1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức đã để lại những dấu ấn vàng son trong lịch sử tư tưởng phương Tây, Hãy so sánh những đặc điểm chính của hai nền triết học này

19 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 52,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung và lịch sử triết học nói riêng, Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức giữ một vị trí hết sức quan trọng. Việc nhận thức một cách đầy đủ các quan niệm triết học trong lịch sử Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vừa cấp bách, vừa lâu dài. Trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử văn hoá nhân loại nói chung và tư tưởng triết học nói riêng, Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức có nhiều nội dung phong phú, đa dạng. Những giá trị của nó đó để lại dấu ấn đậm nét và có ảnh hưởng lớn đối với lịch sử loài người. Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức không thể thoát ly những vấn đề chung của lịch sử triết học. Mặc dù vậy, giữa Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức vẫn có những đặc điểm đặc thù của nó. Nghiên cứu về Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức, đặc biệt là nghiên cứu các quan niệm triết học là một vấn đề phức tạp, nhưng cũng rất lý thú, vì qua đó ta có thể hiểu biết sâu sắc thêm những giá trị về tư tưởng văn hoá của nhân loại. Mặt khác, bản sắc văn hoá Việt Nam ảnh hưởng khá sâu sắc bởi nền Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức, do đó nghiên cứu những đặc điểm của Triết học Hy Lạp cổ đại trong mối quan hệ với đặc điểm của Triết học cổ điển Đức, đặc biệt là những tư tưởng nhân văn trong thời khai sáng sẽ giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn bản sắc văn hoá Việt Nam. Đó là lý do mà em chọn đề tài “Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức đã để lại những dấu ấn vàng son trong lịch sử tư tưởng phương Tây. Hãy so sánh những đặc điểm chính của hai nền triết học này” làm đề tài tiểu luận.

Trang 1

KHOA …



TIỂU LUẬN Chủ đề: Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức đã để lại những dấu ấn vàng son trong lịch sử tư tưởng phương Tây Hãy so sánh

những đặc điểm chính của hai nền triết học này

Họ tên học viên:……….

Lớp:……….,

Vị trí công tác:………

Đơn vị công tác:………

Hà Nội – 2020

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

I.

TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC CỔ

ĐIỂN ĐỨC ĐÃ ĐỂ LẠI NHỮNG DẤU ẤN VÀNG SON

1.2 Sự hình thành và những thành tựu nổi bật của Triết học

1.3 Sự hình thành và những thành tựu nổi bật

II.

SO SÁNH NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC CỔ

2.1.

Triết học Hy Lạp cổ đại có sự phân chia và đối lập giữa các trường phái triết học, trong khi Triết học cổ điển Đức đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm 8

2.2 Triết học Hy Lạp cổ đại gắn chặt với khoa học tự nhiên

còn Triết học cổ điển Đức gắn với thực tiễn xã hội 13

2.3.

Triết học Hy Lạp cổ đại có xu hướng đi sâu giải quyết các vấn đề về bản thể luận triết học còn Triết học Cổ

điển Đức đề cao vai trò tích cực của con người 14

MỞ ĐẦU

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung và lịch sử triết học nói riêng, Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức giữ một vị trí hết sức quan

Trang 3

trọng Việc nhận thức một cách đầy đủ các quan niệm triết học trong lịch sử Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vừa cấp bách, vừa lâu dài Trong quá trình vận động

và phát triển của lịch sử văn hoá nhân loại nói chung và tư tưởng triết học nói riêng, Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức có nhiều nội dung phong phú, đa dạng

Những giá trị của nó đó để lại dấu ấn đậm nét và có ảnh hưởng lớn đối với lịch sử loài người Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức không thể thoát ly những vấn đề chung của lịch sử triết học Mặc dù vậy, giữa Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức vẫn có những đặc điểm đặc thù của

nó Nghiên cứu về Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức, đặc biệt là nghiên cứu các quan niệm triết học là một vấn đề phức tạp, nhưng cũng rất lý thú, vì qua đó ta có thể hiểu biết sâu sắc thêm những giá trị về tư tưởng văn hoá của nhân loại Mặt khác, bản sắc văn hoá Việt Nam ảnh hưởng khá sâu sắc bởi nền Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức, do đó nghiên cứu những đặc điểm của Triết học Hy Lạp cổ đại trong mối quan hệ với đặc điểm của Triết học cổ điển Đức, đặc biệt là những tư tưởng nhân văn trong thời khai sáng sẽ giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn bản sắc văn hoá Việt Nam Đó là lý

do mà em chọn đề tài “Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học cổ điển Đức đã để lại những dấu ấn vàng son trong lịch sử tư tưởng phương Tây Hãy so sánh những đặc điểm chính của hai nền triết học này” làm đề tài tiểu luận.

Trang 4

NỘI DUNG

I TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC ĐÃ ĐỂ LẠI NHỮNG DẤU ẤN VÀNG SON TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG PHƯƠNG TÂY

1.1 Những vấn đề chung về Triết học

Trong quá trình khám phá thế giới, giải đáp những câu hỏi về nguồn gốc của con người, nguồn gốc của thế giới và vị trí của con người trong thế giới làm hình thành ở con người những quan niệm nhất định, trong đó có những yếu tố cảm xúc và trí tuệ, tri thức và niềm tin… Cùng với sự phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp của hoạt động thực tiễn, tư duy của con người không ngừng được “mài sắc” Sự ra đời của triết học cho thấy tính tích cực của tư duy con người đã đạt được bước chuyển biến về chất nhờ sự xuất hiện của tầng lớp lao động trí óc trong xã hội cổ đại

Từ khi ra đời, triết học đóng vai trò quan trọng trong nhận thức cũng như hoạt động của con người, Ph.Ăngghen viết: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” [1, tr.136] Nhưng

tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà thôi Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện mà muốn hoàn thiện thì cần nghiên cứu toàn bộ triết học từ thời đại trước

Trong lịch sử nhân loại ở phương Đông cũng như phương Tây, triết học

ra đời từ rất sớm Tuy nhiên, trong thời kỳ nguyên thủy con người chỉ mới có mầm mống của tư duy triết học ở trình độ thấp, mang tính chất huyền thoại Triết học chỉ thực sự tồn tại với tư cách là một môn khoa học khi nhân loại bước sang xã hội chiếm hữu nô lệ (ở phương Tây, tại Hy Lạp khoảng thế kỷ thứ VII trc CN, ở phương Đông như Trung Quốc, Ấn Độ… chế độ chiếm hữu nô lệ còn xuất hiện sớm hơn) Lúc đầu, triết học bao gồm tri thức của hầu hết các môn khoa học, triết học thậm chí còn coi là “khoa học của các khoa học” Qua thời gian và lịch sử do nhu cầu ngày càng đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu thế giới nên các khoa học cụ thể dần dần tách ra khỏi triết học để trở thành một môn nghiên

Trang 5

cứu độc lập Đổi tượng nghiên cứu của triết học cũng từng bước được xác lập Bản thân quan niệm về triết học cũng có sự thay đổi trong lịch sử

Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin: “Triết học là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới” Ăngghen khẳng định “vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học đặc biệt là của triết học hiện đại, là quan hệ giữa tư duy với tồn tại” [3, tr.267] Vấn đề cơ bản của triết học gồm hai mặt:

Mặt thứ nhất, tư duy và tồn tại (ý thức và vật chất) cái nào có trước cái nào có sau? Cái nào quyết định cái nào?

Mặt thứ hai, con người có khả năng nhận thức thế giới hay không?

Tùy theo cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học mà người ta phân chia thành hai trường phái: duy vật và duy tâm

Triết học duy vật cho rằng vật chất có trước, vật chất quyết định ý thức.

Con người hoàn toàn có thể nhận thức được thế giới, chỉ có những gì con người chưa biết chứ không có cái gì con người không biết Có những sự vật và hiện tượng mà các thế hệ hôm nay chưa biết nhưng cùng với sự phát triển của thực tiễn, của khoa học thì các thế hệ mai sau hoàn toàn có thể sẽ nhận thức được

Triết học duy tâm (dù là duy tâm chủ quan hay duy tâm khách quan) đều

cho rằng ý thức có trước, ý thức quyết định vật chất Nhìn chung thì triết học duy tâm phủ nhận khả năng nhận thức của con người nếu có nhận thức được thì con người chỉ có thể nhận thức được cái bề ngoài chứ không thể nhận thức được bản chất bên trong của các sự vật hiện tượng

Bên cạnh cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, lịch sử triết học còn diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai phương pháp: biện chứng

và siêu hình

Phương pháp biện chứng khẳng định các sự vật hiện tượng trong thế giới

tồn tại trong mối liên hệ phổ biến và vận động, phát triển không ngừng

Trang 6

Phương pháp siêu hình nhìn nhận thế giới trong sự cô lập, tách rời nhau,

tĩnh tại bất biến, nếu có vận động thì chỉ là sự tăng giảm về số lượng mà không

có sự biến đổi về chất

Triết học ra đời do kết quả của sự tách biệt giữa lao động chí óc và lao động chân tay Bên cạnh đó, triết học ra đời còn do tư duy nhân loại đã phát triển ở trình độ cao - trình độ hệ thống hóa, khái quát hóa và trừu tượng hóa Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ VIII-VI TCN gắn liền với sự ra đời của các nền văn minh cổ đại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy lạp… “Triết” theo nghĩa chữ Hán là trí - Sự hiểu biết của con người, là sự truy tìm bản chất của đối tượng trong quá trình nhận thức thế giới “Triết” theo nghĩa Án Độ là Darshna,là sự chiêm ngưỡng, suy ngẫm con người đến chân lý, là sự hiểu biết nói chung

“Triết học” theo tiếng Hy lạp là Philosophya (sự ham mê hiểu biết cộng với sự thông thái) Như vậy dù là ở phương Đông hay phương tây, Triết học thời cổ đại đều có nghĩa là sự hiểu biết, sự nhận thức chung của con người về thế giới

1.2 Sự hình thành và những thành tựu nổi bật của Triết học Hy Lạp cổ đại

Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời vào thế kỷ VI TCN và đạt đến đỉnh cao vào thế kỷ III TCN Vào thời cổ đại Hy Lạp là nước phát triển nhất Châu âu với lãnh thổ rộng lớn Hy Lạp là cầu nối, là điểm nút của giao lưu kinh tế và văn hoá giữa ba châu lục Âu - Á- Phi, việc giao lưu quan hệ với các nước rất phát triển Mặc dù ra đời muộn hơn so với các quốc gia phương đông như Ai Cập,

Ân Độ, Trung Quốc cổ đại nhưng nhờ được kế thừa và phát triển những tri thức tinh hoa của nhân loại nên kinh tế Hy Lạp phát triển nhanh, đặc biệt là công cụ lao động

Vào thế kỷ IX đến thế kỷ VII TCN, nền sản suất chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp đã phát triển cao,thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp Sự phát triển của thủ công nghiệp đã dẫn đến sự phát triển của thương nghiệp và hình thành các thành thị như Aten và SPác nổi tiếng thế giới Người Hy Lạp đã đóng được những chiến thuyền lớn cho phép họ vượt Địa Trung Hải đến những vùng đất

Trang 7

mới, tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc Nền văn hoá Hy Lạp thời kỳ này cũng phát triển mạnh mẽ với sự ra đời của hai tập trường ca bất

hủ là Iliát và Ôđixê đây là hai viên ngọc quý trong di sản văn hoá cổ đại của nhân loại Sự phân công lao động trong xã hội Hy Lạp cổ đại đã làm hình thành một tầng lớp những người lao động trí óc Nhờ đó các tri thức khoa học nảy nở

và phát triển , chính sự xuất hiện các tri thức khoa học sơ khai, như việc phát hiện ra lịch năm 12 tháng với 365 ngày của Ta lét, những phát kiến về toán học của TaLét và PiTaGo, về hình học của ƠCơLít, về vật lý học của Ácximét… đã tạo điều kiện rất lớn thúc đẩy sự hình thành và phát triển của triết học Hy Lạp Mặt khác cuộc đấu tranh giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ trên lĩnh vực tư tưởng, triết học đã diễn ra hết sức gay gắt Tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại phát triển hết sức phong phú và sâu sắc, một số trường phái còn ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều thế kỷ sau Quá trình hình thành và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại qua ba giai đoạn sau:

Triết học Hy Lạp trong giai đoạn hình thành và bước đầu phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ Từ thế kỷ VI đến thế kỷ V TCN là giai đoạn hình thành

và bước đầu phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp Đây cũng là giai đoạn khởi đầu của triết học Hy Lạp cổ đại và được đánh dấu bằng sự ra đời của trường phái duy vật Milê với các đại biểu là Talét, Anaximanđrơ, Anaximen và trường phái Êlê với các đại biểu như Xênôphan, Pácmênít, Dênông … Cũng trong giai đoạn này nổi bật lên đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật là Hêraclít Về phía chủ nghĩa duy tâm nổi lên trường phái của Pitago

Triết học Hy Lạp cổ đại trong giai đoạn phồn vinh của chế độ chiếm hữu

nô lệ Từ thế kỷ V TCN trở đi là thời kỳ hưng thịnh của chế độ chiếm hữu nô lệ

ở Hy Lạp chiến thắng của người Hy Lạp trong cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba

Tư (500 - 449 TCN) đã giúp họ mở rộng lãnh thổ và ảnh hưởng của mình trên toàn vùng Địa Trung Hải Hy lạp giờ đây bao gồm hàng trăm quốc gia thành bang với những hình thức nhà nước và trình độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau Các thành bang nói trên tuy liên minh với nhau nhưng lại mâu thuẫn với

Trang 8

nhau, đôi khi dẫn đến chiến tranh thôn tính lẫn nhau Cuộc chiến tranh Pơlôpônedơ(431- 40 4TCN) là biểu hiện của mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là

bộ phạn chủ nô dân chủ do Aten đứng đầu với một bên là bộ phận chủ nô quý tộc do Spáctơ đứng đầu Trong cuộc chiến tranh này phía Aten bị thất bại kéo theo sự suy giảm lực lượng của phái chủ nô dân chủ Về sau, phía Aten tuy khôi phục được chính quyền nhưng đến nửa cuối thế kỷ IV TCN lại bị Maxeđoan chinh phục

Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội phức tạp và đầy biến động nói trên về khách quan đã thúc đẩy triết học Hy lạp cổ đại phát rtiển lên đỉnh cao : vừa sâu sắc, vừa phong phú về nội dung, vừa đa dạng, vừa phức tạp trong hình thức thể hiện của các trường phái và của các hệ thống Trường phái duy vật tiếp tục phát triển đạt đến đỉnh cao với học thuyết nguyên tử luận của Đêmôcrít Trường phái duy tâm thông qua đại biểu xuất sắc là Platon cũng phát triển thành một hệ thống hoàn chỉnh Ngoài hai trường phái lớn nói trên còn xuất hiện một trường phái mới, đó là trường phái nguỵ biện (Sôphít) Cũng trong thời kỳ này đã sản sinh ra một bộ óc bách khoa toàn thư, một nhà triết học uyên bác nổi tiếng thời cổ đại là Arixtốt

Triết học Hy Lạp trong thời kỳ khủng hoảng và suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ Thời kỳ khủng hoảng và suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy

Lạp kéo dài từ thế kỷ IV TCN cho đến khi chế độ nô lệ ở Hy Lạp, La Mã bị sụp đổ (thế kỷ V sau công nguyên) Trong thời kỳ lịch sử này đã có nhiều sự kiện ảnh hưởng đến sự phát triển và suy tàn của triết học Hy Lạp cổ đại Sự kiện đầu tiên là sự thôn tính của một nước ở phía bắc Hy Lạp đối với toàn bộ bán đảo Hy Lạp Tiếp theo là cuộc viễn chinh của Alếchxăngđrơ tới nhiều nước ở châu á, châu Phi đã biến Hy Lạp thành một đế chế rộng nhất thời cổ đại Đây cũng là thời kỳ mà ngôn ngữ và văn hoá của Hy lạp đã theo đội quân viễn chinh bành trướng đến các nước bị nó xâm lược

Tuy nhiên chính La Mã lại bị nền văn hoá rực rỡ lâu đời của Hy Lạp chinh phục lại.Có thể nói thời kỳ Hy Lạp hoá là đỉnh cao của sự giao lưu văn

Trang 9

hoá giữa các quốc gia thuộc đế chế Hy Lạp, đồng thời nó cũng mang đến cho triết học Hy Lạp cổ đại những sắc thái mới và những nét đặc thù so với thời kỳ trước Trong thời kỳ này các nhà triết học ít chú ý đến những vấn đề về tự nhiên, xã hội mà tập trung tìm hiểu vấn đề hạnh phúc của con người, làm thế nào để con người thoát khỏi khổ đau Đây cũng là thời kỳ lan truyền của chủ nghĩa triết trung và chủ nghĩa hoài nghi Còn các nhà yêu nước, dân chủ, tiến bộ vẫn kiên trì chủ nghĩa duy vật chống lại chủ nghĩa duy tâm.Tiêu biểu nhất trong

số họ là Êpiquya

1.3 Sự hình thành và những thành tựu nổi bật của Triết học cổ điển Đức

Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử tư tưởng Tây Âu và thế giới cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX Đây là đỉnh cao của thời kì triết học cổ điển phương Tây, đồng thời có ảnh hưởng to lớn tới triết học hiện đại

Triết học cổ điển Đức ra đời và phát triển trong những điều kiện của chế

độ chuyên chế nhà nước Phổ và nó là sự bảo vệ về mặt tư tưởng cho chế độ đó Thời kì cuối thế kỉ XVIII, cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789) ảnh hưởng mạnh đến nước Phổ, và Hêghen là một người tán dương cuộc cách mạng đó Đồng thời xã hội Phổ lúc này với những điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt đã làm nảy sinh hệ tư tưởng có tính chất tiểu tư sản, thỏa hiệp Tất cả cái đó tạo nên nét riêng của triết học cổ điển Đức

Khái niệm “Triết học cổ điển Đức” dùng để chỉ sự phát triển triết học của nước Đức ở nửa cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, được mở đầu từ hệ thống triết học của Cantơ (1724 - 1804) trải qua Phíchtơ (1762 - 1814), Sêlinh (1775 - 1854) đến triết học duy tâm của Hêghen (1770 -1831) và triết học duy vật nhân bản của Phoiơbắc (1804 - 1872)

Do điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội hết sức đặc biệt của nước Đức cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, triết học cổ điển Đức chứa đựng một nội dung cách mạng, nhưng hình thức của nó thì cực kì “rối rắm” và có tính chất bảo thủ

Trang 10

Triết học cổ điển Đức ra đời trong điều kiện lịch sử hết sức đặc biệt Nước Đức vào cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX vẫn là một nước rất lạc hậu về kinh tế và chính trị so với nhiều nước ở châu Âu như Anh và Pháp Đó còn là một quốc gia phong kiến điển hình, với 360 tiểu vương quốc tự lập trong một liên bang Đức chỉ còn là hình thức, lạc hậu về kinh tế và chính trị Thủ công nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp bị đình đốn Triều đình vua Phổ Phriđrich Vinhem (1770 - 1840) vẫn tăng cường quyền lực duy trì chế độ quân chủ phong kiến, cản trở đất nước Đức phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa Cả đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng Đây là một trong những thời kì hèn kém nhất trong lịch sử nước Đức (Ăngghen)

Trước đòi hỏi của quá trình phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu, khoa học tự nhiên đã đạt nhiều thành tựu lớn: Phát hiện ra điện, phát hiện ra ôxy và bản chất sự cháy của Antoine Lavoisier, việc phát hiện ra tế bào của Robert Hooke, định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của Lômônôxốp, học thuyết về dưỡng khí của Pritski và Sielo Bối cảnh chính trị - xã hội và sự phát triển của khoa học ở Tây Âu và nước Đức lúc đó chứng tỏ sự hạn chế và bất lực của phương pháp tư duy siêu hình trong việc lý giải bản chất của các hiện tượng tự nhiên và thực tiễn xã hội đang diễn ra cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX Nó đòi hỏi cần có cách nhìn mới về bản chất các hiện tượng tự nhiên và tiến trình lịch sử nhân loại, cũng như cần có quan niệm mới về khả năng và vai trò của con người Triết học cổ điển Đức ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu đó

II SO SÁNH NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

2.1 Triết học Hy Lạp cổ đại có sự phân chia và đối lập giữa các trường phái triết học, trong khi Triết học cổ điển Đức đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm

Triết học Hy Lạp cổ đại Ỏ bản thể luận, tính quyết liệt và triệt để của

cuộc đấu tranh này là cơ sở cho những vấn đề khác Đêmôcrít kiên định lập

Ngày đăng: 21/09/2021, 07:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w