1. Trang chủ
  2. » Mầm non - Tiểu học

Kế hoạch hành động nuôi dưỡng trẻ nhỏ

28 2,9K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 823,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các giải pháp Thực hiện nuôi dưỡng tối ưu cho trẻ nhỏ từ 0 đến dưới 3 tuổi, tập trung vào các giải pháp sau: a Truyền thông giáo dục phổ cập kiến thức và hướng dẫn thực hành dinh dưỡng

Trang 2

Hà Nội, ngày 27 tháng 12 năm 2006

QUYẾT ĐỊNH

Về việc phê duyệt

“Kế hoạch hành động nuôi dưỡng trẻ nhỏ giai đoạn 2006-2010”

Phê duyệt “Kế hoạch hành động nuôi dưỡng trẻ nhỏ giai đoạn 2006-2010” (có bản kế

hoạch chi tiết kèm theo), với các nội dung chủ yếu sau:

1 Mục tiêu chung

Cải thiện tình trạng dinh dưỡng, sức khoẻ và sự phát triển của trẻ nhỏ từ 0-3 tuổi, tạo sự tăng trưởng tối ưu cho trẻ em Việt nam vào năm 2010

2 Mục tiêu cụ thể

2.1 Mục tiêu 1: Đến năm 2010, 70% các bà mẹ và người chăm sóc trẻ được tiếp cận với các

dịch vụ về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ nhỏ

Các chỉ số theo dõi/đánh giá:

- Đến năm 2010, 80% số trạm y tế tuyến xã/phường có điểm truyền thông tư vấn về nuôi dưỡng trẻ nhỏ

- Tài liệu truyền thông về nuôi dưỡng trẻ nhỏ được phát hành rộng rãi tới 100% cơ sở y tế tuyến cơ sở và 80% hộ gia đình đang nuôi con nhỏ vào năm 2010

2.2 Mục tiêu 2: Đến năm 2010, tỷ lệ trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu

và ăn bổ sung hợp lý tăng lên ít nhất 50% so với năm 2005

Trang 3

Các chỉ số theo dõi/đánh giá:

- Tỷ lệ trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu tăng từ 12,5% năm 2005 lên 25% năm 2010

- Tỷ lệ trẻ được bú sớm sau đẻ (trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh) tăng lên 90% vào năm 2010

- Số bệnh viện duy trì tiêu chuẩn “Bệnh viện bạn hữu trẻ em” tăng lên gấp 2 lần vào năm

2010 so với năm 2005

- Tỷ lệ trẻ được cho ăn bổ sung hợp lý (cho ăn đúng thời điểm, đủ về số lượng và cân đối

về chất lượng) tăng lên 30% vào năm 2010 so với năm 2005

2.3 Mục tiêu 3: Cải thiện về cơ bản hệ thống chăm sóc dinh dưỡng trẻ bệnh và đáp ứng kịp

thời nhu cầu chăm sóc về dinh dưỡng cho trẻ nhỏ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

Các chỉ số theo dõi/đánh giá:

- Đến năm 2010, 90% nhân viên y tế tuyến cơ sở được tập huấn về kiến thức và kỹ năng tư vấn, hướng dẫn thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ

- Có văn bản quy định và hướng dẫn kỹ thuật việc lồng ghép các nội dung chăm sóc dinh dưỡng vào chương trình chăm sóc trẻ bệnh (chương trình IMCI)

- Có văn bản quy định và hướng dẫn kỹ thuật việc chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ nhỏ có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt về nuôi dưỡng, trẻ nhỏ sống trong vùng xảy ra thiên tai, thảm họa

- Mạng lưới theo dõi, giám sát thực hiện nuôi dưỡng trẻ nhỏ được hình thành từ trung ương đến địa phương, cung cấp kịp thời và chính xác những thông tin về nuôi dưỡng trẻ nhỏ

3 Các giải pháp

Thực hiện nuôi dưỡng tối ưu cho trẻ nhỏ (từ 0 đến dưới 3 tuổi), tập trung vào các giải pháp sau:

a) Truyền thông giáo dục phổ cập kiến thức và hướng dẫn thực hành dinh dưỡng đúng cho các

bà mẹ mang thai, bà mẹ đang nuôi con nhỏ và người chăm sóc trẻ

b) Chăm sóc dinh dưỡng sớm cho bà mẹ có thai

c) Củng cố và nâng cao chất lượng của hệ thống chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ nhỏ

d) Hướng dẫn, tư vấn kỹ thuật và hỗ trợ cho việc nuôi dưỡng trẻ trong những điều kiện khó khăn đặc biệt (HIV/AIDS; SDD nặng; trẻ sơ sinh nhẹ cân; thiên tai, thảm họa )

đ) Bổ sung, củng cố xây dựng hệ thống văn bản pháp quy để hỗ trợ tốt nhất cho công tác nuôi dưỡng trẻ nhỏ Tăng cường cam kết từ gia đình, cộng đồng, chính quyền và toàn xã hội trong việc chăm sóc dinh dưỡng toàn diện, tối ưu cho trẻ nhỏ

e) Triển khai các nghiên cứu về nuôi dưỡng trẻ nhỏ Qua đó cung cấp bằng chứng khoa học cho các hoạt động can thiệp và thuyết phục các nhà hoạch định chính sách

g) Xây dựng và củng cố hệ thống thông tin, giám sát tình hình nuôi dưỡng trẻ nhỏ nhằm cung cấp kịp thời thông tin cần thiết cho các cơ sở y tế, các nhà hoạch định chính sách và cho công tác lập kế hoạch

4 Các nội dung hoạt động

a) Nâng cao tính sẵn có và khả năng tiếp cận của người dân đến các nguồn thông tin đúng đắn

và phù hợp về nuôi dưỡng trẻ nhỏ

Trang 4

b) Nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi, thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ cho các bà mẹ và người chăm sóc trẻ

c) Xây dựng môi trường chính sách hỗ trợ thực hành đúng đắn về nuôi dưỡng trẻ nhỏ

d) Cung cấp các dịch vụ để hỗ trợ, khuyến khích thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung hợp lý

đ) Hướng dẫn nuôi dưỡng trẻ nhỏ trong những điều kiện khó khăn đặc biệt

e) Đào tạo nguồn nhân lực

g) Triển khai các nghiên cứu

h) Phối hợp liên ngành

i) Hợp tác quốc tế và khu vực trong công tác nuôi dưỡng trẻ nhỏ

k) Theo dõi, giám sát, đánh giá

d) Kinh phí huy động cộng đồng

e) Các nguồn kinh phí hợp pháp khác

6 Tổ chức thực hiện

a) Mạng lưới triển khai:

- Bộ Y tế là cơ quan chủ quản, giao cho Vụ Sức khỏe sinh sản làm đầu mối chỉ đạo, điều hành, phối hợp với Cục Y tế dự phòng Việt Nam, Vụ Điều trị, Vụ Khoa học và Đào tạo, Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe để tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động tuyến TW

- Viện Dinh dưỡng là cơ quan thường trực về chuyên môn, kỹ thuật, phối hợp với Bệnh viện Nhi, Bệnh viện Phụ sản, các chương trình, dự án có liên quan như: Chương trình Nuôi con bằng sữa mẹ, Dự án Làm mẹ an toàn, Dự án Mục tiêu quốc gia phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em để triển khai các hoạt động

- Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc TW là cơ quan triển khai các hoạt động tại tuyến tỉnh

b) Cơ chế phối hợp triển khai:

- Bộ Y tế giao cho Vụ Sức khoẻ sinh sản làm đầu mối, chủ trì xây dựng kế hoạch hàng năm

và từng giai đoạn để trình Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt, tổ chức thực hiện, đánh giá tổng kết kết quả thực hiện kế hoạch; Viện Dinh dưỡng là cơ quan thường trực về chuyên môn,

kỹ thuật, giúp Bộ Y tế điều phối thực hiện các nội dung hoạt động

- Trong quá trình triển khai, Bộ Y tế phối hợp với các Cơ quan, Bộ, Ban, Ngành, Đoàn thể có liên quan, tổ chức các hoạt động phối hợp liên ngành nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra

- Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc TW: có trách nhiệm tổ chức triển khai các hoạt động trong phạm vi chức năng quyền hạn của ngành, đồng thời xây dựng và điều phối, tổ chức triển khai, giám sát các hoạt động phối hợp liên ngành tại địa phương Hàng năm xây dựng

Trang 5

kế hoạch và báo cáo Bộ Y tế các kết quả thực hiện

c) Công tác báo cáo theo dõi, giám sát các hoạt động:

- Định kỳ 6 tháng một lần, các địa phương có trách nhiệm báo cáo kết quả và tiến độ thực hiện với Bộ Y tế

- Định kỳ 1 năm một lần, Bộ Y tế với tư cách là cơ quan chủ trì, tổ chức kiểm điểm các hoạt động thực hiện kế hoạch với sự tham gia của các Bộ, Ngành có liên quan

- Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc TW có trách nhiệm lập kế hoạch triển khai, theo dõi, giám sát việc thực hiện các nội dung hoạt động tại các đơn vị trực thuộc mình

Nơi nhận:

- Văn phòng Chính phủ; Ban KGTW (để b/c);

- Các Bộ, ngành, tổ chức chính trị-xã hội có liên

quan (để phối hợp thực hiện);

- Các Vụ, Cục, Văn phòng, Thanh tra - Bộ Y tế;

- Viện Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi, Bệnh viện Phụ

sản;

- Sở Y tế các tỉnh/thành phố trực thuộc TW;

Lưu: VT, PC, SKSS.

KT BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNG

Trần Chí Liêm

(Đã Ký)

Trang 6

Nuôi dưỡng hợp lý trong những năm đầu tiên, đặc biệt là những tháng đầu tiên sau sinh, có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự sống còn, sự lớn lên và sự phát triển toàn diện của trẻ ở tuổi trưởng thành

Hiện nay, trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển, suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em vẫn còn phổ biến Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, hàng năm có 10,9 triệu trường hợp tử vong ở trẻ em, trong đó có tới 60% trường hợp bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp

do SDD

Ở nước ta, mặc dù trong những năm qua đã có nhiều nỗ lực trong việc đương đầu với SDD trẻ em, song tỷ lệ SDD vẫn còn cao: hiện cả nước có 3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi1 Bên cạnh đó, thừa cân/béo phì đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng ở một số

đô thị, thành phố lớn Một trong các nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là sai lầm trong nuôi dưỡng Chính vì vậy, thay đổi hành vi nuôi dưỡng trẻ nhỏ là một can thiệp thiết yếu của hoạt động phòng chống SDD trẻ em ở nước ta

Nuôi dưỡng trẻ nhỏ (là trẻ có độ tuổi từ 0-3 tuổi) có liên quan đến thực hành, thói quen, trình độ văn hoá, tình trạng kinh tế-xã hội của gia đình và cộng đồng Thực hành nuôi dưỡng trẻ phụ thuộc vào kiến thức và kỹ năng của người mẹ và những người chăm sóc trẻ Thực tế cho thấy ngay trong điều kiện kinh tế-xã hội còn thấp kém, nếu biết cách chăm sóc dinh dưỡng hợp lý vẫn có thể phòng được SDD cho trẻ Tuy nhiên, yếu tố kinh tế-xã hội của hộ gia đình và của cộng đồng đóng một vai trò không nhỏ vì đó là cơ sở của nguồn lực đảm bảo sự chăm sóc cho trẻ Một chính sách nuôi dưỡng trẻ nhỏ thành công cần phải tác động vào các khâu nói trên

Sự phát triển kinh tế-xã hội và quá trình đô thị hoá đang diễn ra ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam, việc nuôi dưỡng trẻ nhỏ đang đứng trước những thách thức mới Do

áp lực của công việc và thu nhập, người phụ nữ không đủ thời gian và điều kiện chăm sóc con trong khi đó các sản phẩm thức ăn thay thế sữa mẹ tràn lan với nhiều cách quảng cáo, tiếp thị hấp dẫn đã làm ảnh hưởng niềm tin của các bà mẹ vào việc Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) và tác động không có lợi đến nuôi dưỡng trẻ nhỏ Thêm vào đó, sự gia tăng của đại dịch HIV/AIDS, nguy cơ của việc lây truyền HIV từ mẹ sang con cũng sẽ ảnh hưởng đến việc NCBSM Hiện nay Bộ Y tế đang xây dựng chương trình Phòng chống lây nhiễm HIV từ mẹ sang con, trong đó có đề cập đến những biện pháp để nuôi dưỡng trẻ hợp lý trong trường hợp mẹ HIV (+), mặc dù vậy vẫn cần có những hướng dẫn cụ thể và những thông tin đầy đủ để người mẹ có thể quyết định một biện pháp bảo đảm nuôi dưỡng trẻ tối

ưu nhất

Những biến đổi về xã hội, sự phân cực về kinh tế đặt ra những vấn đề mới cần giải quyết,

đó là "nuôi dưỡng trẻ nhỏ trong những điều kiện khó khăn đặc biệt", như trẻ mồ côi, trẻ là

1

Báo cáo giám sát dinh dưỡng hàng năm-VDD-2003, 2004

Trang 7

con của các bà mẹ vị thành niên, hoặc mẹ HIV (+), cha mẹ ly dị, trẻ SDD nặng, trẻ bị dị tật bẩm sinh, trẻ đang sống trong vùng xảy ra thiên tai, thảm họa

Trẻ em có quyền được nuôi dưỡng và chăm sóc tốt Điều đó đã được khẳng định trong

Công ước quốc tế về quyền trẻ em dựa trên nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ, khuyến khích

tạo điều kiện để đảm bảo các quyền đó trở thành hiện thực Bên cạnh đó, người mẹ cũng có quyền được tiếp cận một chế độ dinh dưỡng hợp lý, quyền được quyết định một chế độ dinh dưỡng tối ưu cho con mình, vì thế, người mẹ cần được cung cấp đầy đủ thông tin cũng như được sống trong một môi trường có những điều kiện hỗ trợ thuận lợi nhất để người mẹ

có thể thực hiện những quyết định đúng đắn của mình về nuôi dưỡng trẻ nhỏ

Cộng đồng quốc tế từ lâu đã rất quan tâm đến vấn đề nuôi dưỡng trẻ nhỏ Điều này thể hiện bằng sự ra đời của hàng loạt chính sách về nuôi dưỡng trẻ nhỏ Năm 1981 Luật quốc tế về kinh doanh các sản phẩm thay thế sữa mẹ được ban hành; Năm 1990 tuyên bố Innocenti về bảo vệ, tăng cường và khuyến khích NCBSM được công bố; Năm 1991 sáng kiến Bệnh viện bạn hữu trẻ em ra đời; Năm 2002, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF) đã phê chuẩn và công bố bản Chiến lược toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ nhỏ Đây là kết quả nỗ lực của tất cả các nước thành viên của Tổ chức Y tế thế giới, các cơ quan quốc tế, liên chính phủ nhằm tiến tới hình thành một cách tiếp cận đúng đắn đối với việc thanh toán gánh nặng có liên quan đến dinh dưỡng cho trẻ em trên toàn thế giới và góp

phần làm giảm đói nghèo một cách bền vững (có tới 50 đến 70% gánh nặng của bệnh ỉa

chảy, sởi, sốt rét, và các nhiễm trùng đường hô hấp dưới trong thời thơ ấu có thể quy cho thiếu dinh dưỡng 1)

Chiến lược toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dựa trên các bằng chứng khoa học

về ý nghĩa của dinh dưỡng trong những tháng đầu tiên, những năm đầu tiên của cuộc đời,

về vai trò quyết định của thực hành nuôi dưỡng hợp lý trong việc đạt được các đầu ra về sức khỏe tốt nhất Bản Chiến lược toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ nhỏ đã khẳng định nỗ lực cao của cộng đồng quốc tế nhằm tăng cường hơn nữa sự cam kết của chính phủ thuộc các quốc gia khác nhau trong việc thực hiện bảo đảm cho trẻ em có được sự phát triển tốt nhất bằng

các hành động phù hợp với Luật quốc tế về kinh doanh các sản phẩm thay thế sữa mẹ;

Tuyên bố Innocenti về bảo vệ, tăng cường và khuyến khích NCBSM và Sáng kiến Bệnh viện Bạn hữu trẻ em

Đối với nước ta, xây dựng một chiến lược lâu dài và kế hoạch hành động về nuôi dưỡng trẻ nhỏ là một đòi hỏi cấp bách nhằm tạo môi trường dinh dưỡng tốt, an toàn phù hợp cho sức khỏe và sự phát triển tối ưu của trẻ nhỏ trong tình hình phát triển kinh tế-xã hội hiện nay Trong những năm qua, Chính phủ Việt nam đã có nhiều nỗ lực chăm lo đến sự phát triển toàn diện của trẻ em, trong đó có công tác chăm sóc nuôi dưỡng Việc thực hiện Luật bảo

vệ và Chăm sóc trẻ em đã thu được một số thành tựu đáng kể Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Bảo vệ và Chăm sóc sức khoẻ nhân dân, Chiến lược Quốc gia Dinh dưỡng, Chiến lược Chăm sóc Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010, trong đó đề cập đến nhiều mục tiêu và giải pháp cho công tác nuôi dưỡng trẻ nhỏ Tuy nhiên, cần có các giải pháp đồng bộ về nuôi dưỡng trẻ nhỏ nhằm cụ thể hoá các nội dung mà các Chiến lược trên

đã đề cập, lồng ghép các giải pháp và thống nhất các hoạt động can thiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đã đề ra, mang lại sức khỏe toàn diện và sự phát triển tốt nhất cho trẻ nhỏ, góp phần tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng trong tương lai, đáp ứng yêu cầu của

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1 Chiến lược toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Trang 8

CHƯƠNG II TÌNH HÌNH VÀ NHỮNG THÁCH THỨC

VỀ NUÔI DƯỠNG TRẺ NHỎ HIỆN NAY

Trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt rất nhiều thành tựu trong công tác chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em Tỷ lệ SDD giảm nhanh trong những năm gần đây thể hiện những cố gắng nỗ lực của toàn xã hội, sự cam kết cao của Chính phủ trong vấn đề giải quyết tình hình SDD ở trẻ em Việt Nam Tuy nhiên so với các nước trong khu vực tỷ lệ SDD ở nước

ta vẫn còn ở mức cao, bên cạnh đó là những vấn đề dinh dưỡng mới nảy sinh như thừa cân, béo phì do hậu quả của việc chăm sóc dinh dưỡng không hợp lý vì vậy chúng ta vẫn còn phải đối mặt với nhiều thách thức trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ nhỏ

I Suy dinh dưỡng thiếu protein-năng lượng còn cao và nguyên nhân quan trọng là do nuôi dưỡng không hợp lý

Ước tính trên 2/3 số tử vong trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới có liên quan đến yếu tố nuôi dưỡng1 Nuôi dưỡng không hợp lý là nguyên nhân trực tiếp của SDD và thiếu vi chất dinh dưỡng như thiếu Vitamin A, thiếu sắt, thiếu I-ốt, thiếu kẽm và các vi chất dinh dưỡng cần thiết khác

Ở Việt Nam, tỷ lệ SDD của trẻ dưới 5 tuổi theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới vẫn còn cao và là vấn đề có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng Năm 2005, tỷ lệ SDD trẻ em thể cân nặng/tuổi chung toàn quốc là 25,2%, SDD thể chiều cao/tuổi là 29,6%, SDD thể cân nặng/chiều cao là 6,9%2 Nhiều vùng nông thôn, tỷ lệ SDD thậm chí còn ở mức gần 40% Không có sự khác biệt về giới đối với SDD, tuy nhiên có sự khác biệt rất rõ rệt về tỷ lệ SDD thể nhẹ cân và còi cọc giữa các vùng sinh thái trong cả nước, chậm phát triển thể lực thường gặp ở lứa tuổi 6-24 tháng; Bên cạnh đó thì những năm qua, tỷ lệ thừa cân/béo phì ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi có xu hướng gia tăng (năm 2000 là 1,2%; đến năm 2004 tỷ lệ này đã

là 1,7%)3

Đối với nước ta, ước tính khoảng 240.000 trẻ sinh ra hàng năm bị giảm trí lực do thiếu i-ốt, khoảng 2000 trẻ tử vong vì giảm khả năng chống đỡ nhiễm khuẩn do thiếu vitamin A, ngoài ra còn 10% trẻ em bị giảm miễn dịch và tăng trưởng kém do thiếu vitamin A4 Thực hành NCBSM không hợp lý (như cho bú gián đoạn, cai sữa sớm đột ngột) hoặc cho ăn bổ sung quá sớm với các loại thực phẩm nghèo protein và năng lượng là những nguyên nhân quan trọng gây SDD5

Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) là một thực hành phổ biến ở nước ta với khoảng 98% trẻ

em Việt Nam được bú sữa mẹ Tỷ lệ NCBSM cũng khác nhau theo vùng địa lý, dân tộc, trình độ văn hoá của bà mẹ, nơi đẻ nhưng không đáng kể Nơi ít nhất cũng có 90% trẻ được

bú mẹ6 Mặc dù tỷ lệ trẻ được bú mẹ rất cao, nhưng vấn đề còn tồn tại là thời điểm cho bú sữa mẹ và thời gian cho bú sữa mẹ còn chưa hợp lý

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, trẻ cần được bú mẹ sớm ngay sau khi sinh và được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu Số liệu điều tra về NCBSM năm 2004 cho thấy đã có một số tiến bộ trong việc thực hiện NCBSM, như: tỷ lệ cho bú sớm trong vòng 30 phút đầu sau sinh là 75,2%, tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú sữa non là 82%, nhưng chỉ có 12,4% trẻ là được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu, có tới 38,7% bà mẹ cho

1 Global Strategy for Infant and Young Child Feeding, Page 5.

2 Tiến triển của tình trạng dinh dưỡng trẻ em và bà mẹ, 1994-2004 VDD và Tổng cục thống kê-2005.

3 Tiến triển của tình trạng dinh dưỡng trẻ em và bà mẹ, 1994-2004 VDD-Tổng cục thống kê-2005

4 MI (Micronutrient Initiative): Vitamin and Mineral Deficiency: A report assessment for Vietnam (leadership briefing), 2004-MI and UNICEF

5 Báo cáo giám sát dinh dưỡng hàng năm-VDD- 2004

6 National Institute of Nutrition/UNICEF Maternal and child nutrition situation in 1999 Medical publishing house, Hanoi 2000

Trang 9

con ăn thức ăn khác ngoài sữa mẹ ngay trong tuần đầu tiên sau sinh, 7% bà mẹ cai sữa sớm cho con trước 12 tháng tuổi, và có tới 21,9% trẻ em dưới 12 tháng tuổi được nuôi bẵng sữa chai (bú bình)1

Có nhiều lý do để giải thích về việc cho trẻ ăn thêm trong độ tuổi dưới 6 tháng Các yếu tố

ảnh hưởng như việc bà mẹ phải đi làm sớm có nguy cơ không cho con bú hoàn toàn cao

gấp 14 lần so với các bà mẹ không phải đi làm Một yếu tố khác có ảnh hưởng đến việc cho

trẻ bú mẹ hoàn toàn đó là tư vấn của y tá, nữ hộ sinh hoặc bác sỹ Bên cạnh đó còn có

những yếu tố khác tuy không có ý nghĩa thống kê nhưng cũng có tác động đến việc không thực hiện cho bú mẹ hoàn toàn là bà mẹ có tin rằng mình có đủ sữa cho trẻ hay không, số con hiện có, tuổi bà mẹ, trình độ học vấn, trẻ trai hay trẻ gái và điều kiện kinh tế - xã hội của bà mẹ Phần lớn các bà mẹ không thật sự tin rằng mình có đủ sữa cho trẻ bú và không thật sự hiểu rõ ràng về tầm quan trọng của việc NCBSM2 Mặt khác, trong gia đình, những quyết định về việc nuôi dưỡng trẻ nhỏ còn chịu ảnh hưởng của các thành viên trong gia đình cũng như của cả cộng đồng Nếu bà mẹ được tư vấn tốt và cung cấp các thông tin phù hợp thì cũng sẽ tự nguyện thay đổi từ hành vi nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ chưa đúng sang những hành vi nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ đúng đắn và tích cực hơn Vấn đề là cán bộ tư vấn có đủ trình độ, kỹ năng và sẵn sàng thực hiện tốt công tác tư vấn hay không

Sáng kiến Bệnh viện bạn hữu trẻ em (BVBHTE) được Việt Nam hưởng ứng và phát động

từ năm 1992, đến nay đã có 53 bệnh viện ở tuyến TW và tuyến tỉnh được công nhận là Bệnh viện bạn hữu trẻ em (BVBHTE) Việc thực hiện BVBHTE đã làm thay đổi các thực hành về NCBSM: bà mẹ được tư vấn về NCBSM ngay từ khi đến khám thai, việc mẹ và con được nằm gần nhau ngay sau đẻ đã tạo điều kiện dễ dàng cho việc NCBSM, trẻ được

bú sớm ngay sau khi sinh và được bú theo nhu cầu Tuy nhiên, để duy trì BVBHTE là một vấn đề khó khăn lớn hiện nay, một số bệnh viện khi đạt được tiêu chuẩn BVBHTE (theo 10 điều kiện của UNICEF/WHO), một thời gian sau kiểm tra lại thì không còn duy trì được 10 điều kiện của BVBHTE Những sai phạm thường gặp là: Không tư vấn cho bà mẹ đến khám thai và bà mẹ sau đẻ về NCBSM; Vẫn để cho các công ty sữa quảng cáo sữa cho các

bà mẹ; Bà mẹ sau đẻ cho trẻ ăn bằng chai, bú bình; Các bà mẹ không biết cách cho con bú đúng; Lãnh đạo bệnh viện và nhân viên y tế chưa thực sự quan tâm giúp bà mẹ sau đẻ thực hiện tốt việc NCBSM

Dinh dưỡng cho trẻ nhỏ trong những điều kiện khó khăn đặc biệt như trẻ có mẹ HIV (+), trẻ

bị bỏ rơi, trẻ mồ côi là những vấn đề mới song hết sức quan trọng cần có những hướng dẫn chuyên môn cụ thể Các nhà chuyên môn, các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội, các tổ chức quốc tế, chính phủ, phi chính phủ cần có những cam kết và hành động cụ thể để mang lại cho trẻ em quyền được hưởng một chế độ chăm sóc dinh dưỡng tốt nhất

Một trong các nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng SDD trẻ em vẫn còn ở mức cao là vấn đề cho ăn bổ sung không hợp lý; như thời gian cho ăn bổ sung sớm, chất lượng và số lượng thức ăn bổ sung không đáp ứng nhu cầu của trẻ

Ở Việt Nam, theo số liệu của mạng lưới giám sát dinh dưỡng (Viện Dinh dưỡng-2002), trẻ được bắt đầu cho ăn bổ sung từ rất sớm, khoảng 50% số trẻ dưới 6 tháng phải ăn các loại thực phẩm bổ sung trong khi lẽ ra chúng được bú sữa mẹ hoàn toàn Hiện nay, tỷ lệ trẻ ăn

bổ sung sớm, bắt đầu từ 3 tháng còn cao, 30-80%, tuỳ theo từng địa phương Những sai lầm

về thời điểm ăn bổ sung, chất lượng thức ăn bổ sung có thể dẫn tới hậu quả rõ rệt là tỷ lệ trẻ

em gầy còm (có chỉ số cân nặng/chiều cao thấp) tăng nhanh sau 5-6 tháng tuổi và cao nhất

1 Tiến triển của tình trạng dinh dưỡng trẻ em và bà mẹ, 1994-2004 VDD và Tổng cục thống kê-2005.

2 Arun Gupta et al Report on Assessment of Breastfeeding Policy, Promotion and Practice in Vietnam NIN/UNICEF, Hanoi, 2004

Trang 10

đó đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục dinh dưỡng là một ưu tiên hàng đầu

II Tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ còn kém và hoạt động chăm sóc dinh dưỡng bà mẹ trong thời kỳ mang thai còn nhiều bất cập

Tình trạng dinh dưỡng của người mẹ có liên quan chặt chẽ tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ nhỏ, nhất là trẻ sơ sinh Nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã cho thấy rằng tình trạng thiếu năng lượng trường diễn, thiếu máu, tăng cân ít trong thời gian mang thai của bà

mẹ là các yếu tố nguy cơ chính tăng tỷ lệ đẻ non, trẻ đẻ nhẹ cân (là trẻ có cân nặng khi đẻ < 2500g), tăng tử vong chu sinh và sơ sinh Vì vậy, có thể nói, chăm sóc dinh dưỡng cho các

bà mẹ tương lai, đặc biệt là các bà mẹ đang mang thai chính là chăm sóc dinh dưỡng sớm cho trẻ

Theo báo cáo của Tiểu ban Dinh dưỡng-Liên hiệp quốc (ACC/SCN2), SDD thấp còi xảy ra sau một giai đoạn dài (tích luỹ) chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nguy cơ, trong đó các yếu tố dinh dưỡng và chăm sóc sức khoẻ phụ nữ mang thai đóng vai trò quan trọng bậc nhất Theo số liệu giám sát dinh dưỡng năm 2003 của Viện Dinh dưỡng quốc gia, vẫn có tới 35-40% bà mẹ có thai bị thiếu máu do thiếu sắt, tỷ lệ bà mẹ có hàm lượng vitamin A trong sữa thấp vẫn còn trên 30%, trong khi tỷ lệ bà mẹ ngay sau đẻ được uống viên nang vitamin A liều cao mới chỉ đạt 61%, thấp nhất là ở khu vực Tây Nguyên, 35,9%3 Theo báo cáo gần đây nhất, tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn (BMI<18,5) của bà mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi trên toàn quốc là 22,9%4

Bữa ăn của người phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ mang thai nhiều nơi còn thiếu cả về số lượng

và không cân đối về chất lượng Một số vùng do ảnh hưởng của tập quán kiêng khem trong quá trình thai nghén mà người phụ nữ cũng không được hưởng một chế độ dinh dưỡng hợp

lý, bảo đảm cho thai phát triển tốt Người phụ nữ do gánh nặng của công việc, thường phải lao động cho đến sát ngày sinh nở Tỷ lệ phụ nữ có thai đến các cơ sở y tế thăm khám thai

từ 2-3 lần trong suốt quá trình thai nghén chỉ chiếm có 47,4% và vẫn còn có đến 13,2% phụ

nữ có thai không đi khám thai trong suốt quá trình thai nghén5 Số lần thăm khám thai tối thiểu theo yêu cầu không đủ cũng đồng thời nói lên bà mẹ có thai không được tiêm phòng đầy đủ, không được cấp phát viên sắt, cũng như không được cán bộ y tế tư vấn về chăm sóc

1 Số liệu từ mạng lưới giám sát dinh dưỡng toàn quốc-VDD-2003

2 Administrative Committee on Coordination Sub-Committee on Nutrition

3 Tiến triển của tình trạng dinh dưỡng trẻ em và bà mẹ, 1994-2004 VDD-Tổng cục thống kê-2005

4 Tiến triển của tình trạng dinh dưỡng trẻ em và bà mẹ, 1994-2004 VDD-Tổng cục thống kê-2005

5 Demographic and Health Survey-2002- National Committee for Population, Family and Children

Trang 11

thai nghén và dinh dưỡng Điều này cho thấy chăm sóc dinh dưỡng và sức khoẻ cho phụ nữ thời kỳ mang thai vẫn còn có những vấn đề cần quan tâm hơn nữa Do đó, cần có các hoạt động lồng ghép có hiệu quả nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ của người

mẹ trong giai đoạn mang thai và nuôi con nhỏ, điều này sẽ tác động tới chất lượng nuôi dưỡng trẻ nhỏ

III Thực hiện các chính sách pháp luật hỗ trợ về nuôi dưỡng trẻ nhỏ

Chiến lược toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ nhỏ dựa trên nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ, khuyến khích tạo điều kiện đảm bảo quyền con người Công ước quốc tế về quyền trẻ em cũng nhấn mạnh tới quyền được ưu tiên chăm sóc về dinh dưỡng tốt nhất cũng như quyền được

ưu tiên chăm sóc về y tế của trẻ em Tháng 6 năm 2004, Quốc hội đã thông qua Luật bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi) Mặc dù có nhiều thành tựu đáng kể trong công tác thực hiện các chính sách chăm sóc trẻ nhỏ, song công tác này vẫn còn những vấn đề bất cập, nhất là trong lĩnh vực nuôi dưỡng trẻ

Công tác theo dõi giám sát việc thi hành các chính sách còn hạn chế Ngày 10/6/1994 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 307-TTg, về việc quy định một số vấn đề về kinh doanh và sử dụng các sản phẩm thay thế sữa mẹ (SPTTSM) để hỗ trợ việc NCBSM; Nghị định số 74/2000/NĐ-CP ngày 6/12/2000 của Chính phủ qui định về kinh doanh và sử dụng các SPTTSM Mặc dù đã đạt được những tiến bộ đáng kể như việc kinh doanh các sản phẩm thay thế sữa mẹ đã từng bước đi vào nề nếp, tình trạng vi phạm các qui định về kinh doanh các sản phẩm thay thế sữa mẹ phần nào được hạn chế nhờ sự phối hợp của các Bộ ngành trong việc tổ chức triển khai thực hiện Nghị định 74, tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm Tuy nhiên, tình trạng vi phạm các qui định về kinh doanh các sản phẩm thay thế sữa mẹ vẫn còn khá phổ biến, năng lực hoạt động của thanh tra y tế vẫn còn hạn chế và chủ yếu mới được thực hiện tại tuyến tỉnh; việc thanh tra, kiểm tra tại tuyến quận/huyện hiện nay chưa được triển khai Mặt khác, các chế tài xử lý các vi phạm về kinh doanh các sản phẩm thay thế sữa mẹ còn thiếu và chưa đồng bộ nên việc thanh tra, xử lý các vi phạm gặp nhiều khó khăn

Để khắc phục những hạn chế và thực hiện tốt hơn các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông, quảng cáo, khuyến khích NCBSM, ngày 27/2/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định ban hành nghị định số 21/2006/NĐ-CP về việc kinh doanh và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ Nghị định này thay cho Nghị định số 74/2000/NĐ-CP

về kinh doanh và sử dụng các sản phẩm thay thế sữa mẹ

Nghị định số 43/CP ngày 22-6-1993 của Chính phủ quy định tạm thời các chế độ bảo hiểm

xã hội và Thông tư số 34/TT-LB ngày 13 tháng 7 năm 1994 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hướng dẫn việc thi hành các chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội về ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người lao động, do tổ chức công đoàn quản lý

đã đề ra quy định thời gian nghỉ đẻ thai sản đối với phụ nữ chỉ là 4 tháng Đây cũng là một vấn đề cần nghiên cứu sửa đổi trong các chính sách hiện hành cho phù hợp trong giai đoạn tới nhằm tạo điều kiện cho người phụ nữ có thời gian chăm sóc con, NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu

Có thể nói các chính sách đã tác động tới nguyên nhân của SDD ở mọi cấp độ khác nhau từ nguyên nhân cơ bản đến nguyên nhân trực tiếp Trong khi nhiều giải pháp chuyên môn được khuyến khích áp dụng chẳng hạn như NCBSM nhưng các chính sách hỗ trợ cho người

mẹ NCBSM, nhất là thực hiện bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau sinh còn chưa cụ thể Các chính sách về chăm sóc trẻ em chưa đồng bộ và chưa đáp ứng về nguồn lực để có thể hỗ trợ có hiệu quả cho công tác này, đặc biệt là ở các vùng khó khăn

Trang 12

Người mẹ có quyền được tiếp cận một chế độ dinh dưỡng hợp lý cũng như quyền được quyết định một chế độ dinh dưỡng tối ưu cho con mình, muốn thế, người mẹ cần được cung cấp đầy đủ thông tin cũng như được sống trong một môi trường có những điều kiện thuận lợi để có thể thực hiện những quyết định đúng đắn của mình Cần có những chính sách cụ thể để tạo điều kiện cho người mẹ, dù là trong các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp hay ở các vùng nông thôn đều có khả năng áp dụng những hiểu biết đúng đắn về dinh dưỡng của mình vào việc chăm sóc dinh dưỡng hợp lý cho trẻ nhỏ Vì vậy yêu cầu hoàn thiện và thực thi các chính sách hỗ trợ cho nuôi dưỡng trẻ nhỏ đặt ra hết sức cấp bách

IV Chưa đáp ứng kịp thời về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em trong hoàn cảnh khó khăn đặc biệt

Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt bao gồm nhóm trẻ bị SDD nặng; trẻ đẻ nhẹ cân (là trẻ có cân nặng sơ sinh thấp <2500gr); trẻ sinh ra từ những người mẹ vị thành niên, trẻ bị dị tật; trẻ nằm trong vùng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa; trẻ bị mồ côi, đặc biệt là trẻ có HIV dương tính (+) hoặc trẻ là con của mẹ có HIV dương tính (+) Nhiễm HIV/AIDS ở phụ

nữ nước ta đang có dấu hiệu gia tăng Hiện nay nữ chiếm 15% tổng số trường hợp nhiễm HIV được báo cáo (Bộ Y tế: Báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS tháng 12/2004) Giám sát trọng điểm hàng năm cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mang thai trong toàn quốc cũng đã tăng xấp xỉ 20 lần, từ 0,02% vào năm 1994 lên 0,35% vào năm 2004 (theo số liệu giám sát trọng điểm 1994-2004, Bộ Y tế) Số trẻ nhỏ có HIV (+) có dấu hiệu gia tăng trong những năm gần đây, vì vậy việc hướng dẫn nuôi dưỡng trẻ trong những trường hợp này cần đặc biệt chú ý Khó khăn hiện nay là ngoài việc thiếu cán bộ y tế để chăm sóc và tư vấn dinh dưỡng, việc cập nhật những kiến thức mới về nuôi dưỡng trẻ HIV/AIDS vẫn còn rất hạn chế Mặt khác, do một bộ phận người dân còn hạn chế về nhận thức nên có thái độ

xa lánh, thiếu quan tâm chia sẻ với người nhiễm HIV, do vậy, người bệnh còn tự ti, mặc cảm, không dám chia sẻ, điều này cũng giải thích vì sao các bà mẹ có HIV (+) đến đẻ tại bệnh viện không khai báo địa chỉ chính xác, nên việc liên hệ để giúp đỡ cho mẹ và con sau khi ra viện là rất khó khăn

Bên cạnh việc thực hành nuôi dưỡng trẻ có HIV (+) vẫn còn nhiều bất cập, việc nuôi dưỡng

để hồi phục những trẻ đã bị SDD nặng cũng đang là vấn đề cấp bách cho cộng đồng hiện nay Thực tế cho thấy nguyên nhân gây SDD nặng ở trẻ em hiện nay không đơn thuần là do thiếu ăn mà thường là tích hợp của nhiều nguyên nhân như trẻ mắc một số bệnh mạn tính, trẻ bị dị tật (sứt môi, hở hàm ếch, dị dạng ống tiêu hóa), cha mẹ li dị nhau, trẻ mồ côi Người mẹ hoặc người chăm sóc trẻ nếu không có kiến thức về dinh dưỡng hoặc không được tư vấn, hướng dẫn kịp thời để nuôi dưỡng trẻ hợp lý sẽ làm cho trẻ bị SDD từ mức độ nhẹ, chuyển thành nặng hơn Điều không thể không nói đến là các tài liệu để chuyển tải các thông tin về cách nuôi trẻ trong các trường hợp khó khăn đặc biệt hầu như còn rất ít trên cộng đồng, nhất là những nơi không có điều kiện tiếp cận dễ dàng với các nguồn thông tin (vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa), công tác tư vấn dinh dưỡng cụ thể cho từng đối tượng chưa được chú trọng đúng mức Vì vậy, tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực đi đôi với phát triển hoàn thiện các tài liệu truyền thông nhằm làm tốt công tác hướng dẫn, tư vấn nuôi dưỡng trẻ trong các trường hợp này là điều rất cần thiết nhằm tiến tới giảm tỷ lệ tử vong và hạn chế việc trẻ bị chuyển thành SDD nặng hơn do chưa biết cách chăm sóc dinh dưỡng hợp lý

V Một số vấn đề tồn tại khác

Đó là: thiếu hệ thống thông tin, giám sát về nuôi dưỡng trẻ nhỏ; Sự phối hợp lồng ghép các hoạt động về nuôi dưỡng trẻ nhỏ giữa các chương trình/dự án còn yếu; Thiếu trang thiết bị,

Trang 13

và cứu trợ trẻ em trong những vùng xảy ra thiên tai, thảm họa Đây là những thách thức lớn đặt ra trước mắt chúng ta, đòi hỏi có sự nỗ lực và phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp để

có thể xây dựng và hoàn thiện được mạng lưới thông tin, theo dõi, giám sát những trường hợp gặp khó khăn đặc biệt một cách thường xuyên, có hệ thống cũng như có những cơ quan

có trách nhiệm đưa ra những quyết định kịp thời về nuôi dưỡng, cứu trợ trẻ nhỏ khi xảy ra thiên tai thảm họa Thực tế hiện nay cho thấy vấn đề nuôi dưỡng trẻ nhỏ được đề cập đến trong nhiều chương trình/dự án cấp quốc gia như: Dự án mục tiêu Phòng chống SDD trẻ

em, Dự án Làm mẹ An toàn, Chương trình NCBSM nhưng sự phối hợp còn chưa chặt chẽ, chưa đồng bộ

Mạng lưới Y tế bao gồm cả nguồn nhân lực và trang thiết bị chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc trẻ có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt Đội ngũ cán bộ y tế rất cần được đào tạo, tập huấn về kỹ năng tư vấn dinh dưỡng cũng như được trang bị những kiến thức cập nhật về nuôi dưỡng trẻ nhỏ, những điều kiện cơ sở vật chất để làm việc, nhất là tại các phòng tư vấn dinh dưỡng ở các cộng đồng khó khăn Tài liệu truyền thông về nuôi dưỡng trẻ nhỏ còn thiếu cả về số lượng và chưa thật sự phù hợp về mặt nội dung

CHƯƠNG III MỤC TIÊU

I Mục tiêu chung

Cải thiện tình trạng dinh dưỡng, sức khoẻ và sự phát triển của trẻ nhỏ từ 0-3 tuổi, tạo sự tăng trưởng tối ưu cho trẻ em Việt Nam vào năm 2010

II Mục tiêu cụ thể

1 Mục tiêu 1: Đến năm 2010, 70% các bà mẹ và người chăm sóc trẻ được tiếp cận với các

dịch vụ về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ nhỏ

Các chỉ số theo dõi/đánh giá:

- Đến năm 2010, 80% số trạm y tế tuyến xã/phường có điểm truyền thông tư vấn về nuôi dưỡng trẻ nhỏ

- Tài liệu truyền thông về nuôi dưỡng trẻ nhỏ được phát hành rộng rãi tới 100% cơ sở y tế tuyến cơ sở và 80% hộ gia đình đang nuôi con nhỏ vào năm 2010

2 Mục tiêu 2: Đến năm 2010, tỷ lệ trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và

ăn bổ sung hợp lý tăng lên ít nhất 50% so với năm 2005

Các chỉ số theo dõi/đánh giá:

- Tỷ lệ trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu tăng từ 12,5% năm 2005 lên 25% năm 2010

- Tỷ lệ trẻ được bú sớm sau đẻ (trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh) tăng lên 90% vào năm 2010

Trang 14

- Số bệnh viện duy trì tiêu chuẩn “Bệnh viện bạn hữu trẻ em” tăng lên gấp 2 lần vào năm

2010 so với năm 2005

- Tỷ lệ trẻ được cho ăn bổ sung hợp lý (cho ăn đúng thời điểm, đủ về số lượng và cân đối

về chất lượng) tăng lên 30% vào năm 2010 so với năm 2005

3 Mục tiêu 3: Cải thiện về cơ bản hệ thống chăm sóc dinh dưỡng trẻ bệnh và đáp ứng kịp

thời nhu cầu chăm sóc về dinh dưỡng cho trẻ nhỏ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

Các chỉ số theo dõi/đánh giá:

- Đến năm 2010, 90% nhân viên y tế tuyến cơ sở được tập huấn về kiến thức và kỹ năng tư vấn, hướng dẫn thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ

- Có văn bản quy định và hướng dẫn kỹ thuật việc lồng ghép các nội dung chăm sóc dinh dưỡng vào chương trình chăm sóc trẻ bệnh (chương trình IMCI)

- Có văn bản quy định và hướng dẫn kỹ thuật việc chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ nhỏ có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt về nuôi dưỡng, trẻ nhỏ sống trong vùng xảy ra thiên tai, thảm họa

- Mạng lưới theo dõi, giám sát thực hiện nuôi dưỡng trẻ nhỏ được hình thành từ trung ương đến địa phương, cung cấp kịp thời và chính xác những thông tin về nuôi dưỡng trẻ nhỏ

CHƯƠNG IV CÁC GIẢI PHÁP

1 Truyền thông giáo dục phổ cập kiến thức và hướng dẫn thực hành dinh dưỡng đúng cho các bà mẹ mang thai, bà mẹ đang nuôi con nhỏ và người chăm sóc trẻ Tập trung vào thay đổi hành vi về NCBSM và ăn bổ sung Khuyến khích, bảo vệ, tạo điều kiện để người mẹ cho con bú sớm trong vòng 1 giờ đầu ngay sau khi sinh và thực hiện NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu Tiếp tục cho trẻ bú đến 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn cùng với ăn bổ sung

hợp lý (thời điểm cho ăn bổ sung đúng, thức ăn bổ sung phù hợp với từng giai đoạn phát

triển và số lượng thức ăn bổ sung đáp ứng đủ nhu cầu của trẻ)

2 Chăm sóc dinh dưỡng sớm cho bà mẹ có thai, bao gồm chăm sóc cả về mặt thai sản (khám thai, tiêm phòng, lao động và nghỉ ngơi hợp lý) và về dinh dưỡng (uống viên sắt, chế độ ăn hợp lý cho bà mẹ mang thai)

3 Củng cố và nâng cao chất lượng của hệ thống chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ nhỏ thông qua tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực, cung cấp trang thiết bị thiết yếu, tài liệu Phối hợp lồng ghép với các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu, chăm sóc sức khoẻ sinh sản

4 Hướng dẫn, tư vấn kỹ thuật và hỗ trợ cho việc nuôi dưỡng trẻ trong những điều kiện khó khăn đặc biệt (HIV/AIDS; SDD nặng; trẻ sơ sinh nhẹ cân; thiên tai, thảm hoạ ) Chủ động đối phó trong trường hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, có nguồn lực dự trữ để hỗ trợ kịp thời vấn đề nuôi dưỡng trẻ nhỏ

5 Bổ sung, củng cố xây dựng hệ thống văn bản pháp quy để hỗ trợ tốt nhất cho công tác nuôi dưỡng trẻ nhỏ Tăng cường cam kết từ gia đình, cộng đồng, chính quyền và toàn xã hội trong việc chăm sóc dinh dưỡng toàn diện, tối ưu cho trẻ nhỏ

Ngày đăng: 15/11/2014, 20:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành mạng lưới triển khai ở các cấp - - - - -    Xây dựng kế hoạch hoạt  động cụ thể cho - Kế hoạch hành động nuôi dưỡng trẻ nhỏ
Hình th ành mạng lưới triển khai ở các cấp - - - - - Xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể cho (Trang 25)
Hình thành mạng lưới triển khai ở các cấp  x - Kế hoạch hành động nuôi dưỡng trẻ nhỏ
Hình th ành mạng lưới triển khai ở các cấp x (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w