bộ Các vách đá hùng vĩ ở mũi ĐáVách, mũi Đại Lãnh, đèo Hải Vân, “gành đáđĩa” phát triển trên đá bazan

Dọc bờ biển Việt Nam xác định nhiều khu vựcxây dựng cảng, trong đó có một số nơi có thểxây dựng cảng biển nước sâu như: Cái Lân vàmột số điểm ở khu vực vịnh Hạ Long và Bái

Tử Long, Lạch Huyện, Đình Vũ, Cát Hải, ĐồSơn, Nghi Sơn, Cửa Lò, Hòn La, Vũng Áng,Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quốc, Vân Phong,Cam Ranh, Vũng Tàu, Thị Vải… Phía Nam,cảng quy mô vừa như Hòn Chông, PhúQuốc… Ngoài sự hình thành mạng lưới cảng

Trang 19

biển, các tuyến đường bộ, đường sắt dọc venbiển và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặcbiệt là các tuyến đường xuyên Á) sẽ cho phépvùng biển và ven biển nước ta có khả năngchuyển tải hàng hóa nhập khẩu tới mọi miềncủa Tổ quốc một cách nhanh chóng và thuậnlợi.

Do có bờ biển dài nên Việt Nam có nhiều bãitắm đẹp với cát mịn và sạch rải rác từ Trà Cổ(Móng Cái, Quảng Ninh) đến Bãi Nai (Hà Tiên,Kiên Giang) và nhiều bãi tắm còn rất hoang sơtrên các đảo (Ngọc Vừng, Quan Lạn ở QuảngNinh; Hòn La ở Quảng Bình, Côn Đảo, PhúQuốc,…) Đường bờ biển của nước ta rấtkhúc khuỷu, lại được các đảo che chắn (vịnh

Hạ Long và Bái Tử Long), có nhiều vũng vịnh(Vũng Áng, vịnh Đà Nẵng, An Hòa, DungQuất, Quy Nhơn, Xuân Đài, Vũng Rô, VânPhong,…) và nhiều cửa sông lớn đổ trực tiếpvào biển Đông

Trang 20

ông Nam Á, Vi t Nam có vùng bi n n i li n tuy n giao thông v n t i ển nằm trong khu vực trung tâm của ốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ền tuyến giao thông vận tải ến giao thông vận tải ận tải ải

ng bi n quan tr ng gi a n D ng v i Thái Bình D ng, đường biển quan trọng giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, ển nằm trong khu vực trung tâm của ọng giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, ữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, ột quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ương với Thái Bình Dương, ới Thái Bình Dương, ương với Thái Bình Dương,

c bi t bi n ông Vi t Nam l tuy n v n t i d u v container t

đ ển nằm trong khu vực trung tâm của à một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ến giao thông vận tải ận tải ải ầu và container từ à một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ừ các n ưới Thái Bình Dương, c khác t i Nh t B n, H n Qu c v Trung Qu c, nh ng n ới Thái Bình Dương, ận tải ải à một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của à một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, ưới Thái Bình Dương, c ang tiêu th kh i l ng n ng l ng kh ng l

đ ụ khối lượng năng lượng khổng lồ ốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ượng năng lượng khổng lồ ăng lượng khổng lồ ượng năng lượng khổng lồ ổng lồ ồ

Vi t Nam v trí có ti m n ng phát tri n kinh t bi n nh óng t u, ở vị trí có tiềm năng phát triển kinh tế biển như đóng tàu, ị trí có tiềm năng phát triển kinh tế biển như đóng tàu, ền tuyến giao thông vận tải ăng lượng khổng lồ ển nằm trong khu vực trung tâm của ến giao thông vận tải ển nằm trong khu vực trung tâm của ư đ à một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của

v n t i ận tải ải đường biển quan trọng giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, ng bi n, phát tri n c ng v công trình th y, khai thác ển nằm trong khu vực trung tâm của ển nằm trong khu vực trung tâm của ải à một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ủa

th y h i s n, khai thác t i nguyên khoáng s n bi n v d u khí, du ủa ải ải à một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ải ển nằm trong khu vực trung tâm của à một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ầu và container từ

l ch bi n v h i ị trí có tiềm năng phát triển kinh tế biển như đóng tàu, ển nằm trong khu vực trung tâm của à một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ải đải o, d ch v ị trí có tiềm năng phát triển kinh tế biển như đóng tàu, ụ khối lượng năng lượng khổng lồ đường biển quan trọng giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, ng bi n v các ng nh khác liên ển nằm trong khu vực trung tâm của à một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của à một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của quan (tin h c ng d ng) ọng giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, ứng dụng) ụ khối lượng năng lượng khổng lồ

Bi n ển nằm trong khu vực trung tâm của đải o Vi t Nam có th chia th nh b n khu v c: bi n ông B c ển nằm trong khu vực trung tâm của à một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ực trung tâm của ển nằm trong khu vực trung tâm của ắc (m t ph n v nh B c b ), n m phía ông b c Vi t Nam v ti p giáp ột quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ầu và container từ ị trí có tiềm năng phát triển kinh tế biển như đóng tàu, ắc ột quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ằm trong khu vực trung tâm của ở vị trí có tiềm năng phát triển kinh tế biển như đóng tàu, đ ắc à một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ến giao thông vận tải

v i Trung Qu c ( ới Thái Bình Dương, ốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của đải o H i Nam), bi n B c Trung b (m t ph n bi n ải ển nằm trong khu vực trung tâm của ắc ột quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ột quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ầu và container từ ển nằm trong khu vực trung tâm của ông) phía ông Vi t Nam, bi n Nam Trung b (m t ph n bi n ở vị trí có tiềm năng phát triển kinh tế biển như đóng tàu, đ ển nằm trong khu vực trung tâm của ột quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ột quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ầu và container từ ển nằm trong khu vực trung tâm của ông) phía ông nam v vùng bi n Tây Nam (m t ph n v nh Thái ở vị trí có tiềm năng phát triển kinh tế biển như đóng tàu, đ à một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ển nằm trong khu vực trung tâm của ột quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ầu và container từ ị trí có tiềm năng phát triển kinh tế biển như đóng tàu, Lan) n m phía tây nam c a Vi t Nam ti p giáp v i Campuchia v ằm trong khu vực trung tâm của ủa ến giao thông vận tải ới Thái Bình Dương, à một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của Thái Lan

Việt Nam giáp với biển ở hai phía đông và

nam Vùng biển Việt Nam là một phần của

biển Đông Bờ biển Việt Nam dài 3.260km, từ Quảng Ninh ở phía đông bắc tới Kiên Giang ở phía tây nam Tính trung bình tỷ lệ diện tích theo số km bờ biển thì cứ 100km2 có 1km bờ biển (so với trung bình của thế giới là 600km2 đất liền trên 1km bờ biển) Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và

thềm lục địa với diện tích trên 1 triệu km2

(gấp ba lần diện tích đất liền: 1 triệu

km2/330.000km2)

Trong khu vực biển Việt Nam có khoảng 4.000đảo lớn nhỏ, gần và xa bờ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm xa bờ tạo thành một phòng tuyến bảo vệ kiểm soát

và làm chủ vùng biển và hải đảo

Trang 21

Biển Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng,

là khu vực giao thông nối liền Thái Bình

Dương và Ấn Độ Dương, châu Á với châu Âu, châu Úc với Trung Đông Khu vực biển Việt Nam là một phần của biển Đông, là tuyến

đường vận tải dầu hỏa quan trọng tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc Biển Việt Nam

có vị trí giao lưu quốc tế thuận lợi và có tiềm năng phát triển ngành kinh tế biển phong phú

và đa dạng Những đặc điểm chính của biển đảo Việt Nam là: có khí hậu nhiệt đới tạo điều kiện cho sinh vật biển phát triển và tồn tại tốt,biển có tài nguyên sinh vật và khoáng sản

phong phú đa dạng và quý hiếm

Việt Nam nằm trải dài ven biển, có tới 26 tỉnh thành phố ven biển chiếm tới 42% diện tích và45% dân số cả nước, có khoảng 15,5 triệu người sống gần bờ biển và 16 vạn người sống

ở đảo Trên bờ biển của nước ta lại có nhiều mũi đá nhô ra sát biển tạo nên các "hoành sơnthiên nhiên tráng lệ", như đèo Ngang, đèo HảiVân, đèo Cả Địa hình bờ biển của nước ta rất

đa dạng và độc đáo do được phát triển trên các loại đất đá khác nhau trong điều kiện khí hậu có sự phân hóa rõ rệt theo chiều bắc-

nam Đó là địa hình karst phát triển trên đá vôi ở vịnh Hạ Long và Bái Tử Long (vịnh Hạ

Trang 22

Long đã 2 lần được UNESCO công nhận là di sản thế giới và đang được đề nghị mở rộng khu di sản sang cả vịnh Bái Tử Long), ở Hòn

Đỏ (Ninh Thuận) Địa hình "karst giả" phát triển trên cát đỏ ở khu vực Suối Tiên - Mũi Né (Bình Thuận), "karst giả" phát triển trên đá granite ở khu vực mũi Kê Gà và một số nơi khác của tỉnh khác ở Trung bộ Các vách đá hùng vĩ ở mũi Đá Vách, mũi Đại Lãnh, đèo HảiVân, "gành đá đĩa" phát triển trên đá bazan ở Phú Yên

Do có bờ biển dài nên Việt Nam có nhiều bãi tắm đẹp với cát mịn và sạch rải rác từ Trà Cổ (Móng Cái, Quảng Ninh) đến Bãi Nai (Hà Tiên,Kiên Giang) và nhiều bãi tắm còn rất hoang sơtrên các đảo (Ngọc Vừng, Quan Lạn ở Quảng Ninh; Hòn La ở Quảng Bình, Côn Đảo, Phú Quốc, v.v ) Đường bờ biển của nước ta rất khúc khuỷu, lại được các đảo che chắn (vịnh

Hạ Long và Bái Tử Long), có nhiều vũng vịnh (Vũng Áng, vịnh Đà Nẵng, An Hòa, Dung

Quất, Quy Nhơn, Xuân Đài, Vũng Rô, Vân

Phong, v.v ) và nhiều cửa sông lớn đổ trực tiếp vào biển Đông

TS TRẦN NAM TIẾN

(Trích "Hoàng Sa - Trường Sa: Hỏi và đáp",

Trang 23

NXB Trẻ năm 2011)

Năm đại dương của Trái Đất

 Ấn Độ Dương

 Bắc Băng Dương

 Đại Tây Dương

 Nam Đại Dương

 Thái Bình Dương

Bản đồ động chỉ ra các vùng nước đại dương của

Đất, Đại dương thế giới (toàn cầu) được chia thành một số các khu vực cơ bản Sự phân chia thành 5

Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Băng Dương và Nam Đại Dương; hai đại dương cuối đôi khi được hợp nhất trong ba đại dương đầu tiên

Mục từ "hải dương" dẫn đến bài này Xin đọc về

Tỉnh Hải Dương của Việt Nam tại Hải Dương.

Đại dương là một vùng lớn chứa nước mặn tạo

71% diện tích bề mặt Trái Đất (khoảng 361 triệu

kilômét vuông) được các đại dương che phủ, một khối nước liên tục theo tập quán được chia thành

Trang 24

Trên một nửa diện tích khu vực này có độ sâu trên

như mọi loại nước biển có độ mặn dao động trong khoảng từ 30 (ở vùng cận cực) tới 38 ppt (vùng nhiệt đới/cận nhiệt đới) Nhiệt độ nước bề mặt ở

xuống đến 0 °C (32 °F) ở các vùng địa cực

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù nói chung được công nhận như là các đại dương 'tách biệt', nhưng các vùng nước mặn này tạo thành một khối nước nối liền với nhau trên toàn

dương toàn cầu như là một khối nước liên tục với

sự trao đổi tương đối tự do giữa các bộ phận của nó

Các phần đại dương chính được định nghĩa một

cùng các tiêu chí khác: các phần này là (theo trật tự

Dương, Ấn Độ Dương, Nam Đại Dương (đôi khi được phân chia và tạo thành phần phía nam của Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và Ấn Độ

và Đại Tây Dương cũng có thể phân chia tiếp bởi

Trang 25

đường xích đạo thành các phần Bắc và Nam Các khu vực nhỏ hơn của đại dương được gọi là các

tại một số khối nước mặn nhỏ hơn trong đất liền và

không nối với Đại dương thế giới, như biển Aral,

Great Salt Lake (Hồ Muối Lớn) – mặc dù chúng cóthể coi như là các 'biển', nhưng thực ra chúng là các

hồ nước mặn Có 5 đại dương trên thế giới[5], trong

đó Thái Bình Dương là lớn nhất và sâu nhất, thứ hai về diện tích và độ sâu là Đại Tây Dương, tiếp theo là Ấn Độ Dương, Nam Đại Dương còn nhỏ và nông nhất là Bắc Băng Dương

Nước đại dương luôn luôn chuyển động do tác

Trăng và Mặt Trời đối với Trái Đất, sóng và hải lưu

do tác dụng của gió Các dòng bù trừ phát sinh do

sự thiếu hụt của nước Chẳng hạn nước của Địa Trung Hải bị bốc hơi rất mạnh, ít sông suối đổ vào,

do đó nước có độ mặn cao và có tỉ trọng lớn Nước

ở dưới sâu chảy từ Địa Trung Hải ra Đại Tây

Dương tạo ra sự thiếu hụt, vì thế một hải lưu bề mặt lại chảy từ Đại Tây Dương vào Địa Trung Hải

để bù vào chỗ thiếu hụt đó

Do độ che phủ bề mặt Trái Đất tới 71% nên các đạidương có ảnh hưởng lớn tới sinh quyển Sự bốc hơinước của các đại dương quyết định phần lớn lượng giáng thủy mà Trái Đất nhận được, nhiệt độ nước của các đại dương cũng quyết định phần lớn khí hậu và kiểu gió trên Trái Đất Sự sống trong lòng

Trang 26

đại dương có lịch sử tiến hóa diễn ra khoảng 3 tỷ năm trước khi có sự di chuyển của động, thực vật lên trên đất liền Lượng sự sống và khoảng cách tính từ bờ biển (yếu tố vô sinh) ảnh hưởng tới sự phân bố chính của quần xã sinh vật biển Các sinh vật như tảo, rong, rêu sinh sống trong khu vực giáp giới thủy triều (nơi đất liền gặp biển) sẽ cố định chúng vào đá vì thế chúng không bị rửa trôi bởi thủy triều Đại dương cũng là nơi sinh sống của nhiều loài và có thể phân chia thành vài đới (vùng, tầng) như vùng biển khơi, vùng đáy, vùng chiếu

Về mặt địa chất, đại dương là nơi mà lớp vỏ đại dương được nước che phủ Lớp vỏ đại dương dày trung bình khoảng 4,5 km, bao gồm một lớp trầm

không có châu lục nào Xét theo quan điểm này thì ngày nay có 3 “đại dương”: Đại dương thế giới,

biển Caspi và biển Đen, trong đó 2 “đại dương” sau

với Laurasia Địa Trung Hải có thể coi là một “đại dương” gần như riêng biệt, nối thông với Đại

của châu Phi đã đóng kín eo biển này hoàn toàn

Trang 27

l c a v o kho ng 7.000 n m tr ụ khối lượng năng lượng khổng lồ đị trí có tiềm năng phát triển kinh tế biển như đóng tàu, à một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ải ăng lượng khổng lồ ưới Thái Bình Dương, c, ch không ph i m t m ng c a áy bi n nh ứng dụng) ải ột quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm của ải ủa đ ển nằm trong khu vực trung tâm của ư

eo bi n Gibraltar ển nằm trong khu vực trung tâm của

Dương với châu Mỹ[7]

2 Đại Tây Dương Ngăn cách và châu Phichâu Mỹ với châu Á-Âu

3 Ấn Độ Dương Ngăn cách Dương[7] [8] [9] châu Phi và châu Đại

Tính chất vật lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nước biển

Diện tích của Đại dương thế giới là khoảng 361

tích của nó khoảng 1,3 tỷ kilômét khối (310 triệu

Sự mở rộng khổng lồ của đại dương sâu (những gì

Trang 28

dưới độ sâu 200m) che phủ khoảng 66% bề mặt

kilôgam, chiếm khoảng 0,023% khối lượng Trái

Một sai lầm phổ biến cho rằng nước biển có màu xanh lam chủ yếu là do bầu trời có màu xanh lam

khi được nhìn thấy với một thể tích lớn Trong khi

sự phản chiếu bầu trời có đóng góp vào biểu hiện màu xanh lam của bề mặt đại dương, nhưng nó

chủ yếu là sự hấp thụ của các hạt nhân các phân tử

tới, ví dụ đã biết duy nhất về màu sắc trong tự

nhiên tạo ra từ động lực học dao động chứ không

Nhiều thủy thủ và các nhà hàng hải chuyên nghiệp thông báo rằng đại dương thường bức xạ ánh sáng nhìn thấy hay phát quang, có thể trải dài hàng dặm vào ban đêm Năm 2005, các nhà khoa học đã

thông báo điều này lần đầu tiên, chứng cứ bằng hình ảnh cũng đã thu được đối với sự phát sáng

Thám hiểm[sửa | sửa mã nguồn]

Trang 29

Bài chi tiết: Thám hiểm đại dương

Bản đồ các đặc trưng chính dưới đáy biển (1995,

Điểm sâu nhất trong đại dương nằm ở phía nam

rãnh Mariana trong Thái Bình Dương, gần quần đảo Bắc Mariana Nó có độ sâu tối đa là 10.923 m

năm 1951 bởi tàu "Challenger II" của hải quân Anh

và điểm sâu nhất này được đặt tên theo tên tàu này

sâu Trieste đã xuống thành công tới đáy của rãnh, được điều khiển bởi một thủy thủ đoàn gồm 2

người

Phần lớn đáy các đại dương vẫn chưa được thám hiểm và lập bản đồ Hình ảnh toàn cầu của nhiều đặc trưng ngầm lớn hơn 10 km (6 dặm) được tạo ranăm 1995 dựa trên các méo mó hấp dẫn của bề mặtbiển cận kề

Các khu vực/tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Trang 30

Các bộ phận chính của đại dương

Đại dương được chia ra thành nhiều khu vực hay tầng, phụ thuộc vào các điều kiện vật lý và sinh học

khu vực chứa nước của biển cả (không bao gồm phần đáy biển) và nó có thể phân chia tiếp thành các khu vực con theo độ sâu và độ chiếu sáng

Vùng chiếu sáng che phủ đại dương từ bề mặt tới

sinh học lớn nhất trong lòng đại dương Do thực vật chỉ có thể sinh tồn với quá trình quang hợp nên bất kỳ sự sống nào tìm thấy dưới độ sâu này hoặc phải dựa trên các vật chất trôi nổi chìm xuống từ

lực khác; điều này thường xuất hiện dưới dạng

miệng phun thủy nhiệt trong khu vực gọi là vùng thiếu sáng (tất cả các độ sâu nằm dưới mức 200 m).Phần biển khơi của vùng chiếu sáng được gọi là

vùng biển khơi mặt (epipelagic) Phần biển khơi của vùng thiếu sáng có thể chia tiếp thành các vùng

khơi trung (mesopelagic) là tầng trên cùng, với

khơi sâu (bathypelagic) nằm giữa 10 °C và 4 °C, hay độ sâu giữa khoảng 700-1.000 m với 2.000-4.000 m Nằm dọc theo phần trên của vùng bình

Trang 31

nguyên sâu thẳm là vùng biển khơi sâu thẳm

(abyssalpelagic) với ranh giới dưới của nó nằm ở

độ sâu khoảng 6.000 m Vùng cuối cùng nằm tại

khơi tăm tối (hadalpelagic) Nó nằm giữa độ sâu từ 6.000 m tới 10.000 m và là vùng sâu nhất của đại dương

Cùng với các vùng biển khơi thiếu sáng còn có các vùng đáy thiếu sáng, chúng tương ứng với ba vùng

lục địa và kéo dài xuống độ sâu khoảng 4.000 m

Vùng đáy sâu thẳm che phủ các bình nguyên sâu

đáy tăm tối tương ứng với vùng biển khơi tăm tối, tìm thấy ở các rãnh đại dương Vùng biển khơi

trong khi vùng đại dương bao gồm toàn bộ vùng nước biển cả còn lại

giữa các mức thủy triều cao và thấp nhất, nó là khu vực chuyển tiếp giữa các điều kiện đại dương và

do nó là khu vực trong đó mức thủy triều có ảnh hưởng mạnh tới các điều kiện của khu vực

Ảnh hưởng khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Trang 32

Một trong những dạng thời tiết gây ấn tượng nhất

có ảnh hưởng lớn tới khí hậu Trái Đất bằng cách chuyển dịch các luồng không khí nóng hay lạnh cũng như giáng thủy tới các vùng ven biển, nơi

lưu vòng Nam Cực xoay quanh châu lục này, có ảnh hưởng tới khí hậu khu vực và nối liền các hải lưu trong các đại dương khác

Sinh thái học[sửa | sửa mã nguồn]

 )

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Các đại dương là thiết yếu trong vận tải: phần lớn

đào Panama, kênh đào Suez

Các đại dương cũng là nguồn quan trọng cung cấp

Đại dương cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Hình thành đại dương

Trang 33

Trôi dạt lục địa đã tái định hình thể cho các đại dương của Trái Đất, kết hợp và chia cắt các đại dương cổ để tạo ra các đại dương như hiện nay Các đại dương cổ có:

Đại dương ngoài Trái Đất[sửa | sửa mã nguồn]

nước phun cũng đã được tìm thấy trên Enceladus, mặc dù chúng có thể không đòi hỏi phải có các khối nước lỏng Các vệ tinh bị đóng băng khác có thể đã từng có các đại dương bên trong mà hiện nay

có thể cũng chiếm hữu các đại dương lớn chứa

nước lỏng phía dưới bầu khí quyển dày của chúng, mặc dù cấu trúc nội tại của chúng hiện nay vẫn chưa được hiểu rõ

từng có hay không có đại dương chứa nước tại bắc bán cầu của nó và về điều gì đã xảy ra đối với các đại dương này nếu như chúng đã từng tồn tại; các

Trang 34

Rover chỉ ra rằng nó có một số lượng nước tồn tại trong thời gian dài ở ít nhất một vị trí nhưng phạm

vi của nó lại chưa rõ

nước lỏng và có lẽ có cả các đại dương trong lịch

sử rất sớm của nó Nếu chúng từng tồn tại, mọi dấuvết của chúng dường như đã bị làm tan biến trong

Các hydrocacbon lỏng được cho là tồn tại trên bề mặt Titan, mặc dù chúng có lẽ chính xác hơn nên miêu tảnhư là các "hồ" thay vì các "đại dương" Phi

ra chỉ những cái dường như là các đáy hồ và các lòng sông khô kiệt, gợi ý rằng Titan đã đánh mất các chất lỏng bề mặt mà nó có thể đã từng có

Chuyến bay gần đây sát Titan của Cassini đã chụp lại các bức ảnh radar gợi ý mạnh mẽ rằng các hồ hydrocacbon gần vùng cực của Titan, nơi nó lạnh hơn Titan cũng được cho là có đại dương nước dưới mặt đất do sự phối trộn của băng và các

hydrocacbon tạo ra lớp vỏ ngoài cùng của nó

Ceres thể hiện dự phân dị thành lõi đá và lớp phủ băng và có thể tồn tại một đại dương ước lỏng bên

khoảng cách hợp lý từ mặt trời của nó (sao lùn đỏ

Gliese 581) để nước lỏng có thể tồn tại trên bề mặt

Trang 35

hành tinh này Do nó không đi ngang qua mặt trời của nó nên không có cách nào để biết là trên đó có

trong khí quyển của nó—điều này hiện nay còn gây

"băng nóng" Không có hành tinh nào trong số hai hành tinh này đủ lạnh để nước lỏng có thể tồn tại—nhưng nếu các phân tử nước tồn tại tại đó thì chúngrất có thể cũng được tìm thấy trê các hành tinh ở

biển và đại dương

iWin 280 HD - Game Bài Chính Hiệu iWin

Game Bài đẳng cấp đã được chứng minh hỗ trợ mọi dòng máy, cộng đồng vui, cực khủng

Đại dương là kho dự trữ vĩ đại của những

khoáng sản có ích, tài nguyên sinh học, năng lượng cũng như những nguyên liệu dùng

trong công nghiệp hóa học và dược phẩm, có thể cung cấp những chất thay thế những tài nguyên ngày càng bị cạn kiệt trên đất liền

Dầu mỏ và khí đốt: có trong lòng đại dương Vào những năm 1940-1950, dự đoán trữ

lượng dầu mỏ và khí đốt là 55 tỉ tấn (quy ra

Trang 36

dầu mỏ), đến năm 1960, con số này đã lên tới

207 tỉ, tới năm 1971 là 300 tỉ và đến 1975 là

400 tỉ

Ngoài ra còn có những khoáng sản quý giá như ilmênit (oxyt tự nhiên của sắt và titan), rutil (oxyt titan), cassitêrit (oxyt thiếc), oxyt sắt

từ magnétit, platin, kim cương… với trữ lượng không thua trên đất liền và than với trữ lượng

dự báo nhiều hơn trên đất liền 900 lần

Sóng biển, năng lượng thủy triều, sự chênh lệch nhiệt, các dòng hải lưu đều chứa một dự trữ năng lượng to lớn Hiện nay, nhiều nước

đã tích cực khai thác các nguồn dự trữ có

trong nước biển như muối, sulfat, natri, kali, brôm, Mg, iod…

Biển là nơi cung cấp nguồn hải sản khổng lồ

như rong, tảo, cá, tôm và nhiều đặc sản quý như đồi mồi, ngọc trai, san hô, yến sào

cung cấp 43% sinh giới Trong nước biển có muối và nhiều khoáng chất dạng muối Biển cung cấp cát và nhiều hóa chất trong cát Dầu

mỏ và khí đốt khai thác được ở biển rất nhiều.Biển cung cấp năng lượng gió, thủy triều Biển

là con đường giao thông vận tải có ý nghĩa to lớn Khối lượng vận tải qua biển lớn hơn bất

kỳ phương tiện nào khác trên không và trên lục địa

Sản lượng hải sản hàng năm vào đầu thế kỷ

Trang 37

20 chỉ khoảng 7 triệu tấn, nhưng đến cuối

những năm 70 lên khoảng 80 triệu tấn Dọc theo thềm lục địa, đặc biệt ở các vùng cửa sông cung cấp khoảng 80% sản lượng cá thế giới và là nơi sinh sống đa dạng, năng suất cao của rừng nước mặn, rong biển, san hô và

đa số các động vật giáp xác, động vật thân mềm khác chiếm 2/3 năng suất hải sản thế giới Đây cũng là nơi sinh sống của phần lớn dân số trên thế giới

Ngoài việc cung cấp nguồn lương thực chính,

đại dương còn là đường biển chính cho an

ninh quốc gia và thương mại, là nguồn cung cấp dầu, thuốc và giải trí

Sức khỏe và nền kinh tế của dân biển và cộngđồng trên thế giới liên quan với chất lượng của môi trường biển Sự cân bằng giữa sức khỏe và khả năng sản xuất của đại dương với nhu cầu và sự phát triển dân số người là một trong những khuynh hướng lớn trên thế giới

tầm quan trọng của biển và đại dương

Bài này nói về biển như là một khu vực rộng lớn chứa nước mặn Các nghĩa khác xem bài Biển

(định hướng)

Trang 38

Bờ biển miền trung Chile

Biển nói chung là một vùng nước mặn rộng lớn nối

nước mặn mà không có đường thông ra đại dương

ngữ này đôi khi cũng được sử dụng với một số hồ nước ngọt khép kín hoặc có đường thông tự nhiên

ngọt nhỏ không có đường thông tự nhiên ra đại

được sử dụng trong đời sống thông thường như một

từ đồng nghĩa với đại dương, như trong các câu

biển nhiệt đới hay đi ra bờ biển, hoặc cụm từ nước

đại dương nói chung

Mục lục

Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ độ mặn bề mặt dựa trên dữ liệu vệ tinh

nhất), tím = 30 ‰ (nhỏ nhất)

Nước trong biển được cho là có nguồn gốc từ hoạt động phun trào núi lửa trên Trái Đất, bắt đầu cách nay 4 tỉ năm, làm giải phóng các khí từ đá nóng

Trang 39

cho rằng hầu hết nước trên Trái Đất có thể từ sao

mặn Độ mặn thường được đo bằng phần ngàn (kí hiệu ‰), và các đại dương mở vào khoảng 35 gam (1,2 oz) trên một lít, độ mặn 35 ‰ (khoảng 90% nước trong đại dương có độ mặn nằm trong khoảng

chiếm khoảng 85% chất rắn hòa tan trong nước biển Ngoài ra, còn có các ion kim loại khác như

magie và canxi, và các ion âm như sulphat,

carbonat, và brômua Mặc dù có sự khác biệt độ mặn trong vùng biển khác nhau, các thành phần tương đối của các muối hòa tan là ổn định trong

thể bài tiết qua đường tiểu những chất mặn như

trong lục địa có độ mặn cao hơn trong đại dương,

hòa tan trong một lít (300 ‰)

Độ muối[sửa | sửa mã nguồn]

Độ muối trung bình của nước biển toàn thế giới là 3,5%

Biển Đỏ độ muối là 4,3%

Dọc Xích đạo độ muối là 3,45%

Vùng chí tuyến độ muối 3,68%

Trang 40

Gần hai cực độ muối là 3,4%

Biển Ban-tich độ muối là 0,35%

Nhiệt độ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệt độ nước biển thay đổi Có nhiều nguyên

nhân:

giảm, càng sâu càng lạnh

mùa đông biển lạnh

cực)

Vai trò[sửa | sửa mã nguồn]

Biển là nguồn cung cấp hơi nước để tạo ra mưa chokhí quyển Có mưa mà duy trì sự sống cho các sinhvật trên đất liền

Biển là kho báu cho ngành hải sản, ngành sản xuất muối, du lịch biển Hiện nay biển có 160000 loài động vật và 10000 loài thực vật

Biển còn chứa vô số có mỏ dầu ở dưới đáy đại

dương Trữ lượng dầu mỏ 21 tỉ tấn, khí tự nhiên 14

Ngày đăng: 03/12/2014, 15:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành hay thành phần khoáng vật: - Bách khoa toàn thư mở
Hình th ành hay thành phần khoáng vật: (Trang 49)
Hình lăng trụ 6 cạnh, ít khi trong suốt mà - Bách khoa toàn thư mở
Hình l ăng trụ 6 cạnh, ít khi trong suốt mà (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w