7 Hình 1.5 a- Máy nghiền kiểu bi b- Máy nghiền kiểu trục lăn 8 Hình 1.6 ĐKdòng nhiên liệu than với hệ thống sử dụng máy nghiền kiểu trục quay và máng với lượng tích trữ nhiên liệu thấp
Trang 1-
` LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGHIÊN CỨU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÂY TRUYỀN CẤP THAN CHO LÒ HƠI NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN
NGÀNH : TỰ ĐỘNG HÓA HỌC VIÊN : DƯƠNG MẠNH LINH NGƯỜI HD KHOA HỌC: PGS.TS VÕ QUANG LẠP
Trang 2NGÀNH: TỰ ĐỘNG HÓA
NGHIÊN CỨU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÂY TRUYỀN CẤP
THAN CHO LÒ HƠI NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN
DƯƠNG MẠNH LINH
TN
Trang 4Trong luận văn có sử dụng một số tài liệu tham khảo như đã nêu trong phần tài liệu tham khảo
Tác giả luận văn
Dương Mạnh Linh
Trang 5AC Altemating Current
DC Direct Current
EDM Electrocdischarge machining
MCU Machine Control Unit
CPU Central processing Unit
DAC Digital Analog Convert
PM Permanent Motor
VR Variable – Reluctance steper motor
PWM Pulse Width Modulation
PID Proportional Intergal Derivative
FLC Fuzzy Logic Control
MRAFC Model Reference Adaptive Fuzzy Controller DCS Distributed Control System
LCS Local Control Station
PS Process Station
ES Engineering Station
OS Operator Station
CPU Central Processing Unit,
FCS Field Control Station
RAM Random Access Memory
Trang 6Hình 1.1 Các bước chuần bị trước khi đưa than vào buồng đốt 1 Hình 1.2 Sơ đồ hệ thống nghiền than và vận chuyển than nghiền 5
Hình 1.4 So sánh ảnh hưởng không khí thừa đối với máy cấp thể tích và
máy cấp trọng lượng
7
Hình 1.5 a- Máy nghiền kiểu bi
b- Máy nghiền kiểu trục lăn
8
Hình 1.6 ĐKdòng nhiên liệu than với hệ thống sử dụng máy nghiền kiểu
trục quay và máng với lượng tích trữ nhiên liệu thấp
12
Hình 1.7 Sơ đồ ĐK dòng than có bù lượng than cấp và điều khiển song
song lưu lượng gió cấp một và nhiệt độ hỗn hợp than – gió
Hình 2.10 Hệ thống điều khiển kín dùng Loadcell 37 Hình 2.11 Hệ thống điêu khiển kín dùng phản hồi số 37 Hình 2.12 Hệ thống điều chỉnh tốc độ có đảo chiều Thyristor - động cơ 39
Trang 7Hình 4.2 Cấu trúc phương pháp điều khiển thích nghi trực tiếp 67 Hình 4.3 Cấu trúc của phương pháp điều khiển thích nghi gián tiếp 67 Hình 4.4 Điều khiển thích nghi có mô hình theo dõi 68
Trang 8Hình 4.8 Quan hệ vào ra của luật hợp thành tuyến tính 72 Hình 4.9 Sự hình thành ô suy luận từ luật hợp 72
Hình 4.11 Bộ điều khiển mờ với hệ số khuếch đại đầu ra K 76 Hình 4.12 MRAFC điều chỉnh hệ số khuếch đại đầu ra 76 Hình 4.13 MRAFC điều chỉnh hệ số khuyếch đại đầu ra và hệ số tích
phân sai lệch đầu vào
78
Hình 4.14 Định nghĩa các biến vào ra của bộ điều khiển mờ thích nghi 79 Hình 4.15 Xây dựng các luật điều khiển cho bộ điều khiển mờ thích nghi 79 Hình 4.16 Bề mặt đặc trưng cho quan hệ vào ra của bộ điều khiển mờ
Hình 4.21 Kết quả mô phỏng khâu tốc độ ứng với 2 trường hợp sử dụng
bộ điều khiển mờ thích nghi và PID
CS 3000 của nhà máy nhiệt điện Phả Lại
98
Trang 9Nội dung Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục ký hiệu và chữ viết tắt
Danh mục hình vẽ
Mục lục
Lời nói đầu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CẤP LIỆU CHO LÒ HƠI
NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN
1.1.2 Sự trộn nhiên liệu than - dầu, than – nước 2
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ KỸ THUẬT TRONG CÂN BĂNG ĐỊNH
LƯỢNG THAN CUNG CẤP CHO LÒ HƠI NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN
2.1 Vai trò của hệ thống cân băng trong dây chuyền nhà máy 24 2.2 Xây dựng nguyên lý làm việc của cân băng định lượng 25
Trang 102.4 Các phương án thiết kế điều khiển cân băng định lượng 38
2.5 Các hệ thống truyền động cho cân băng 40 2.5.1 Hệ thống truyền động chỉnh lưu thyristor - động cơ một chiều 40 2.5.2 Hệ thống truyền động điều chỉnh xung áp –động cơ một chiều (XA-Đ) 44 2.5.3 Hệ thống truyền động vecto biến tần – động cơ KĐB 45
CHƯƠNG 3: TỔNG HỢP HỆ THỐNG
3.1 Sơ đồ khối và sơ đồ cấu trúc của hệ thống 49
3.2.2 Hàm số truyền của bộ biến đổi PWM 50 3.2.3 Hàm truyền của máy phát tốc một chiều 51 3.2.4 Hàm truyền của thiết bị lấy tín hiệu dòng điện 52
điều khiển PID
59
Trang 114.1 Tính phi tuyến của bộ điều khiển khối lượng 63 4.2.Tổng hợp hệ thống sử dụng bộ điều khiển mờ thích nghi 64
khiển cân băng
78
PHẦN CHUYÊN ĐỀ: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ DCS VÀ ỨNG DỤNG
DCS CHO NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN PHẢ LẠI
86
5.2 Giới thiệu tổng quan về hệ thống DCS và ứng dụng của DCS tại nhà máy
nhiệt điện Phả Lại
93
5.3 Ứng dụng của DCS trong nhà máy nhiệt điện phả lại
TÀI LIỆU THAM KHẢO
98
113 PHỤ LỤC :TÍNH TOÁN CÁC THÔNG SỐ HỆ TRUYỀN ĐỘNG 115
Trang 12hiện đại hoá Nguồn điện năng đóng một vai trò quan trọng Trong đó nhà máy nhiệt điện cung cấp một lượng điện đáng kể vào lưới điện quốc gia Trong nhà máy nhiệt điện có nhiều khâu chứa đựng những kỹ thuật mới và phức tạp Một trong những khâu đó là hệ thống cân băng cấp liệu cho lò hơi Vì vậy tôi chọn
luận văn với đề tài: “Nghiên cứu nâng cao chất lượng dây truyền cấp than cho
lò hơi nhà máy nhiệt điện”
Trong phạm vi đề tài này sẽ đi giải quyết 2 vấn đề đó là:
- Khảo sát, nâng cao chất lượng điều khiển trong dây truyền cấp than cho nhà máy nhiệt điện nói chung và các nhà máy có dây truyền cấp liệu tương tự bằng bộ điều khiển mờ thích nghi
- Vấn đề điều khiển phân tán DCS và tìm hiểu ứng dụng DCS trong nhà máy nhiệt điện Phả Lại
Trong quá trình hoàn thành luận văn tôi đã có được sự giúp đỡ và chỉ dẫn rất tận tình của các thầy, cô giáo Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy PGS.TS Võ Quang Lạp và các thầy các cô ở khoa sau đại học , khoa điện và khoa điện tử- Trường ĐHKT Công n ghiệp Thái Nguyên Đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này Tuy vậy với kinh nghiệm và trình độ thực tế của tôi còn
bị hạn chế nên trong quá trình thiết kế tôi không tránh khỏi những thiếu sót Nên bản luận văn của tôi vẫn còn có chỗ chưa được hoàn thiện Tôi rất mong được
sự chỉ dẫn chân thành của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp để bản luận văn của tôi đạt chất lượng tốt
Tôi xin chân thành cám ơn!
Thái nguyên, ngày 30 tháng 08 năm 2011
Tác giả luận văn
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CẤP LIỆU CHO
LÒ HƠI NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN
1.1 Các yêu cầu về nhiên liệu
1.1.1 Các yêu cầu về nhiên liệu than
Than là nhiên liệu chính sử dụng cho quá trình cháy trong lò hơi nhà máy nhiệt điện chạy than Ngoài đốt than người ta còn kèm đốt dầu FO hoặc đốt dầu FO lúc khởi động, ngưng lò hay khi phụ tải thấp Lượng nhiệt tỏa ra lớn nhất khi chỉ đốt dầu là tương đương với 30% công suất định mức của lò hơi Lò hơi khi đốt than nếu vận hành ở chế độ lớn hơn 60% công suất định mức thì sẽ không cần đốt dầu hỗ trợ
Than được nghiền trước khi được thổi vào buồng đốt của lò hơi, đặc tính điều khiển thiết bị đốt than của hệ thống than nghiền khác nhau thì cũng khác nhau Một điều khác nhau cơ bản giữa các thiết bị đốt lò là thời gian lưu giữ than trong buồng đốt cho quá trình cháy
Hình 1.1: Các bước chuần bị trước khi đưa than vào buồng đốt
Buồng đốt
Boongke Boongke Boongke
Buồng đốt Buồng đốt
Kho chứa than
Kế hoạch chuẩn bị cấp than
Vận chuyển than Kho chứa than
Thùng chứa theo kế hoạch đốt
Xử lý than nghiền
Làm sạch
Nghiền
Phân loại
Trang 14Nhiên liệu than trước khi được đưa vào lò hơi phải đảm bảo các yếu tố, tiêu chuẩn đặt ra để quá trình cháy trong lò hơi là tối ưu Đánh giá chất lượng than bởi các yếu tố:
- Độ ẩm của than
- Tro chứa trong than
- Nhiệt trị của than
- Độ mịn của than
1.1.2 Sự trộn nhiên liệu than - dầu, than – nước
Ngoài việc sử dụng than khô làm nhiên liệu cháy thì trong một số nhà máy người ta còn dùng nhiên liệu than – dầu và than – nước Đó là sự kết hợp của các nhiên liệu khác nhau để giảm giá thành của nhiên liệu
Nhiên liệu than – dầu là sự hòa trộn giữa than nghiền và dâù trở thành hỗn hợp keo Trong hỗn hợp này thì than chứa khoảng xấp xỉ 50% Hỗn hợp này tạo nên thể vẩn (thể lỏng với những hạt chất rắn bay lơ lửng) Nhiên liệu đốt là than – dầu
có giá rẻ hơn giá nhiên liệu đốt chỉ là than Với cùng một lượng như nhau thì nhiên liệu than – dầu sẽ tỏa ra nhiệt lượng cao hơn nhiên liệu chỉ là than khô
Bên cạnh đó, hỗn hợp than – nước có thể được sử dụng (hỗn hợp gồm 70% than nghiền), hỗn hợp này phải đảm bảo than ở thể vẩn Ưu điểm của loại nhiên liệu này là khắc phục được giá thành của nhiên liệu dầu Nhưng nhược điểm lớn là làm giảm hiệu suất lò bởi vì sự tăng lượng ẩn nhiệt mất cần cung cấp cho nước bốc hơi trong khói
Tuy nhiên, cho dù dùng loại nhiên liệu than – dầu hay than – nước đều cần
hệ thống nghiền than, hệ thống trộn nhiên liệu, hệ thống trữ nhiên liệu
Trang 15Các thông số kỹ thuật của lò hơi Nhà máy nhiệt điện Phả Lại
- Kiểu lò : БKZ – 220 – 100 – 10C
- Năng suất hơi quá nhiệt D = 220T/h
- Nhiệt độ hơi quá nhiệt: Tqn = 5400C
- Áp suất hơi quá nhiệt: Pqn = 100 ata
- Áp suất hơi bão hòa: Pbh = 112,6 ata
- Nhiệt độ nước cấp: t0 = 2300C
- Nhiệt độ khói thoát: t0kt = 1330C
- Hiệu suất thô của lò: ηThô = 86,05%
- Tổn thất do khói thoát q2 = 5,4%
- Tổn thất do tỏa ra môi trường q5 = 0,54%
- Tổn thất do cơ giới: q4 = 8%
- Tổn thất do xỉ măng đi: q6 = 0,06%
1.2 Hệ thống nghiền và vận chuyển than nghiền
Than cấp cho lò hơi được nghiền nhỏ bởi máy nghiền thành các dạng bột rồi được thổi phun vào trong buồng đốt Đứng trên quan điểm điều khiển thì quá trình đốt bụi than nghiền tương tự như đốt nhiên liệu khí, nhiệt lượng tăng rất nhanh theo
sự thay đổi của lưu lượng than cấp Tùy thuộc vào loại máy nghiền được sử dụng
mà dung lượng than chứa trong máy nghiền là nhiều hay ít trước khi được đưa vào buồng đốt Mỗi hệ thống nghiền than có thể phục vụ cho một hay nhiều lò đốt Thực hiện được điều đó thì các ống dẫn than chính vào mỗi lò có kích cỡ và các hệ thống lưu thông dòng than tương ứng với từng lò
Hệ thống nghiền than bao gồm có bốn bộ phận cơ bản:
(1) Hệ thống cấp than
(2) Hệ thống nghiền và phân loại than
(3) Hệ thống luồng không khí và quạt thổi hút
(4) Hệ thống sấy than nghiền
Trang 161.2.1 Hệ thống cấp và nghiền than
Hệ thống nghiền than cho 1 lò gồm 4 máy nghiền, mỗi máy nghiền gồm 2 boongke than nguyên, 2 máy thứ cấp than nguyên, máy nghiền có cấu tạo đầu ra kép, 2 bộ phận phân ly than thô, hệ thống thông gió cấp 1 và các hệ thống liên quan
để sấy và cấp than được nghiền tới 32 rãnh vòi đốt than bột Các boongke than nguyên liệu liên tục được cấp đầy bằng hệ thống băng tải Ở máy nghiền, than được nghiền nhỏ với kích cỡ đạt yêu cầu (tới độ mịn yêu cầu) Sau đó than nghiền được
hệ thống gió cấp 1 (hỗn hợp gió nóng và gió lạnh) vận chuyển qua bộ phân ly than thô và bộ phân ly xyclone tới các rãnh và vòi đốt
Hệ thống cấp và nghiền than bao gồm:
- Máy cấp than nguyên
- Máy nghiền và bộ phận phân li
1.2.1.1 Máy cấp than nguyên
Than được vận chuyển theo băng tải lên đỉnh boongke than, ở đầu ra của boongke than nguyên được cấp xuống đầu vào máy cấp than nguyên qua ống rót hình nón bởi một van điều khiển Thông thường mỗi lò hơi được trang bị 8 máy cấp than nguyên (2 máy cấp cho 1 máy nghiền) đặt ở đầu ra của boongke than nguyên
Động cơ dẫn động máy cấp than nguyên có thể thay đổi tốc độ và được điều chỉnh tải theo sự thay đổi của máy nghiền Khi yêu cầu tải tăng lên thì tốc độ máy cấp phải được điều chỉnh tăng lên để đáp ứng lượng than yêu cầu Trong máy cấp than nguyên có một hệ thống cân điện tử cung cấp chỉ số lưu lượng than tại chỗ, từ
xa và tổng lượng than qua máy nghiền Hệ thống cấp than được thiết kế để đảm bảo việc cung cấp than từ boongke vào máy nghiền một cách chính xác, tin cậy và không bị gián đoạn Than từ boongke được cấp ở một tốc độ xác định được điều khiển trên băng chính của máy cấp than nguyên
Trang 17Với loại máy này thì lượng than cấp được xác định bởi thể tích than Khi tốc
độ cấp tăng lên thì thể tích than được cấp tăng lên Nhưng nhược điểm của loại này là khi trọng lượng than thay đổi với cùng một thể tích xác định thì trọng lượng than cấp vào máy nghiền thay đổi Vì vậy nó cũng làm thay đổi năng lượng hóa năng đưa vào buồng đốt lò, điều này cũng dẫn đến sai lệch về tỉ lệ than gió
do vậy hiệu suất lò giảm
- Máy trọng lượng:
Than được cấp tới máy nghiền dựa trên cơ sở khối lượng than cấp Khối lượng than cấp tới lò tỷ lệ với tín hiệu điều khiển tới máy cấp Than được vận chuyển trong máy cấp bởi hệ thống dây chuyền Tốc độ cấp than được thay đổi bởi hệ thống dây chuyền Khi trọng lượng than thay đổi thì thiết bị trọng lượng sẽ
Trang 18điều chỉnh vị trí của thanh điều chỉnh mức than (thanh chắn than trên dây chuyền)
để duy trì mức than chuẩn
Hình 1.3: Máy cấp đo trọng lượng
Ưu điểm chính của máy cấp đo khối lượng so với máy cấp đo thể tích là nó
bù được sự thay đổi về độ ẩm của than, tuy nhiên nó không bù sự thay đổi về nhiệt lượng cấp vào lò do có sự thay đổi về hàm lượng tro trong than TÍn hiệu điều khiển máy cấp sẽ phụ thuộc tín hiệu yêu cầu lượng than cấp vào lò Đê than cấp cháy hết thì cần có lượng không khí tương ứng, ảnh hưởng lượng không khó thừa khi sử dụng máy cấp than loại thể tích và máy cấp than loại trọng lượng được biểu diễn
trên hình 1.4
Trang 19Hình 1.4: So sánh ảnh hưởng không khí thừa đối với máy cấp thể tích và máy cấp
Có 3 phương pháp nghiền:
- Phương pháp va chạm
- Phương pháp tiêu hao
- Phương pháp ép nhỏ
Phân loại máy nghiền:
- Máy nghiền kiểu bi
- Máy nghiền kiểu trục lăn
- Máy nghiền kiểu ống bi
Trang 20Bộ phận phân li làm việc theo nguyên tắc li tâm Sử dụng một bộ phần quay tạo ra lực li tâm lớn, than chịu ảnh hưởng của lực li tâm sẽ đập vào màng lọc bao gồm hơn 200 lỗ nhỏ Ở đây than có kích thước lớn không qua được các lỗ nhỏ của màng lọc sẽ rơi xuống quay trở laị máy nghiền
Có 2 loại phân li:
- Phân li động
- Phân li tĩnh
Trang 211.2.2 Hệ thống vận chuyển và cấp than nghiền
Than sau được nghiền đạt độ mịn yêu cầu (than bột) sẽ được vận chuyền đến buồng đốt để phục vụ cho quá trình cháy trong lò hơi Than bột được vận chuyển bởi 1 hệ thống gió cấp 1 liên tục được thổi qua máy nghiền, đầu ra của máy nghiền
là hỗn hợp than và gió sẽ được đưa đến các vòi đốt qua các đường ống kim loại
Có 2 dạng lực được dùng để vận chuyển than bột:
- Loại áp lực
- Loại lực hút
1.3 Hệ thống điều khiển nhiên liệu than
Hệ thống điều khiển nhiên liệu than là hệ thống quan trọng bậc nhất, nó đảm bảo cân bằng năng lượng giữa đầu ra và đầu vào Lượng đặt cho hệ điều khiển nhiên liệu là tổng năng lượng điện yêu cầu (MW) được tính toán quy đổi bằng tổng nhiệt năng yêu cầu
Điều khiển lượng than đồng thời yêu cầu phải điều khiển luồng gió để vận chuyển lượng than đó và hỗn hợp than – khí đưa vào buồng đốt đảm bảo quá trình cháy Than cấp vào buồng đốt được lấy từ đầu ra của máy nghiền Lượng than ở đầu
ra của máy nghiền phụ thuộc vào một số yếu tố cơ bản sau:
- Tốc độ cấp than nguyên
- Lưu lượng gió cấp 1
- Chất lượng than nghiền
Khi có yêu cầu thay đổi nhiên liệu thì tốc độ máy cấp than sẽ thay đổi, do vậy lượng than đưa xuống máy nghiền thay đổi Tương ứng với quá trình điều khiển than thì gió cấp 1 cũng phải được điều khiển theo than Khi lượng than tăng lên thì lưu lượng gió cấp 1 đưa tới máy nghiền cũng tăng lên để đảm bảo vận chuyển lượng than cần thiết đến buồng đốt Nếu tốc độ cấp độ tăng lên mà lưu lượng gió cấp 1 không đủ để mang than than đi thì ở máy nghiền sẽ không cân bằng giữa lưu lượng vào và lưu lượng ra Đối tượng cần điều khiển sẽ thay đổi lưu lượng gió cấp 1 là van điều chỉnh lưu lượng gió nóng vào máy nghiền Giả sử khi yêu cầu cấp than
Trang 22tăng lên, lưu lượng than ra khỏi máy nghiền tăng, do vậy nhiệt để sấy than phải tăng lên Để đảo bảo nhiệt độ hỗn hợp than và gió thì khi điều khiển lưu lượng gió cấp 1 phải điều khiển lưu lượng gió nóng (nếu điều khiển lưu lượng gió cấp 1 bằng cánh hướng điều chỉnh lưu lượng gió lạnh sẽ không đảm bảo nhiệt độ để sấy than)
Lưu lượng than được chuyển từ máy nghiền phụ thuộc vào: khối lượng than nghiền, mức than trong máy nghiền, lưu lượng gió cấp 1 Mức than trong máy nghiền được giữ không đổi, khi mức máy nghiền tăng lên thì yêu cầu tốc độ cấp than từ máy cấp than sẽ giảm đi và ngược lại Như vậy điều khiển cấp nhiên liệu là điều khiển lưu lượng than và gió cấp 1
Ngoài vấn đề điều khiển lưu lượng than và gió vận chuyển than thì nhiệt độ hỗn hợp của nhiên liệu than và gió cũng được điều khiển để giữ ở mức cố định Nếu hỗn hợp nhiên liệu quá khô có thể gây cháy trong máy nghiền, gây hư hại thiết bị, nếu hỗn hợp nhiên liệu qua ẩm thì dễ gây vón cục than trong quá trình vận chuyển
và gây giảm hiệu suất lò hơi
Tóm lại để điều khiển nhiên liệu nghiền đến vòi đốt bao gồm các hệ thống điều khiển:
- Điều khiển tốc độ máy cấp than nguyên
- Điều khiển hệ thống vận chuyển than nghiền ( điều khiển lưu lượng gió cấp một vào máy nghiền )
- Điều khiển nhiệt độ hỗn hợp dòng nhiên liệu than ( than + gió )
Trong đó hệ thống điều khiển tốc độ máy cấp than nguyên và điều khiển lưu lượng gió cấp một ( điều khiển lưu lượng nhiên liệu tại đầu ra của máy nghiền ) là
cơ bản còn hệ thống điều khiển nhiệt độ hỗn hợp than và gió chỉ là để đảm bảo chất lượng than trước khi vào buồng đốt
Khi điều khiển nhiệt độ hỗn hợp nhiên liệu than và gió, thường chiến lược điều khiển chỉ là điều khiển với 1 vòng điều chỉnh nhiệt độ do không cần yêu cầu về điều khiển qua khắt khe như độ chính xác, đáp ứng không cần quá nhanh
Trang 231.3.1 Hệ thống điều khiển dòng than nghiền
Với mỗi lò hơi cụ thể thì có những khối logic điều chỉnh riêng, những khối logic này chứa các hàm chức năng, tính toán để điều khiển bao gồm: điều khiển hỗn hợp than – khí, điều khiển than cấp và điều khiển gió cấp 1
Đối với loại máy nghiền sử dụng quạt gió sơ cấp trước máy nghiền để vận chuyển than nghiền, thì người ta có thể chỉ điều khiển máy nghiền riêng biệt và có tín hiệu về giới hạn tốc độ cấp than từ hệ thống gió vận chuyển
Đối với loại máy nghiền hoạt động dưới 1 áp suất âm (do có 1 quạt hút gió được đặt giữa máy nghiền và vòi đốt) thì cũng tùy thuộc vào đặc tính trữ của than nghiền ta cũng có các chiến lưọc điều khiển khác nhau Đối với loại máy nghiền có thể tích bé, tích chữ nhiên liệu ít thì từ tín hiệu cơ bản yêu cầu nhiên liệu than được đưa song song đồng thời tới điều khiển máy cấp và quạt hút Còn đối với loại máy nghiền có thể tích lớn và khả năng tích trữ than lớn, người ta có thể sử dụng tín hiệu
từ mức của máy nghiền như là tín hiệu của quá trình điều khiển Còn tín hiệu đến yêu cầu quạt hút được dùng như tín hiệu Feedforward cho điều khiển máy cấp Mức than sẽ thay đổi chậm không đáp ứng được quá trình điều khiển khi tải thay đổi nhanh nên có tín hiệu feedfordward là cần thiết
Hệ thống điều khiển máy nghiền trục quay và máng với lượng tích trữ nhiên
liệu thấp của hãng BabCock và Wilcock được trình bày trên hình 1.6
Trang 24Hình 1.6: Điều khiển dòng nhiên liệu than với hệ thống sử dụng máy nghiền kiểu
trục quay và máng với lượng tích trữ nhiên liệu thấp
Lưu lượng than cấp cho buồng đốt được điều khiển nhờ điều khiển tốc độ máy cấp than vào máy nghiền và điều khiển lưu lượng gió cấp 1 qua máy nghiền để vận chuyển than Tín hiệu than nghiền yêu cầu (a) được tính toán từ tín hiệu yêu cầu nhiên liệu Bộ tính % phân bố tải (b) xác định yêu cầu phân bố tải của các máy nghiền Tín hiệu yêu cầu lượng than nghiền (c) được gửi tới điều khiển tốc độ máy cấp than Tín hiệu này cũng là điểm đặt cho hệ thống điều khiển gió cấp 1 (d) Tín hiệu đo lưu lượng gió cấp 1 (e) được phản hồi về mạch điều khiển than cấp cân băng với lượng đặt qua bộ điều khiển tỷ lệ (f) để điều chỉnh tốc độ cấp than phù hợp với lượng gió 1 tín hiệu tốc độ than cấp được gửi tới hệ thống điều khiển chung của
lò và được tính toán để phối hợp các máy nghiền khác trong hệ nhiều máy nghiền
Trang 25Khi tốc độ máy cấp tăng quá so với tín hiệu về yêu cầu gió tức là lưu lượng gió sẽ không đủ để đốt cháy than, hiệu suất đốt lò sẽ giảm
Điều khiển gió với vòng điều chỉnh áp suất gió, tín hiệu áp suất gió thực là tín hiệu quá tình đưa về phản hồi về bộ điều khiển gió Tín hiệu đo được của gió sơ cấp là độ chênh áp giữa 2 đoạn ống, bộ khai căn có tác dụng tính ra lưu lượng gió
Điều khiển nhiệt độ hỗn hợp than – gió trong máy nghiền với vòng điều chỉnh nhiệt độ Bộ điều khiển PI (h) là bộ điều khiển nhiệt độ hỗn hợp than – gió Đối tượng cần điều khiển là cánh hướng gió nóng và gió lạnh, vị trí tương quan giữa 2 cánh này được điều chỉnh bởi bộ phân bố tải tỷ lệ (i) Nhiệt độ máy nghiền được điều khiển để giữ ở mức cố định bởi giá trị đặt từ người vận hành
Một mạch điều khiển bù than cấp và điều khiển song song gió cấp 1 và nhiệt
độ hỗn hợp than – gió được biểu diễn trên hình 1.7 Các khối chức năng tương tự như sơ đồ trên hình 1.6 Tín hiệu điều khiển tốc độ than cấp được đưa sang như một tín hiệu bù (feedforward) cho mạch điều khiển cánh hướng gió nóng qua bộ điều khiển (d) Tín hiệu điều khiển cánh hướng gió nóng lại được đưa sang điều khiển cánh hướng van gió lạnh như một tín hiệu bù để ổn định nhiệt độ hỗn hợp than – khí qua bộ (k) Với sự phối hợp điều khiển hai cánh hướng thì ta điều chỉnh được cả lưu lượng gió cấp một và nhiệt độ hỗn hợp than – gió Vòng điều khiển này thường có tín hiệu phản hồi là nhiệt độ hỗn hợp và lưu lượng gió cấp một
Một tín hiệu tốc độ thực của máy cấp than được gửi tới khối điều khiển Logic trong hệ thống điều khiển lò hơi Chú ý rằng, ở trạng thái ổn định, gió cấp một là không đổi với mọi tải, lưu lượng than nghiền căn cứ vào hàm quan hệ của mức than trong máy nghiền
Một loại máy nghiền than kiểu bi hay được sử dụng như thế đã được đề cập
ở phần trên Với hệ thống nghiền này than nghiền sẽ có thời gian lưu lại một vài phút trong máy Nếu mức than nghiền không đổi thì độ nhạy của hệ thống là yêu cầu đối với mỗi sự thay đổi của than cấp nhưng đáp ứng tốt với yêu cầu tải Sơ đồ điều khiển hệ thống này được biểu diễn trên hình 1.7
Trang 26
Hình 1.7: Sơ đồ điều khiển dòng than có bù lượng than cấp và điều khiển song song
lưu lượng gió cấp một và nhiệt độ hỗn hợp than – gió
Mức than nghiền (a) có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân: do người vận hành, do rò rỉ hoặc không khí giãn nở do nhiệt Khi mức than thay đổi tín hiệu của
bộ điều khiển mức (b) sẽ thay đổi tốc độ cấp than cho phù hợp với lượng than yêu cầu Tín hiệu yêu cầu than nghiền (c) là tín hiệu đặt cho bộ điều khiển gió cấp một (d) và điều khiển lực gió quạt hút Sự thay đổi cánh hướng quạt hút sẽ thay đổi lượng khói gió nhờ khóa liên động Bộ điều khiển khói gió (f) sẽ làm thay đổi lưu lượng gió lạnh làm thay đổi nhiệt độ hỗn hợp than – gió Bộ điều khiển cánh hướng của gió nóng (g) sẽ điều chỉnh lưu lượng gió nóng để đưa nhiệt độ hỗn hợp về nhiệt
độ đặt
Trang 27Bộ phân ly than (e) là một thiết bị độc lập với hệ thống điều khiển than nghiền và điều khiển gió, nó tổng hợp sai lệch áp lực phân ly than nghiền để tính toán và gửi tín hiệu phản hồi tương ứng với lưu lượng than nghiền tới hệ thống điều khiển quá trình cháy
Để hạn chế nhữn nhược điểm của hệ thống điều khiển sử dụng tín hiệu sai lệch áp lực phân ly than thì trên sơ đồ hình 1.8 thường được sử dụng Cánh hướng quạt hút được điều chỉnh trực tiếp bởi tín hiệu yêu cầu lượng than nghiền (c) Điều khiển mức than nghiền là một tín hiệu tiền định của hệ thống Tín hiệu điều khiển cánh quạt hút đóng vai trò như một tín hiệu bù đưa vào bộ cộng (h), cộng với tín hiệu từ bộ điều khiển mức (b) cho tín hiệu cơ bản điều khiển tốc độ than cấp Tín hiệu đầu vào máy cấp than đồng pha với tín hiệu đầu ra của quạt hút
Nếu như tín hiệu đầu vào máy cấp than tăng lên sẽ làm cho mức than tạm thời tăng lên, điều đó làm cho quạt hút sẽ cấp nhiều than nghiền hơn vào trong buông đốt TÍn hiệu từ bộ tổng hợp tốc độ cấp than (j) sẽ được khuyếch đại bởi bộ phát hiện sai lệch mức (i) và bộ nhân (g) trước khi đưa tới hệ thống điều khiển lò hơi Như vậy có sự khác giữa mức than nguyên cấp vào và than nghiền được lấy ra khỏi máy nghiền bởi có sự chênh lệch mức than Tốc độ máy cấp than thực tế được xác định nhờ tín hiệu ra của bộ (g) được đưa về phản hồi tới hệ thống điều khiển quá trình cháy để điều chỉnh cấp than cho hợp lý Sự điều chỉnh bù nhiệt độ hỗn hợp than – gió và lưu lượng gió lạnh diễn ra tương tự như đã được trình bày ở các sơ đồ trước
Như vậy, có nhiều loại sơ đồ có thể áp dụng để điều khiển hệ thống cấp và than đáp ứng được các yêu cầu than phức tạp Đối với các lò hơi dung tích và công suất nhỏ có thể áp dụng đơn giản hóa các hệ thống điều khiển Các sơ đồ trên là các
sơ đồ áp dụng điêù khiển cho một hệ thống cấp – nghiền than đơn Trong thực tế, một lò hơi có thể sử dụng tới ba hoặc nhiều hơn hệ thống nghiền than để đáp ứng cho các nhu cầu tải lướn (bao gồm cả hệ thống dự phòng) Khi đó hệ thống điều khiển quá trình cháy của lò hơi phải tự động bù số lượng và dung lượng của 1 hệ
Trang 28thống nghiền than, phải thay đổi hệ số khuyếch đại cho phù hợp yêu cầu than nghiền đối với từng hệ thống nghiền
1.3.2 Hệ thống điều khiển song song than và gió
Hệ thống điều khiển song song than và gió thường được áp dụng đối với các
hệ thống nghiền than rải nhiên liệu Hệ thống điều khiển mức than có trục liên kết với cơ cấu cơ khí cấp than tại mỗi máy rải Số lượng các máy rải sẽ tương ứng với dung lượng lò hơi và độ dài vỉ lò Sơ đồ đìêu khiển được biểu diễn như trên hình 1.8 Các đặc tính thay đổi của lượng nhiên liệu và gió tương ứng với sự thay đổi của lưu lượng hơi được biểu diễn như trên đồ thị hình 1.9
Trang 29
Hình 1.8 : Sơ đồ điều khiển nhiên liệu than dùng máy cấp than thể tích dung lượng
lớn
Trang 30Hình 1.9: Hệ thống điều khiển song song than và gió
1.3.3 Hệ thống điều khiển sử dụng hệ thống phụ phân tích O 2 trong khói
Để quá tình cháy trong lò hơi xảy ra tối ưu thì lưu lượng gió đưa vào lò phải phù hợp với lưu lượng than cấp vào Lưu lượng than và gió cấp vào lò luôn luông
Trang 31xác định theo 1 tỷ lệ nhất định (nằm trong 1 dải cho phép) Hình 1.10 biểu diễn cách thức điều khiển tỷ lệ than và gió, với chiến lược điều khiển song song
Hình 1.10: Sơ đồ điều khiển tỷ lệ than gió
1.3.4 Bù BTU cho than
Than được đốt tỏa lượng nhiệt nhiều hay ít tùy thuộc nhiều vào lượng BTU chứa trong than và tro cháy, chúng phụ thuộc vào độ ẩm và chất lượng của than Chính sự thay đổi BTU dẫn tới thay đổi lượng nhiệt tỏa ra với cùng một khối lượng nhiên liệu như nhau đã tạo ra nhiều những vấn đề thách thức cho những nhà thiết kế
hệ thống điều khiển
Trên hình 1.11 biểu diễn một sơ đồ đo lường logic tổng nhiệt lượng trao đổi
và tổng nhiệt lượng tỏa ra Trong một giới hạn nhất địnhthì sự thay đổi vi sai của áp suất trong bao hơi xác định sự thay đổi dung lượng của bao hơi và giàn ống dẫn hơi
Tỷ lệ thay đổi áp suất này tương đương với tỷ lệ hơi được tạo ra
Vi sai áp suất bao hơi được cộng với áp suất tại đầu tuabin đầu tiên dòng hơi phun vào (thường là tuabin cao áp) Như vậy đầu ra của bộ tổng này đã bao gồm cả nhiệt lượng truyền đi và bù phần nhiệt lượng do sự thay đổi dung lượng của bao hơi
và giàn ống TÍn hiệu này lại được nhân đôi với tín hiệu nhiệt độ nước cấp đã được biến đổi cho phù hợp nhờ hàm f(x) Như vậy tổng nhiệt năng yêu cầu được tổng hợp từ 3 tín hiệu để có thể khắc phục được sự sai khác BTU trong than
Trang 32Hình 1.11: Sơ đồ logic bù BTU cho tổng nhiệt năng tỏa ra
1.3.5 Tổng hợp hệ thống điều khiển nhiên liệu trong lò hơi
Sơ đồ tổng hợp hệ thống điều khiển nhiên liệu trong lò hơi được thể hiện trên
hình 1.13 Yêu cầu nhiên liệu từ lò hơi được gửi tới hệ thống như điểm đặt cho mọi quá trình: điều khiển nhiên liệu than, điều khiển gió Tín hiệu yêu cầu nhiên liệu từ
lò đưa tới hệ thống điều khiển tỷ lệ than/gió và từ tỷ lệ than gió sẽ xác định cụ thể từng tín hiệu yêu cầu cho bộ điều khiển than và bộ điều khiển gió Tín hiệu đặt cho nhiên liệu than và tín hiệu đặt cho nhiên liệu gió có 1 tỷ lệ nhất định xác định trước Tín hiệu đặt cho bộ điều khiển nhiên liệu sẽ được so sánh với tín hiệu về lưu lượng gió thực tế để đảm bảo tín hiệu yêu cầu về nhiên liệu than phù hợp với lưu lượng gió thực Bộ tỷ lệ cộng vi phân (g) được sử dụng như 1 bộ dự trữ cho hàm thời gian (d) Hàm thời gian (d) ở giữa bộ cộng tổng tốc độ máy cấp (e) và bộ điều khiển nhiên liệu (f) để làm trễ hàm tín hiệu phản hồi tỷ lệ đếm bộ điều khiển và có xu hướng tạo cho đầu ra 1 tác động vi phân Tác động vi phân trong bộ điều khiển của máy cấp than gây ra thay đổi mức than nghiền vì thế sẽ cải thiện được quá trình đáp ứng nhiên liệu Nếu hàm thời gian không đủ tác động vi phân, thì hàm tỷ lệ cộng vi phân (g) sẽ tác động vi phân cho bộ điều khiển nhiên liệu (f)
Tại điểm B lưu lượng than được gửi tới bộ điều khiển nhiên liệu Tại trạm điều khiển (a) do người vận hành chọn chế độ điều khiển giữa tự động hay bằng tay Tín hiệu ra của bộ điều khiển (b) được điều khiển để thay đổi tín hiệu yêu cầu nhiên
Trang 33liệu than để đảm bảo cân bằng tín hiệu yêu cầu cho các máy nghiền ( trong trường hợp số máy nghiền hoạt động thay đổi) Đầu ra của hệ thống điều khiển được đưa đến bộ tổng (c) như là 1 tín hiệu phản hồi
Cũng từ tín hiệu yêu cầu nhiên liệu của lò hơi xác định được tín hiệu yêu cầu gió, với 1 tỷ lệ than gió nhất định Tín hiệu yêu cầu gió được gửi đến bộ điều khiển gió tín hiệu sau bộ điều khiển gió sẽ đi điều khiển cánh hướng quạt gió vào (FD) Chiến lược điều khiển gió là điều khiển gió với vòng điều chỉnh lưu lượng và tín hiệu điều khiển bù theo % O2 phân tích trong khói
Tín hiệu đi điều khiển cánh hướng quạt hút gió vào (FD) cũng là 1 tín hiệu điều khiển bù cho hệ thống điều khiển chân không buồng đốt Sự thay đổi lưu lượng gió là tín hiệu bù nhiễu loạn cho mạch vòng điều chỉnh chân không buồng đốt
Như vậy hệ thống điêu khiển nhiên liệu cấp cho lò hơi là 1 hệ thống khá phức tạp với sự kết hợp điều khiển nhiều cơ cấu cơ khí lớn Chất lượng điều khiển quá trình này ảnh hưởng rất nhiều tới hiệu suất lò hơi và khả năng phản ứng của lò với các thay đổi của tải Trong thực tế ngoài nhiên liệu than, các nhà máy nhiệt điện nói riêng và các hệ thống lò hơi nói chung còn sử dụng kết hợp nhiên liệu than với các loại nhiên liệu lỏng hoặc nhiên liệu khí đốt Nhiên liệu rắn cũng được sử dụng nhiều loại khác nhau như gỗ vụn, bã mía…Đối với các loại nhiên liệu như vậy hệ thống điều khiển cấp nhiên liệu cho lò về cơ bản vẫn dựa trên những nguyên lý đã trình bày ở đây và có cải biến tùy từng yêu cầu của lò
Trang 34Hình 1.12: Sơ đồ tổng hợp hệ điều khiển nhiên liệu của lò hơi
Trang 35Kết luận:
Qua nội dung chương 1 ta thấy nổi lên hai vấn đề:
- Vấn đề điều khiển hệ thống cấp liệu cho lò hơi nhà máy nhiệt điện khá phức tạp Trong các nhà máy nhiệt điện hiện đại, người ta thường sử dụng bộ điều khiển DCS để giải quyết các bài toán đặt ra Phần tìm hiểu
về DCS trong bản luận văn này sẽ được trình bày ở phần chuyên đề
- Vấn đề cân băng than là một khâu quan trọng trọng nhất trong hệ thống cấp liệu cho lò hơi của nhà máy nhiệt điện Trong các chương tiếp theo của đề tài luận văn sẽ đi tìm hiểu sâu về vấn đề này
Trang 36CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ KỸ THUẬT TRONG CÂN BĂNG ĐỊNH LƯỢNG THAN CUNG CẤP CHO LÒ HƠI NHÀ
MÁY NHIỆT ĐIỆN
2.1 Vai trò của hệ thống cân băng trong dây chuyền nhà máy
Vai trò của băng tải trong các nhà máy công nghiệp là vô cùng quan trọng, điều này được thể hiện rõ nét trong các nhà máy nhiệt điện, xi măng, các nhà máy chế biến thức ăn gia xúc, các nhà máy chế biến thực phẩm Các băng tải đóng vai trò vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm thay cho sức người và các phương tiện vận chuyển cơ động khác
Vấn đề đặt ra là trong quá trình sản xuất đòi hỏi tính liên tục, pha trộn nguyên liệu có độ chính xác, phải thấy và cân được khối lượng nguyên vật liệu đã được vận chuyển theo yêu cầu của thành phẩm Để giải quyết vấn đề trên ta sử dụng cân băng định lượng Hệ thống cân băng định lượng là một trong những khâu quan trọng giúp cho nhà máy hoạt động một cách liên tục Cân băng định lượng là một khâu trong dây chuyền công nghệ nhằm cung cấp chính xác lượng nguyên liệu cần thiết cho nhà máy, lượng nguyên liệu này đã được người lập trình cài đặt một giá trị trước Khi mà lượng nguyện liêu trên băng tải ít đi thì đòi hỏi phải tăng tốc động cơ lên để băng tải chuyển động nhanh hơn nhằm cung cấp đủ lượng nguyên liệu cần thiết Ngược lại khi lượng nguyên liệu trên băng tải vận chuyển với lưu lượng nhiều thì các thiết bị tự động sẻ tự động điều khiển cho động cơ quay với tốc độ chậm lại phù hợp với yêu cầu
Đối với dây chuyền nhà máy nhiệt điện ở máy cấp than nguyên có một hệ thống cân điện tử cung cấp chỉ số lưu lượng than tại chỗ, từ xa và tổng lượng than qua máy nghiền Hệ thống cấp than được thiết kế để đảm bảo việc cung cấp than từ boongke vào máy nghiền một cách chính xác, tin cậy và không bị gián đoạn Than
từ boongke được cấp ở một tốc độ xác định được điều khiển trên băng chính của máy cấp than nguyên Do vậy, với thiết kế của công nghệ thì nếu hệ thống cân than
bị hỏng thì hệ thống cấp than sẽ ngừng, dẫn đến ngừng máy nghiền và có thể dẫn
Trang 37đến ngừng lò hơi Hệ thống cân than này luôn được kiểm tra và định kỳ hiệu chỉnh, đảm bảo sự làm việc chính xác và tin cậy Góp phần vào sự vận hành ổn định, hiệu suất và kinh tế của nhà máy
2.2 Xây dựng nguyên lý làm việc của cân băng định lƣợng
Có 2 cách cơ bản để xây dựng nguyên lý đo và làm việc của cân băng
- Đo theo năng suất
- Đo theo khối lượng
2.2.1 Nguyên lý đo theo năng suất
Ta có công thức:
Qt=m.v.t (2.1)
Trong đó: m: khối lượng (kg) v: tốc độ băng tải (m/s)
t: thời gian đặt (ms) Với năng suất Q sau khoảng thời gian t1 (ms) ta tiến hành đo một lần và sẽ so sánh với năng suất yêu cầu (Qyc).
- Nếu Q>Qyc thì vận tốc băng tải giảm
- Nếu Q<Qyc thì vận tốc băng tải tăng
2.2.2 Nguyên lý đo theo khối lƣợng
Khối lượng của vật liệu được cơ cấu cân định lượng cân chính xác theo lượng đặt ban đầu Năng suất của băng tải được tính theo biểu thức:
Q = δ.v [ kg/s ] (2.2)
hay:
1000
3600 v
Trong đó:
δ : khối lượng tải theo chiều dài [kg/m ]
v : tốc độ di chuyển của băng [m/s]
Khối lượng của băng tải theo chiều dài được tính theo công thức:
3
10
S (2.4)
Trang 38Trong đó:
γ : Khối lượng riêng của vật liệu [ tấn/m3 ]
S : Tiết diện cắt ngang của vật liệu trên băng [ m2 ]
Dưới đây ta sẽ đi khảo sát nguyên lý đo và làm việc của một số hệ thống cân băng đã được ứng dụng vào sản xuất như:
- Trạm trộn bê tông do viện máy và dụng cụ công nghiệp (IMI) chế tạo
- Hệ thống cân băng cho nhà máy xi măng Sông Gianh
- Hệ thống cân than trong nhà máy nhiệt điện Phả Lại (dây chuyền 2)
*) Nguyên lý làm việc của hệ thống cân băng cho trạm trộn bê tông
Nguyên lý hoạt động:
Hệ thống cân băng định lượng được thiết kế để điều chỉnh tốc độ cấp liệu của vật liệu rắn Vật liệu rắn được tháo ra từ Bunke hoặc silo Bề dày của vật liệu trên băng tải thường được trải đều để đảm bảo mức chịu tải của băng tải là không thay đổi Lưu lượng vật liệu có thể đạt được thông qua việc điều chỉnh tốc độ băng tải
Hình 2.1: Sơ đồ nguyên lý hệ thống cân băng cảu trạm trộn bê tông
Trang 39Hình 2.2: Sơ đồ đo hệ thống cân băng phối liệu nhiều thành phần
Các tín hiệu m (khối lượng), V (tốc độ) băng tải được đọc vào máy tính theo các đường khối lượng (sử dụng card chuyển đổi A/D 6 kênh), đường tốc độ (cổng COM 1), từ bộ chuyển đổi RS 232/485, máy tính sẽ tính năng suất thực của các cân
Qt=mV, so sánh với năng suất định mức Qđặt của chúng, từ đó đưa ra tín hiệu điều khiển Uđk để điều khiển các động cơ thông qua các bộ biến tần (dinventer) Mục đích là điều chỉnh tốc độ hợp lý cho băng tải cân, sao cho sai lệch giữa năng suất thực với năng suất định mức ≤ 1% Trong hệ thống này cứ mỗi chu kỳ 100 ms- 200
ms, máy tính lại đọc các số liệu mV một lần, sau đó tính trung bình trong 1s-2s, từ
đó đưa ra tín hiệu điều khiển mới Như vậy cứ 1s-2s hệ thống lại điều chỉnh tốc độ của băng tải cân 1 lần Năng suất thực của các cân cũng được thông báo trên màn hình với chu kỳ 10s 1 lần để người điều khiển kịp theo dõi Số liệu này là năng suất trung bình của cân trong 10s đó
*) Nguyên lý làm việc hệ thống cân băng cho nhà máy xi măng Cosevco Sông Gianh
Hệ thống cân băng MULTIDOS được thiết kế để điều chỉnh tốc độ cấp liệu của vật liệu rắn Vật liệu rắn được tháo ra từ Bunke Bề dày của vật liệu trên băng
Đầu cân
điện tử
Lượng hiệu chỉnh ∆Q
Bộ nhân Q=mxV
Qđặt= mxV
Mạch điều khiển tay
Bộ biến tần
Động
cơ
RS 232/485 Máy tính
Trang 40tải thường được trải đều để đảm bảo mức chịu tải của băng tải là không thay đổi Lưu lượng vật liệu có thể đạt được thông qua việc điều chỉnh tốc độ băng tải
Hình 2.3: Sơ đồ khối chức năng của cân băng định lượng
Hình 2.4: Sơ đồ nguyên lý đo lường của hệ thống cân băng định lượng
Giá trị lực tác dụng tỷ lệ với sự thay đổi điện trở cảm ứng trong cầu điện trở
và do đó trả về tín hiệu điện áp tỷ lệ Nó được khuếch đại và đưa đến bộ vi xử lý thông bộ chuyển đổi tượng tự/số (ADC) Chỉ một nửa tải trọng của vật liệu được con lăn cân Sàn con lăn được tính như sau:
Leff = Lg/2 (2.5)