1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

tấn nước tấn nước bách khoa toàn thư mở wikipedia bước tới menu tìm kiếm các nghĩa khác xem tấn định hướng 晋国 tấn quốc công quốc ← thế kỷ 11 tcn – 376 tcn hyperlink http vi wikipedia org

10 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 164,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài các vua giỏi như Văn Công, Tương Công, Điệu công, các vua Tấn khác đều tầm thường nhưng nhờ bầy tôi dưới quyền vua Tấn cũng có nhiều họ tộc tài giỏi, giúp vua Tấn chiếm ưu thế tr[r]

Trang 1

Tấn (nước)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm

Các nghĩa khác, xem Tấn (định hướng).

晋国

Tấn quốc

Công qu c ốc

Thế kỷ 11 TCN – 376

TCN

Thủ đô Đường (sau gọi là

Tấn, nay thuộc Thái Nguyên, Sơn Tây) Khúc Ốc (nay là

Khúc Ốc, Sơn Tây) Giáng (còn gọi là Dực, nay là đông nam

Dực Thành, Sơn Tây) Tân Giáng (nguyên gọi là Tân Điền, nay

là Hầu Mã, Sơn Tây)

Công hay hầu

- Thế kỷ 11 TCN Đường Thúc Ngu

- 377 TCN-376 TCN Tấn Tĩnh công

Lịch sử

- Thành lập Thế kỷ 11 TCN

Tấn (chữ Hán phồn thể: 晉; chữ Hán giản thể: 晋; pinyin: Jìn) là một trong những nước chư hầu mạnh nhất trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc Quốc gia này đóng ở Sơn Tây, Trung Quốc.

Mục lục

 1 Thành lập

 2 Tranh chấp nội tộc

o 2.1 Chi thứ đoạt trưởng

 2.1.1 Thương Thúc

 2.1.2 Khúc Ốc

o 2.2 Các con của Hiến công

 3 Bá chủ chư hầu

Trang 2

o 3.1 Mở rộng lãnh thổ

o 3.2 Giành ngôi bá chủ

o 3.3 Giữ ngôi bá chủ

 4 Suy yếu và chia cắt

o 4.1 Cuộc tranh giành giữa các khanh thần

o 4.2 Vua yếu tôi mạnh

o 4.3 Sáu họ còn ba

 5 Tàn lụi và diệt vong

 6 Các vua nước Tấn

 7 Chú thích

 8 Xem thêm

 9 Tham khảo

 10 Liên kết ngoài

[ sửa ] Thành lập

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, nước Tấn được thành lập khá muộn trong các chư hầu thời Tây Chu Sau khi vua khai quốc Chu Vũ Vương mất, con là Chu Thành Vương lên thay, có Chu Công Đán phụ chính Khi đó một chư hầu là nước Đường nổi loạn, Chu công Đán mang quân tiêu diệt

Chu Thành Vương có một người em nhỏ tên là Cơ Ngu, khi ngồi chơi với Thành Vương, vua cắt cái lá đồng làm ngọc khuê đưa cho Cơ Ngu và nói:

Để ta phong đất này cho nhà ngươi[1]

Quan thái sử nhà Chu làm nhiệm vụ chép sử hỏi vua chọn ngày để phong cho Cơ Ngu Thành Vương nói rằng khi đó chỉ nói đùa với cậu em nhỏ thôi Quan thái sử nghiêm sắc mặt nói:

Thiên tử không thể nói chuyện đùa

Chu Thành Vương không thể cưỡng lại, bèn chính thức phong cho Cơ Ngu làm vua chư hầu nước Đường, gọi là Đường Thúc Ngu Sau đó nước Đường mới đổi tên thành

nước Tấn.

[ sửa ] Tranh chấp nội tộc

[ sửa ] Thương Thúc

Nước Tấn truyền đến đời thứ 9 là Mục hầu Cơ Phế Vương (811-785 TCN) thì bắt đầu xảy ra việc tranh chấp giữa chi trưởng và chi thứ, diễn ra trong nhiều thế hệ Việc tranh chấp của nội tộc diễn ra trong hơn 100 năm, 14 đời vua Tấn không yên ổn

Trang 3

Lần đầu tiên khi Mục hầu mất, người em là Thương Thúc đoạt ngôi của cháu là Cơ Cừu Cừu phải bỏ trốn

Năm 781 TCN, thế tử Cừu tập hợp lực lượng về đánh úp Thương Thúc, lấy lại ngôi vua Sử không chép rõ về kết cục của Thương Thúc Cừu lên ngôi tức là Tấn Văn hầu

[ sửa ] Khúc Ốc

Năm 746 TCN, Văn hầu chết, con là Bá lên ngôi, tức là Tấn Chiêu hầu (746-740 TCN) Chiêu hầu phong cho chú là Thành Sư (em Văn hầu) đã 58 tuổi ở đất Khúc Ốc

là một ấp lớn hơn cả đất Dực là kinh đô nước Tấn Người chú ở Khúc Ốc được gọi là Hoàn Thúc Thành Sư Hoàn Thúc chú trọng gây uy tín để lấy lòng dân Từ đó thế lực của chi thứ bắt đầu phát triển Nhiều kẻ sĩ nước Tấn lo ngại loạn lạc nảy sinh từ Khúc Ốc

Năm 740 TCN, đại phu nước Tấn là Phan Phù làm phản giết Tấn Chiêu hầu và đón Hoàn Thúc Thành Sư về kinh làm vua Phe chi trưởng không phục, tập hợp lại đánh đuổi Thành Sư và giết Phan Phù Thành Sư bỏ chạy về Khúc Ốc Con của Chiêu hầu

là Hình được lập lên ngôi, tức là Tấn Hiếu hầu

Năm 732 TCN, Thành Sư chết ở Khúc Ốc, thọ 72 tuổi Con là Thiện lên thay cai quản Khúc Ốc, được gọi là Trang Bá Thiện

Năm 724 TCN, Trang Bá Thiện mang quân đánh kinh thành Dực, giết Tấn Hiếu Hầu

để cướp ngôi Phe chi trưởng lại cùng nhau đánh bật Thiện ra khỏi kinh thành Thiện lại phải chạy về Khúc Ốc Người con của Hiếu hầu là Cơ Khích được lập lên ngôi, tức

là Tấn Ngạc hầu

Năm 718 TCN, nghe tin Tấn Ngạc hầu chết, Trang Bá Thiện lại mang quân tiến vào kinh thành Dực lần thứ 2 Thiên tử Chu Hoàn Vương bèn sai vua nước Quắc là Quắc Công mang quân giúp nước Tấn, đánh lại Thiện Thiện lại bỏ chạy về Khúc Ốc Người nước Tấn lập con của Ngạc hầu là Quang lên ngôi, tức là Tấn Ai hầu

Năm 716 TCN, Trang Bá Thiện chết, con là Xứng lên thay Năm 710 TCN, Cơ Xứng

ở Khúc Ốc mang quân đánh nhau với Tấn Ai hầu ở gần sông Phần Thủy, bắt sống được Ai hầu Người nước Tấn bèn lập con Ai hầu là Thiếu Tử làm vua, tức là Tiểu Tử hầu Nghe tin nước Tấn lập Tiểu Tử, Cơ Xứng bèn giết chết Ai hầu Lúc đó thế lực của Khúc Ốc mạnh hơn hẳn so với nước Tấn

Năm 707 TCN, Cơ Xứng lại lừa mời Tiểu Tử đến gặp mặt rồi bắt giết Chu Hoàn vương lại can thiệp, sai Quắc Công một lần nữa mang quân đánh Xứng Xứng lại chạy

về Khúc Ốc Người nước Tấn lập em Ai hầu là Dẫn làm vua

Sau khi Chu Hoàn vương rồi Chu Trang Vương mất (682 TCN), năm 679 TCN Cơ Xứng lại mang quân đánh kinh thành Dực, giết chết Tấn hầu Dẫn Cơ Xứng mang đồ quý báu trong kho ở đất Dực hối lộ thiên tử mới là Chu Ly Vương Vì vậy Ly vương không can thiệp, chính thức phong cho Xứng làm chư hầu Cơ Xứng trở vua cả nước Tấn từ năm 679 TCN, tức là Tấn Vũ công

Trang 4

Nước Tấn tính từ Đường Thúc Ngu tới Tấn hầu Dẫn là 17 vua thuộc 16 thế hệ thì chuyển sang ngành thứ Nước Tấn quá yếu ớt trước thế lực của Khúc Ốc nên dù nhiều lần quân Khúc Ốc phải rút đi, nhưng vua Tấn cũng không đủ sức trấn áp, tiêu diệt hoàn toàn Liên tiếp 5 vua Tấn bị chi Khúc Ốc tấn công giết hại Tấn Vũ Công là cháu nội của Thành Sư, thuộc thế hệ thứ 13

Vũ Công tuổi cao, sau khi giành ngôi chỉ 2 năm thì qua đời (677 TCN), con là Hiến công nối ngôi Hiến công có nhiều vợ và nhiều con trai Ngoài thế tử Cơ Thân Sinh, còn hai người con lớn hơn Thân Sinh nhưng mẹ chỉ là vợ thứ: Trùng Nhĩ và Di Ngô

Mẹ của 3 công tử lớn đều mất, Hiến Công lại lấy 1 người vợ trẻ là Ly Cơ và sinh được Hề Tề Người hầu của Ly Cơ lại sinh được người con nữa của Hiến công là Trác Tử

Hiến công yêu vợ mới, nghe lời gièm pha của phe cánh Ly Cơ, muốn bỏ con lớn Thân Sinh để lập con nhỏ Hề Tề Do tác động của các quan lại thân với Ly Cơ vu tội cho Thân Sinh, Hiến Công sai bắt Thân Sinh Thân Sinh bèn tự sát Nghe tin, hai người anh của Thân Sinh là Trùng Nhĩ và Di Ngô biết nội tình trong triều bèn bỏ trốn Trùng Nhĩ chạy sang quê mẹ là nước Địch, Di Ngô chạy sang nước Lương Nhiều quan lại bất mãn cũng bỏ theo hai công tử lớn

Bất chấp sự phản đối của nhiều quan đại phu, Hiến Công kiên quyết lập Hề Tề làm thế tử, uỷ thác cho Tuân Tức Năm 651 TCN, Hiến công chết, Hề Tề lên ngôi Phe phản đối Hề Tề do Lý Khắc đứng đầu làm binh biến giết chết Hề Tề và thuyết phục Tuân Tức đổi ý Nhưng Tuân Tức quyết theo di mệnh, bèn lập em Hề Tề là Trác Tử lên thay Lý Khắc lại làm binh biến, lần này giết cả Trác Tử và Tuân Tức Ly Cơ cũng

bị giết

Lý Khắc sai người mời Trùng Nhĩ ở nước Địch về Trùng Nhĩ sợ mang tiếng là chủ mưu làm loạn nên lấy cớ thoái thác Lý Khắc bất đắc dĩ phải sai người sang nước Lương mời Di Ngô về lập làm vua Tấn Tần Mục Công lấy con gái Tấn Hiến Công và

là em của Trùng Nhĩ và Di Ngô, nên sai lấy xe đưa Di Ngô từ nước Lương trở về nước

Di Ngô lên ngôi, tức là Tấn Huệ Công Huệ công về nước, biết việc Lý Khắc vốn không định lập mình, nên lấy cớ giết Lý Khắc Các quan nhiều người bất bình Huệ công lại bỏ lời giao ước cắt đất trả ơn nước Tần, rồi mang quân gây hấn với Tần, bị thua trận và bị bắt làm tù binh Nhờ em gái đứng ra xin hộ, Tần Mục Công lại thả cho Huệ Công về Để giảng hoà, hai bên lại kết thông gia, Tần Mục Công gả con gái cho con trai Tấn Huệ công là thế tử Ngữ

Năm 637 TCN, Tấn Huệ Công chết, con là Ngữ lên thay, tức là Tấn Hoài công Hoài công mất lòng người trong nước, mọi người đều muốn lập công tử Trùng Nhĩ Lúc đó công tử Trùng Nhĩ sau nhiều năm lưu lạc qua các nước Địch, Tề, Lỗ, Sở, Vệ, Tào đã quyết định trở về nước khi có thời cơ Tần Mục công lại đứng ra lập Trùng Nhĩ làm vua Tấn, đón Trùng Nhĩ sang Tần rồi đưa về nước Vua cháu là Hoài công bỏ chạy sang nước Lương bị giết chết Tần Mục công lại mang con gái goá từng gả cho Hoài công mà gả cho Trùng Nhĩ

Trang 5

Bởi nước Tần và nước Tấn có nhiều mối lương duyên nên đời sau thường gọi những

cuộc hôn nhân tốt lành giữa các quốc gia hay thế tộc lớn là "nên duyên Tấn Tần".

Trùng Nhĩ lên làm vua, tức là Tấn Văn Công nổi tiếng Vây cánh của Hoài công là Lã

Di Sảnh và Khước Nhuế lại định làm binh biến giết Văn công để lập công tử Ung đang ở nước Tần Việc binh biến thất bại, Văn Công được sự hỗ trợ của Tần Mục công, dẹp yên loạn lạc

Cuộc tranh chấp trong nội tộc nước Tấn chấm dứt Nước Tấn cũng bước vào thời kỳ yên ổn và cường thịnh

[ sửa ] Bá chủ chư hầu

Từ thời Tấn Hiến Công, nước Tấn đã phát triển thế lực nước Tấn ra xung quanh, đánh chiếm nước Hoắc, nước Cảnh, nước Nguỵ[2]

Sau đó, Hiến công lại thù nước Quắc trước khi thường theo lệnh nhà Chu đánh lại các

tổ tiên Trang Bá Thiện và Tấn Vũ Công khi lực lượng Khúc Ốc tiến vào tranh ngôi, nên quyết chí đánh Quắc

Năm 654 TCN, Hiến công bèn mượn đường nước Ngu đánh úp nước Quắc, nhưng sau khi diệt Quắc lại chiếm luôn nước Ngu Nước Ngu không nghe lời can của nước Quắc, tham của hối lộ của nước Tấn nên cả hai cùng bị diệt

Về cơ bản đến thời Tấn Hiến công, nước Tấn đã được mở rộng và trở thành nước mạnh Trong khi nước Tấn phát triển ở Sơn Tây thì nước Tề đã làm bá chủ chư hầu dưới thời Tề Hoàn công Khi đó nước Tấn lại gặp nội loạn nhiều nên không gây được nhiều ảnh hưởng với các nước chư hầu trung nguyên

Xem chi tiết: Trận Thành Bộc

Từ năm 643 TCN, bá chủ Tề Hoàn Công qua đời, nước Tề cũng rơi vào tranh chấp quyền lực giữa những người nối ngôi nên mất địa vị bá chủ Tống Tương công cùng

Sở Thành vương nổi lên tranh chấp nhau quyền làm bá, nước Sở thắng thế một thời gian

Khi Tấn Văn Công lên ngôi, trong nước yên ổn nên quyết định gây ảnh hưởng ra ngoài Đầu tiên, Văn công mang quân giúp thiên tử nhà Chu bị em là vương tử Đái tranh ngôi Văn công mang quân sang giết Đái và phò vua Chu Huệ vương trở lại ngôi vua Từ đó Tấn Văn công bắt đầu có uy tín với vua Chu và chư hầu

Năm 632 TCN, Văn công đi đánh nước Tào và nước Vệ để báo thù việc gây khó khăn trong thời gian đi lưu lạc Cùng lúc đó nước Sở cũng mang quân đánh Tống là phe cánh của Tấn Trong khi Tấn đã chiếm được Tào và Vệ thì Sở mới đang vây nước Tống

Trang 6

Sau đó hai bên dàn quân đánh nhau một trận to ở Thành Bộc Đó chính là trận Thành Bộc nổi tiếng thời Xuân Thu Quân Tấn dưới sự chỉ huy của Tiên Chẩn đánh bại quân

Sở dưới quyền chỉ huy của Thành Đắc Thần

Tấn trở thành nước mạnh nhất trong các chư hầu Sau khi đánh bại chư hầu lớn là nước Sở cứu nước Tống, trả lại nước cho vua Vệ và vua Tào, Tấn Văn công hội chư hầu ở đất Ôn; sau đó lại cùng các chư hầu hội kiến thiên tử nhà Chu ở đất Tiên Thổ

Từ đó Văn Công chính thức trở thành bá chủ chư hầu

[ sửa ] Giữ ngôi bá chủ

Năm 628 TCN, Tấn Văn Công mất, thọ 68 tuổi, thế tử Hoan lên thay, tức là Tấn Tương Công Tương Công 2 lần đánh bại các cuộc xâm lấn của nước Tần do Tần Mục Công phát động, chặn đường sang đông của nước Tần, giữ vững bờ cõi nước Tấn và ngôi vị bá chủ

Đến các đời vua sau, tuy thế lực có lúc giảm sút nhưng nhìn đại thể nước Tấn vẫn giữ được ngôi bá chủ Năm 600, Tấn Thành công lại họp chư hầu ở đất Hỗ

Đến thời Tấn Cảnh công và Lệ công, nước Tấn tuy vẫn là nước mạnh nhưng không có vua giỏi, bị Sở Trang vương giành ngôi bá Sau khi Trang vương chết (591 TCN), nước Sở và nước Tấn cùng tranh giành ảnh hưởng trong các chư hầu Một số ngả theo

Sở, một số nhiều hơn ngả theo Tấn và trên danh nghĩa, Tấn vẫn nắm ngôi vị bá chủ

Năm 572 TCN, Tấn Điệu công lên ngôi đánh bại các chư hầu Tần và Trịnh lại hội chư hầu Sau khi Tấn Điệu công mất (558 TCN), trong gần 100 năm, dù thực lực không được như thời Văn công, Tương công và Điệu Công, các vua Bình Công, Chiêu công, Khoảnh công, Định công vẫn duy trì ngôi vị trên danh nghĩa Khi nước Sái oán nước

Sở ức hiếp, kêu cứu nước Tấn, vua Tấn Định công vẫn hội được 18 nước chư hầu để luận tội nước Sở

Trong khoảng thời gian đó, sở dĩ Tấn vẫn duy trì tương đối được ngôi vị của mình do các nước cạnh tranh trực tiếp là Sở và Tề cũng không có vị vua nào đủ tài năng để tranh giành Tề Cảnh công là vua giỏi nhưng chưa đạt tới được uy thế như Tề Hoàn công để đoạt ngôi bá của nước Tấn

[ sửa ] Suy yếu và chia cắt

Ngay từ thời Tấn Văn công, Tấn Tương công đã manh nha hình thành thế đứng của các thế tộc làm đại phu trong triều Không chỉ các dòng họ có công “tòng vong” giúp Văn công trong quá trình lưu lạc 19 năm ở nước ngoài, ngay cả các họ tộc ở lại trong nước phù tá Huệ Công, Hoài công cũng có ảnh hưởng nhất định và vua Tấn phải đóng vai trò dàn xếp hài hòa giữa các họ tộc đó Trong quá trình đấu tranh để giành quyền lực trong triều, các họ tộc dần dần tiêu diệt lẫn nhau

Thời Văn công có các họ: Hồ, Loan, Triệu, Tuân, Ngụy, Hàn, Khước, Tiên, Phạm (Sĩ) Đến thời Tấn Tương công (627-621 TCN), họ Hồ bị đuổi ra nước ngoài Thời

Trang 7

Cảnh công (598 – 581 TCN), họ Tiên bị diệt; đến thời Lệ công (580 – 573 TCN), họ Khước bị diệt; thời Bình công (557 – 532 TCN), họ Loan bị diệt Thời Tấn Lệ công,

họ Triệu cũng suýt bị diệt tộc trong cuộc tranh chấp nhưng đã được phục hồi địa vị vào thời Điệu công

Họ Tuân sau đó tách làm hai chi và gọi theo đất được phong, một chi gọi là Trung Hàng, chi kia gọi là Trí Sau hơn 100 năm đến thời Tấn Bình công, chỉ còn lại 6 dòng

họ mạnh nhất duy trì được quyền lực là: Ngụy, Hàn, Triệu, Phạm, Trung Hàng, Trí

mà sử sách vẫn gọi là lục khanh

Nước Tấn trong quá trình phát triển ngày một lớn mạnh, đất đai rộng mở, nhân lực dồi dào Ngoài các vua giỏi như Văn Công, Tương Công, Điệu công, các vua Tấn khác đều tầm thường nhưng nhờ bầy tôi dưới quyền vua Tấn cũng có nhiều họ tộc tài giỏi, giúp vua Tấn chiếm ưu thế trong các cuộc chiến với các chư hầu mạnh như Tần, Tề,

Sở Đến cuối thời Xuân Thu, Tấn là nước lớn nhất trong các chư hầu

Các đại phu mạnh lên, trong triều lại xảy ra thí nghịch và phế lập Năm 606 TCN, Tấn Linh công bỏ bễ chính sự, mưu giết bề tôi can thẳng họ Triệu, bị họ Triệu giết Năm

573 TCN, họ Loan và họ Trung Hàng giết Lệ công

Đến thời Bình công, việc tranh chấp giữa các đại phu ngày càng gay gắt nhưng vua Tấn không thể đóng vai trò can thiệp hay dàn hòa giữa các họ mà hoàn toàn bị các họ chi phối Những người không cùng cánh với lục khanh đều bị 6 họ tìm cách tiêu diệt

[ sửa ] Sáu họ còn ba

Xem chi tiết: Ngụy (nước), Hàn (nước), Triệu (nước)

Năm 497 TCN, giữa lục khanh nổ ra chiến tranh Họ Phạm và họ Trung Hàng liên kết đánh họ Triệu Họ Triệu lấy danh nghĩa Tấn Định công, liên kết với họ Hàn và họ Ngụy đánh hai họ kia Trung Hàng Di và Phạm Cát Xạ chạy đến Triều Ca[3] cố thủ Năm 492 TCN, thành Triều Ca vỡ, họ Phạm và họ Trung Hàng phải bỏ chạy sang

nước Tề lưu vong Từ đó nước Tấn chỉ còn lại 4 họ nắm quyền trong triều là: Trí, Triệu, Hàn, Ngụy

Năm 475 TCN, Tấn Định công chết, con là Xuất công lên thay Bốn quan khanh bàn nhau chia đất của hai họ Phạm và Trung Hàng, không đếm xỉa tới vua Tấn Phần đất của Tấn Xuất công từ đó lại không bằng bốn họ Vua Tấn nổi giận, sai người sang liên kết với nước Tề để trị tội 4 họ Nhưng lúc đó nước Tề cũng đang nằm trong tay họ Điền, vua Tề chỉ làm vì, còn họ Điền cũng mưu chiếm nước Tề như các quan khanh nước Tấn nên không ủng hộ vua Tấn

Năm 458 TCN, bốn họ biết được ý định của vua Tấn, bèn đánh đuổi vua Tấn đi Vua Tấn phải chạy sang nước Tề và chết giữa đường, nên mới được đặt thụy hiệu là Xuất công Họ Trí lập một người trong họ tộc nước Tấn là chắt của Tấn Chiêu Công lên ngôi, tức là Tấn Ai công

Trang 8

Bấy giờ họ Trí có thế lực nhất, được phong tước bá, 3 họ kia mới chỉ có tước tử Trí

bá tên là Tuân Dao, muốn chiếm cả nước Tấn, nên trước hết thực hiện kế “tằm ăn lá dâu”, ra lệnh ép 3 họ kia cùng hiến đất để thôn tính dần Họ Ngụy và họ Hàn chịu theo nhưng họ Triệu không chịu Trí bá Tuân Dao bèn hợp quân với họ Hàn và Ngụy đánh Triệu Triệu Vô Tuất rút về cố thủ ở Tấn Dương

Quân 3 họ vây đánh Tấn Dương 1 năm không phá được Năm 454 TCN, khi thành Tấn Dương nguy cấp, Triệu Vô Tuất sai người ra thuyết phục họ Ngụy và họ Hàn về nguy cơ “chia đũa để bẻ” của Trí Bá đối với 3 họ Hàn và Ngụy bất đắc dĩ mang quân theo Tuân Dao, nay hiểu ra bèn trở giáo cùng Triệu đánh úp Trí Bá Trí bá trở tay không kịp, bị giết, họ Trí bị diệt Ba họ Hàn, Triệu, Ngụy cùng chia đất của Trí Bá

Năm 440 TCN, Tấn Ai công chết, con là U công lên nối ngôi Vua Tấn lúc đó chỉ còn đất Giáng và đất Khúc Ốc, còn lại đất đai đều thuộc về 3 họ Hàn, Triệu, Ngụy mà sử

sách quen gọi là Tam Tấn Trên thực tế 3 họ đã nắm quyền tự quyết, không còn theo

mệnh lệnh hay cần tới danh nghĩa của vua Tấn nữa Chính vua Tấn phải đến triều kiến

3 họ chứ không phải 3 họ đến triều kiến vua Tấn

[ sửa ] Tàn lụi và diệt vong

Thế lực của vua Tấn lúc đó đã rất suy yếu, một đêm năm 422 TCN, Tấn U công ra ngoài tư thông với đàn bà nhà dân, bị kẻ trộm trong ấp giết chết Ngụy Tư (sau là Ngụy Văn hầu) mang quân trấn dẹp bọn cướp và lập con U công là Liệt công lên ngôi

Năm 403 TCN, thiên tử nhà Chu là Uy Liệt vương chính thức phong cho 3 họ Hàn, Triệu, Ngụy làm chư hầu: Ngụy Tư làm Ngụy Văn hầu, Triệu Tịch làm Triệu Liệt hầu, Hàn Kiền làm Hàn Cảnh hầu Kể từ đó trong lãnh thổ nước Tấn cũ tồn tại 4 nước chư hầu là Tấn, Hàn, Triệu, Ngụy mà Tấn là nhỏ yếu nhất

Năm 395 TCN, Tấn Liệt công chết, con là Hoàn công lên ngôi Được 17 năm Hoàn công chết (378 TCN), con là Câu Tửu lên ngôi, tức là Tấn Tĩnh công Năm 376 TCN,

ba họ Hàn, Triệu, Ngụy thôn tính nốt đất Giáng và Khúc Ốc của Tấn, đày Tĩnh công

là đất Thuần Lưu nhỏ hẹp Nước Tấn chính thức bị diệt

Sử ký, thiên Tấn thế gia và Ngô Thái Bá thế gia đều chép rằng: công tử Quý Trát

nước Ngô từ chối ngôi vua do anh Chư Phàn nhường (theo ý của vua cha Thọ Mộng),

bỏ trốn đi ngao du các nước chư hầu Khi Quý Trát đến nước Tấn, khi đó là thời Tấn Bình công, có qua lại nhà các quan khanh đại phu nước Tấn Sau đó ông từng đưa ra

lời tiên đoán: trong các họ đang cầm quyền ở Tấn thì họ Loan mất trước, còn nước Tấn sau này sẽ mất về tay ba nhà Hàn, Triệu, Nguỵ.

Họ Cơ hoàn toàn kết thúc vai trò tại quốc gia này, nước Tấn bị chia làm ba Nước Tấn tính từ đời Đường Thúc Ngu được Chu Thành vương phong tới Tấn Tĩnh công có tất

cả 40 vua thuộc 28 thế hệ

[ sửa ] Các vua nước Tấn

Trang 9

Theo Sử ký, chỉ từ năm 841 TCN, khi Chu Lệ vương bị lật đổ và bắt đầu thời Cộng hòa (841 - 828 TCN), số năm cai trị của từng vua (không chỉ nước Tấn mà tất cả các

chư hầu) mới được xác định rõ ràng Còn các đời vua trước đó đều không xác định được số năm cụ thể

1 Đường Thúc Cơ Ngu (em Chu Thành Vương)

2 Tấn hầu Cơ Tiệp (không thuỵ hiệu)

3 Vũ hầu Cơ Ninh Tộc

4 Thành hầu Cơ Phục Nhân

5 Lê hầu Cơ Tử Phúc ? - 859 TCN

6 Tĩnh hầu Cơ Nhi Cữu 858 - 841 TCN

7 Hi hầu Cơ Tu Đô 840 - 823 TCN

8 Hiến hầu Cơ Tịch 822 - 812 TCN

9 Mục hầu Cơ Phế Vương 811 - 785 TCN

10 Thương Thúc 784 - 781 TCN

11 Văn hầu Cơ Cừu 780 - 746 TCN

12 Chiêu hầu Cơ Bá 746 - 740 TCN

13 Hiếu hầu Cơ Hình 739 - 724 TCN

14 Ngạc hầu Cơ Khích 723 - 718 TCN

15 Ai hầu Cơ Quang 718 - 710 TCN

16 Tiểu Tử hầu Thiếu Tử 710 - 707 TCN

17 Tấn hầu Cơ Dẫn 706 - 679 TCN (không thuỵ hiệu)

18 Vũ công Cơ Xứng 679 - 677 TCN

19 Hiến công Cơ Quỹ Chư 676 - 651 TCN

20 Cơ Hề Tề 651 - 651 TCN (không thuỵ hiệu)

21 Cơ Trác Tử 651 - 651 TCN (không thuỵ hiệu)

22 Huệ công Cơ Di Ngô 650 - 637 TCN

23 Hoài công Cơ Ngữ 637 - 636 TCN

24 Văn công Cơ Trùng Nhĩ 636 - 628 TCN

25 Tương công Cơ Hoan 627 - 621 TCN

26 Linh công Cơ Di Cao 620 - 607 TCN

27 Thành công Cơ Hắc Điến 606 - 600 TCN

28 Cảnh công Cơ Nho 599 - 581 TCN

29 Lệ công Cơ Thọ Mạn 580 - 573 TCN

30 Điệu công Cơ Chu 572 - 558 TCN

31 Bình công Cơ Bưu 557 - 532 TCN

32 Chiêu công Cơ Di 531 - 526 TCN

33 Khoảnh công Cơ Khứ Tật 525 - 512 TCN

34 Định công Cơ Ngọ 511 - 475 TCN

35 Xuất công Cơ Tạc 474 - 458 TCN

36 Ai công Cơ Kiêu 457 - 440 TCN

37 U công Cơ Liễu 439 - 422 TCN

38 Liệt công Cơ Chỉ 421 - 395 TCN

39 Hoàn công Cơ Kỳ 394 - 378 TCN

40 Tĩnh công Cơ Câu Tửu 377 – 376 TCN

[ sửa ] Chú thích

1. ^ Cắt ngọc khuê là việc làm khi phong chư hầu của thiên tử

Trang 10

2. ^ Đây là nước Nguỵ cổ thời Tây Chu , không phải là nước Nguỵ - một trong Thất hùng thời Chiến Quốc Nước Tấn chiếm nước này, phong cho công thần là con cháu Tất Vạn và dòng họ này mới trở thành nước Nguỵ thời Chiến Quốc

3. ^ Kinh đô nhà Thương cũ

[ sửa ] Xem thêm

 Đông Chu

 Xuân Thu

 Chiến Quốc

 Ngụy (nước)

 Hàn (nước)

 Triệu (nước)

 Tấn Văn Công

[ sửa ] Tham khảo

 Sử ký Tư Mã Thiên - Tấn thế gia

Ngày đăng: 20/04/2021, 06:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w