BÀI TẬP THẢO LUẬN Kinh tế đầu tư
Trang 1KINH TẾ ĐẦU TƯ 2
1 Nội dung quản lý đầu tư của nhà nước
1.1 Sự cần thiết phải quản lý đầu tư của nhà nước
Quản lý NN về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của NN lên nềnkinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoàinước, các cơ hội có thể có để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ratrong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế
Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì nhân dân Để quản lý đầu tư, Nhà nướcđóng vai trò chủ thể quản lý, làm cho nền kinh tế tăng trưởng, đi đôi với giải quyết tốt cácvấn đề xã hội, tạo điều kiện để nhân dân sống và làm ăn theo pháp luật Được thể hiện cụthể với các lý do sau:
-Thứ 1, NN quản lý đầu tư nhằm hỗ trợ, đảm bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển đồng điều.
Kinh tế thị trường chủ yếu chỉ chú trọng đến những nhu cầu có khả năng thanh toán,không chú ý những nhu cầu cơ bản của xã hội Mục đích chủ yếu là đặt lợi nhuận lênhàng đầu, cái gì có lãi thì làm, không có lãi thì thôi nên nó không giải quyết được cái gọi
là hàng hóa công cộng như đường xá, công trình văn hóa, y tế, giáo dục…Do vậy, cầnphải có sự hỗ trợ của NN như tạo lập đồng bộ các loại thị trường, quản lý, điều tiết nhịpnhàng, có hiệu lực, tạo nhiều cơ chế, chính sách, hỗ trợ tài chính để cho các thành phầnkinh tế phát triển
-Thứ 2, NN quản lý đầu tư vì trong nền kinh tế quốc dân có một phần kinh tế NN: Đây
là lý do trực tiếp nhất, khiến NN phải can thiệp vào nền kinh tế quốc dân.
Sở dĩ NN phải xây dựng lực lượng kinh tế NN vì NN cần có một loại công cụ đặc biệt đểđiều chỉnh nền kinh tế quốc dân nói riêng, các quan hệ xã hội nói chung, việc mà cáccông cụ quản lý khác không thích hợp
Tóm lại, trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước ta đang thực hiện nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần, theo cơ chế thị trường định hướng xhcn Song song với những ưu điểm vẫncòn tồn tại nhiều mặt hạn chế hay còn gọi là mặt trái của cơ chế thị trường tác động tiêu
Trang 2cực đến bản chất XHCN như xu hướng phân hóa giàu nghèo quá mức, tâm lý sùng báiđồng tiền, vì đồng tiền mà chà đạp lên đạo đức, nhân phẩm của con người…Vì vậy, quản
lý nhà nước về đầu tư là một yêu cầu cần thiết khách quan, nhằm điều khiển các thànhphần kinh tế và thị trường hoạt động theo định hướng XHCN; đấu tranh khắc phục, hạnchế tối đa những khuynh hướng tiêu cực xã hội
1.1.1 Nội dung quản lý
Nhà nước XHCN thực hiện chức năng quản lý kinh tế của mình trong đó có việc quản lýhoạt động đầu tư Nhà nước thống nhất quản lý đầu tư với các nội dung sau đây:
(Điều 80 đến điều 87 Chương IX Luật đầu tư)
1.2.1) Nhà nước xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp và những văn bản dưới
luật liên quan đến hoạt động đầu tư Nhà nước ban hành, sửa đổi, bổ sung luật đầu tư và các luật liên quan như luật thuế, luật đất đai, luật đấu thầu… và các văn bản dưới luật nhằm một mặt khuyến khích hoạt động đầu tư, mặt khác đảm bảo cho đầu tư thực hiện đúng luật và đạt hiệu quả cao.
- Nhà nước xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp và những văn bản dưới luật
liên quan đến hoạt động đầu tư Các văn bản pháp luật ra đời sau ngày càng bổxung và hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về đầu tư ở nước ta
Ví dụ:Luật đầu tư và các văn bản pháp luật có liên quan đến đầu tư từng bước
được hoàn thiện nhằm tạo ra khung pháp lý cũng như là căn cứ để hoạt động + Năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành
Luật này quy định về hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh; quyền vànghĩa vụ của nhà đầu tư; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; khuyếnkhích và ưu đãi đầu tư; quản lý nhà nước về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ ViệtNam ra nước ngoài Áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu
tư trên lãnh thổ Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoà và các tổ chức, cánhân liên quan đến hoạt động đầu tư
+ Năm 1990, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân được ban hành
Trang 3Luật này quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loạihình doanh nghiệp gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công tyhợp danh và doanh nghiệp tư nhân
+ Năm 1994, Luật khuyến khích Đầu tư trong nước ra đời
Nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn, tài nguyên, lao động vàcác tiềm năng khác của đất nước nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, vì sựnghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Nhà nước bảo hộ vàkhuyến khích tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế - xãhội trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam
+ Năm 1996, lần đầu tiên ta có Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định
43/1996/NĐ-CP ngày 16/7/1996
Quy chế đấu thầu được ban hành nhằm thống nhất quản lý hoạt động đấu thầutrong cả nước, bảo đảm tính đúng đắn, khách quan, công bằng và có tính cạnhtranh trong đấu thầu dự án hoặc từng phần dự án đầu tư về tuyển chọn tư vấn, muasắm vật tư thiết bị và thi công xây lắp để thực hiện các dự án đầu tư trên lãnh thổnước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Nhà nước ban hành, sửa đổi, bổ sung luật đầu tư và các luật liên quan như luật
thuế, luật đất đai, luật đấu thầu… và các văn bản dưới luật nhằm một mặt khuyếnkhích hoạt động đầu tư, mặt khác đảm bảo cho đầu tư thực hiện đúng luật và đạthiệu quả cao
Ví dụ:
+ Luật Đầu tư được chỉnh sửa hai lần vào năm 1996 và 2000 và Luật Doanh nghiệp được sửa đổi năm 2000 Cùng với các sự thay đổi này, Luật đấu thầu, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Hải quan, Luật Đất đai cũng được sửa đổi nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng Tiếp đó, là sự hoàn thiện và ra đời của Luật Đầu tư chung năm 2005 và Luật Doanh nghiệp 2005
Trang 4Do hoạt động đầu tư mang tính liên ngành, việc xây dựng hệ thống luật pháp sẽgiúp xác định rõ thẩm quyền, quyền hạn, trách nhiệm của từng Bộ, Ngành trongviệc quản lý hoạt động đầu tư cũng như các hoạt động có liên quan trong quá trìnhlập dự án đầu tư, thực hiện đầu tư, vận hành kết quả đầu tư Luật ngày càng quyđịnh những vấn đề chi tiết hơn, cụ thể hơn các vấn đề về đầu tư như: hình thức đầu
tư, thủ tục đầu tư, hỗ trợ, ưu đãi đầu tư, đăng ký và cấp giấy chứng nhận đầu tư…Các vấn đề về thành lập và quản lí hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp và cácvấn đề bổ xung sửa đổi trong các bộ luật liên quan nhằm khuyến khích các hoạtđộng đầu tư trong và ngoài nước
+ Các bộ luật đã được ban hành và sửa đổi đảm bảo cho đầu tư thực hiện đúng luật
và đạt hiệu quả cao
Có thể thấy như ở Luật đấu thầu:
Quy chế đấu thầu được sửa đổi theo các Nghị định 88/1999/NĐ-CP ngày01/9/1999, Nghị định 14/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000 và Nghị định 66/2003/NĐ-
CP ngày 12/6/2003 Và để đáp ứng nhu cầu thực tiễn, sau nhiều lần xây dựng, đến
tháng 6/2005, Chính phủ thông qua Dự thảo lần 10 Pháp lệnh đấu thầu Tuy
nhiên, do tầm quan trọng của công tác đấu thầu trong mối quan hệ với nhiều nộidung thuộc các Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chốnglãng phí, Luật Xây dựng Pháp lệnh đấu thầu đã được Chính phủ đề xuất nâng lên
thành Luật Đấu thầu để Quốc hội xem xét, thông qua vào ngày 29/11/2005 và
Luật Đấu thầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2006
Sau một thời gian thực hiện, một số nội dung của luật đấu thầu tỏ ra có nhiều bấtcập Do đó, ngày 19-6-2009 tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII thông qua luậtsửa đổi, bổ sung một số điều của luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản, trong
đó, có nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung Luật đấu thầu năm 2005 Luật này có phạm
vi, nội dung điều chỉnh gồm sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xây dựng, Luậtđấu thầu, Luật doanh nghiệp, Luật đất đai và Luật nhà ở Theo đó, nội dung nàysửa đổi, bổ sung năm nhóm vấn đề cơ bản trong Luật đấu thầu năm 2005, đó là:sửa đổi quy định về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu; về chỉ định thầu; về phân
Trang 5cấp trong đấu thầu; chế tài xử lý các hành vi vi phạm về đấu thầu và một số nộidung khác gồm sửa đổi quy định về sơ tuyển, tiếp nhận hồ sơ dự thầu Nội dungsửa đổi, bổ sung Luật đấu thầu nhằm tháo gỡ vướng mắc liên quan đến công tácđấu thầu; tạo sự chủ động, linh hoạt cho người quyết định đầu tư trong công việc
sơ tuyển nhà thầu, quyết định hình thức lựa chọn nhà thầu; tăng cường phân cấptrong đấu thầu cho chủ đầu tư cùng với việc tăng cường trách nhiệm kiểm tra,giám sát, xử phạt của người quyết định đầu tư, nhằm rút ngắn thời gian trong đấuthầu và gắn trách nhiệm trực tiếp của chủ đầu tư đối với chất lượng và tiến độ củadịch vụ tư vấn, hàng hóa và công trình; tăng cường chế tài xử lý vi phạm pháp luật
về đấu thầu; xử lý các vướng mắc về thủ tục đấu thầu, phù hợp với tình hình thựctế…
Ý nghĩa:
Khuyến khích hoạt động đầu tư của các thành phần kinh tế trong tất cả các lĩnh vực đầu tư
Tăng cường năng lực của các cơ quan quản lý Nhà nước về Đầu tư
Đảm bảo cho đầu tư thực hiện đúng luật và đạt hiệu quả cao
1.2.2) Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu tư, chính sách về đầu tư phát
triển Trên cơ sở chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của ngành và của địa phương và vùng lãnh thổ, xây dựng các quy hoạch, kế hoạch đầu tư, trong đó, rất quan trọng là việc xác định nhu cầu về vốn, nguồn vốn, các giải pháp huy động vốn… Từ đó xác định danh mục các
dự án ưu tiên.
- Nhà nước xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu tư, chính sách về đầu tư
phát triển Nội dung quản lí này được quy định đầu tiên trong chức năng nhiệm vụcủa Bộ Kế hoạch và Đầu tư thể hiện tầm quan trọng của công tác này trong vấn đềquản lí đầu tư về nhà nước
Ví dụ: Trong chiến lược phát triển bền vững Việt Nam Việc xây dựng quy hoạch kế hoạch quy hoạch và chiến lược phát triển năng lượng đã được Bộ Kế
Trang 6hoạch và Đầu tư được xác định là chiến lược trọng điểm xuyên suốt quá trình pháttriển kinh tế của đất nước Chiến lược phát triển năng lượng được thực hiện bằngcác chính sách hợp tác quốc tế về xuất nhập khẩu năng lượng; phát triển khoa họccông nghệ; phát triển nguồn năng lượng mới và tái tạo; cải cách cơ cấu tổ chứcngành năng lượng, hình thành thị trường năng lượng cạnh tranh; sử dụng nănglượng tiết kiệm và hiệu quả Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm
2020, tầm nhìn 2050 đã được Bộ Chính trị thông qua và được Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt tại Quyết định 1855/QĐ-TTg ngày 27/12/2007 Theo đó, phấn đấuđảm bảo cung cấp đủ năng lượng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; trong đónăng lượng sơ cấp (than, dầu khí, thủy điện và Uranium) năm 2010 khoảng 47,5-49,5 triệu TOE (tấn dầu tương đương) và đến năm 2050 khoảng 310 - 320 triệuTOE Trong các quy hoạch điện, than, dầu khí và chiến lược phát triển năng lượngViệt Nam đều coi việc thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh hợp tác quốc tế làchủ trương đồng thời là giải pháp cấp thiết Để thu hút được các dự án đầu tư nướcngoài trong lĩnh vực năng lượng, ngoài việc cần sớm nghiên cứu đề ra các chínhsách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư, giải quyết các vấn đề vướng mắc, còn cần tổchức các cuộc hội thảo xúc tiến đầu tư mang tính chuyên ngành trong và ngoàinước Các Bộ Công Thương, Tài nguyên và Môi trường, Tài chính với Bộ Kếhoạch và Đầu tư đã và đang phối hợp chặt chẽ trong quá trình thực hiện thực hiện
+ Trên cơ sở chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, của ngành và của địa phương và vùng lãnh thổ, xây dựng các quy hoạch, kếhoạch đầu tư, trong đó, rất quan trọng là việc xác định nhu cầu về vốn, nguồn vốn,các giải pháp huy động vốn… Từ đó xác định danh mục các dự án ưu tiên
Xác định rõ nhu cầu về vốn, các nguồn vốn có thể huy động, các giải pháp huy động vốn, các danh mục dự án ưu tiên, từ đó, góp phần huy động tối đa và sử dụnghiệu quả các nguồn vốn, thực hiện đầu tư đúng tiến độ đã được duyệt, tránh được
sự trì trệ, ứ đọng vốn
Ý nghĩa:
Trang 7 Thực hiện thành công các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội trong từng thời kỳ của quốc gia, từng ngành và từng địa phương.
Tránh lãng phí, thất thoát trong các khâu của quá trình đầu tư, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư
1.2.3) Ban hành kịp thời các chính sách chủ trương đầu tư Nhà nước ban hành các
chính sách, chủ trương quan trọng như chính sách tài chính tiền tệ, tín dụng linh hoạt, chính sách ưu đãi đầu tư… nhằm cải thiện môi trường và thủ tục đầu tư Nhà nước đề ra các giải pháp nhằm huy động tối đa và phát huy có hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư đặc biệt vốn trong dân và vốn đầu tư nước ngoài; trên cơ sở đó phân tích đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư, kịp thời điều chỉnh bổ sung những bất hợp lý, chưa phù hợp trong cơ chế, chính sách.
- Nhà nước ban hành kịp thời các chính sách chủ trương đầu tư quan trọng như
chính sách tài chính tiền tệ, tín dụng linh hoạt, chính sách ưu đãi đầu tư… nhằm cải thiện môi trường và thủ tục đầu tư
Ví dụ: Vào năm 2008, dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
Khủng hoảng từ nguồn lương thực đến nhiên liệu, từ tài chính đến chính trị, từ môitrường đến an ninh, ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế đất nước ta Trước tình hình đó Đảng và nhà nước đã kịp thời ban hành các chính sách chủ trương đầu tư
nhằm hạn chế đến mức cao nhất tác động xấu của cuộc khủng hoảng toàn cầu đến nền kinh tế đất nước
Điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa kiềm chế lạm phát năm 2008
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và căn cứ vào tình hình thực tế, ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã điều hành CSTT theo hướng thắt chặt để kiềm chế tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng nhằm đảm bảo mức tăng tổng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng không vượt quá 30% Bội chi ngân sách lên đến 4,8%, chính sách tài khóa sẽ tiếp tục được thắt chặt quyết liệt hơn để đồng bộ với chính sách tiền tệ Khi thực hiên chính sách tiền tệ và tài khóa thắt chặt giúp cho tỉ lệ lạm phát có xu hướng giảm dần trung bình cả năm là khoảng 8% Việc rút bớt một lượng tiền mặt khỏi lưu thông được thực hiện thông qua việc siết chặt các khoản vay không hiệu quả để tập trung tăng trưởng tín dụng cho sản xuất, xuất khẩu, cho lĩnh vực nông nghiệp,
Trang 8nông dân và nông thôn, cho hộ chính sách và đặc biệt là đối với các dự án dang dở có hiệu quả phải đầu tư nhanh để phát huy hiệu quả Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ
và tài khóa linh hoạt khi thấy dấu hiệu thị trường và tác động của cuộc khủng hoảng kinh
tế đã giảm đi ngay lập tức thực hiện thay đổi chính sách tiền tệ theo hướng nới lỏng hơn tăng cường kiểm soát lạm phát nhưng đồng thời cũng góp phần tăng đầu tư sản xuất, kinhdoanh để ngăn chặn đà suy giảm kinh tế NHNN đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản từ 14%/năm xuống 13%/năm, 12%/năm, 10%/năm và 8,5%/năm; đã tăng lãi suất tiền gửiDTBB bằng đồng Việt Nam đối với các TCTD từ 5%/năm lên 10%/năm và giảm 1% tỷ
lệ DTBB đối với tiền nội tệ và 2% tỷ lệ DTBB tiền gửi ngoại tệ áp dụng cho các TCTD Các động thái nới lỏng CSTT hơn mức đầu năm vào những tháng cuối năm 2008 là nhằmngăn chặn đà suy giảm kinh tế có thể xẩy ra trong năm 2009
- Nhà nước đề ra các giải pháp nhằm huy động tối đa và phát huy có hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư đặc biệt vốn trong dân và vốn đầu tư nước ngoài; trên cơ sở đó phân tích đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư, kịp thời điều chỉnh bổ sung những bất hợp lý, chưa phù hợp trong cơ chế, chính sách
Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nguồn vốn của Nhà nước tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế cho đầu tư phát triển còn hết sức hạn chế, để có nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu phát triển của đất nước, ngoài các nguồn vốn đầu tư trong nước (bao gồm tiết kiệm của Ngân sách Nhà nước (NSNN), của doanh nghiệp, tiếtkiệm của dân cư), các nguồn vốn đầu tư nước ngoài (trực tiếp và gián tiếp) thì việcNhà nước huy động (dưới hình thức đi vay trong nước, nước ngoài) và sử dụng (đầu tư) vốn đúng mục đích có hiệu quả là một yêu cầu hết sức cần thiết và cấp bách Vấn đề huy động vốn là vấn đề hết sức quan trọng và đặc biệt quan tâm của các nhà quản lý tài chính
Các giải pháp huy động vốn thông qua các hình thức phát hành trái phiếu, giảm lãi suất cho vay, tăng lãi suất huy động đã phần nào khuyến khích và tạo điều kiện đầu tư tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều bất cập và khó khăn đòi hỏi chính phủ phải nghiên cứu kĩ lưỡng và cẩn trọng khi thực hiện
Ý nghĩa:
Trang 9 Giúp cải thiện môi trường và thủ tục đầu tư, từ đó tăng cường, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, khuyến khích đầu tư của tư nhân.
Nhằm huy động tối đa và phát huy có hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư đặc biệt vốn trong dân và vốn đầu tư nước ngoài
Kịp thời điều chỉnh bổ sung những bất hợp lý, chưa phù hợp trong cơ chế, chính sách
1.2.4) Ban hành các định mức kinh tế - kỹ thuật, các chuẩn mực đầu tư Nhà nước
mà đại diện là ngành thống nhất quản lý các định mức kinh tế - kỹ thuật liên quan đến ngành mình như ban hành những quy định về yêu cầu thiết kế thi công, tiêu chuẩn chất lượng, môi trường…
- Nhà nước ban hành các định mức về kinh tế, các chuẩn mực đầu tư áp dụng trong
Quyết định 60/2010/QĐ-TTg quy định rõ về các định mức đầu tư như về mực vốn
hỗ trợ cho từng dự án
+ Đối với các địa phương không có điều tiết về ngân sách trung ương, tổng mức
hỗ trợ cho mỗi dự án không quá 50% tổng dự toán xây lắp
Trang 10+ Đối với các địa phương nhận bổ sung trong cân đối từ ngân sách trung ươngtổng mức hỗ trợ cho mỗi dự án không quá 80% tổng dự toán xây lắp.
- Trong công tác quản lý các công trình xây dựng, Nhà nước mà đại diện là Bộ Xây
dựng quản lý các định mức liên quan đến ngành xây dựng, quy định về yêu cầu thiết kế thi công, tiêu chuẩn chất lượng, môi trường như ban hành về thiết kế thi công, tiêu chuẩn chất lượng, chi phí đầu tư xây dựng công trình,…
Từ đó, Bộ xây dựng hệ thống định mức xây dựng của Việt Nam bao gồm:
+Định mức kinh tế kỹ thuật: Về định mức kinh tế kỹ thuật bao gồm định mức dựtoán và định mức cơ sở (hay còn gọi là định mức thi công, định mức sản xuất).Định mức dự toán phản ánh hao phí vật chất về vật liệu, về nhân công, về sử dụngmáy thi công để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm cụ thể
Định mức cơ sở hay định mức thi công xác định hao phí vật liệu cho một đơn vịsản phẩm, năng suất lao động cho một công việc, năng suất của một ca máy thicông Đây là căn cứ để xác định các định mức dự toán đã đề cập ở phần trên.+ Về định mức chi phí tính theo tỷ lệ phần trăm để thuê tư vấn lập, đánh giá dự án,
để quản lý công trình của chủ đầu tư, để lập và thẩm tra thiết kế – dự toán, để lập
và đánh giá hồ sơ thầu, để thuê tư vấn giám sát thi công công trình; những địnhmức tỷ lệ % chi phí quản lý dự án và đầu tư xây dựng công trình có vai trò quantrọng để lập và quản lý chi phí tư vấn trong hoạt động xây dựng như để xác địnhchi phí tư vấn trong tổng mức đầu tư, trong dự toán xây dựng công trình, trong xácđịnh giá gói thầu, giá hợp đồng, giá thanh toán
Ý nghĩa:
Trang 11 Thông qua các tiêu chuẩn kỹ thuật, các Bộ ngành đại diện cho Nhà nước thựchiện công tác quản lý số lượng của hoạt động đầu tư Dựa vào các định mức, cácđơn vị có thể tính toán được tổng vốn dự toán của các dự án, do đó, có thể xácđịnh được số lượng vốn, nguồn vốn huy động, kế hoạch giải ngân vốn,…Hệ thốngcác chỉ tiêu kỹ thuật còn là công cụ để Nhà nước quản lý chất lượng đầu tư thôngqua việc giám sát hoạt động đầu tư dựa trên những định mức đầu tư đã được đưa
ra ban đầu
Hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật, các chuẩn mực đầu tư còn là cơ sở để tiếnhành thẩm định dự án đầu tư như: thẩm tra dự án đầu tư; thẩm tra thiết kế kỹ thuật,thiết kế bản vẽ thi công; thẩm tra tổng dự toán, dự toán công trình Bên cạnh đó,còn là cơ sở để quản lý các hoạt động trong lĩnh vực đầu tư có liên quan tới môitrường, các yếu tố về khoa học, công nghệ
1.2.5) Xây dựng chính sách cán bộ thuộc lĩnh vực đầu tư Nhà nước xây dựng chính
sách cán bộ, đào tạo, huấn luyện đội ngũ cán bộ chuyên môn chuyên sâu cho từng lĩnh vực của hoạt động đầu tư.
- Các cán bộ quản lý trong lĩnh vực đầu tư, đặc biệt là cán bộ cấp cao và các chuyên
gia là những người tham gia vào quá trình hoạch định đường lối, chiến lược, định hướng chính sách phát triển kinh tế trong từng giai đoạn, từng ngành, từng lĩnh vực và từng địa phương
- Người cán bộ trong lĩnh vực đầu tư là những người trực tiếp biến chủ trương,
đường lối, chiến lược, chính sách, kế hoạch và các dự án phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước thành hiện thực Thông qua các dự án đầu tư thực tế nhằm điềuchỉnh nền kinh tế vận hành đúng hướng và đạt được những mục tiêu đã đề ra
- Người cán bộ trong lĩnh vực đầu tư có thể giúp cho nền kinh tế có thể sử dụng và
khai thác có hiệu quả nhất các nguồn lực và cơ hội quốc gia Thông qua việc thu thập các thông tin về thực trạng các nguồn lực, các điều kiện kinh tế xã hội, tiềm năng của đất nước… để đưa ra các phương án hoạt động tối ưu nhằm sử dụng hiệuquả nhất nguồn lực của xã hội như vốn, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động…
Trang 12- Người cán bộ trong lĩnh vực đầu tư cần phải phát hiện ra những cơ hội và thách
thức đối với đất nước trong tình hình mới, từ đó thông qua các việc làm cụ thểnhằm hạn chế những nguy cơ, khó khăn có thể kìm hãm đà phát triển của đất nước
và nắm bắt những cơ hội, thời cơ để phát triển đất nước
Ý nghĩa:
- Đào tạo và huấn luyện đội ngũ cán bộ chuyên môn, chuyên sâu giúp cho họ có sự
hiểu biết chung về xu hướng phát triển của xã hội và thời đại, mở mang tầm nhậnthức hướng tới tương lai, hướng ra thế giới, có khả năng phân tích các vấn đề kinh
tế, chính trị, xã hội để có thể có những chính sách đầu tư phù hợp đối với điềukiện, thế mạnh sẵn có của từng vùng, từng địa phương… giúp cho họ có kiến thứcchuyên môn, thành thạo nghiệp vụ, chuyên môn kĩ thuật và có kinh nghiệm trongtừng nghiệp vụ nhằm đưa ra các quyết định chính xác, sử dụng một cách tiết kiệmnhất các nguồn lực nhằm đạt được hiệu quả cao nhất; đồng thời biết đánh giá cáckết quả và hiệu quả của đầu tư, lập và thẩm định dự án đầu tư và tiến hành cáchoạt động xác lập, triển khai và quản lí các hoạt động đầu tư của quốc gia và cơsở…
- Bồi dưỡng nâng cao nhận thức, ý thức và trách nhiệm cho người cán bộ trong lĩnh
vực đầu tư nhằm tránh những tiêu cực có thể xảy ra trong lĩnh vực đầu tư như:tham ô, vô trách nhiệm trong việc ra quyết định và thực hiện đầu tư gây ra thấtthoát lãng phí các nguồn lực của đất nước; tham nhũng, hối lộ, thỏa thuận ngầmtrong hoạt động đấu thầu phá vỡ nguyên tắc công khai minh bạch…
- Hoạt động đầu tư chỉ thực sự đem lại kết quả, hiệu quả cao khi được ra lập, thẩm
định, ra quyết định và thực hiện bởi người cán bộ có năng lực trình độ chuyên môncao và có đạo đức, trách nhiệm vững vàng
1.2.6) Đề ra chủ trương và chính sách hợp tác đầu tư với nước ngoài chuẩn bị các
nguồn lực tài chính, vật chất và nhân lực để hợp tác có hiệu quả cao.
Trang 13- Quản lí đầu tư nhà nước đề ra chủ trương và chính sách hợp tác đầu tư với nước
ngoài giúp tăng cường, khuyến khích quá trình đầu tư trong và ngoài nước thúc đẩy kinh tế phát triển
Ví dụ: Theo Cục Đầu tư nước ngoài, trong những năm qua, hợp tác kinh tế thương
mại giữa Việt Nam với các nước khu vực Mỹ Latinh không ngừng gia tăng Kimngạch thương mại hai chiều tăng 15 lần trong 10 năm qua, từ 300 triệu USD năm
2000 lên 4,5 tỷ USD năm 2011 Trong xu thế hội nhập và liên kết kinh tế quốc tếđang diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam và Mỹ Latinh được đánh giá là có các tiềm năng
và thế mạnh có thể bổ sung cho nhau
Ngày 5/7/2012 tại Hà Nội, Diễn đàn Việt Nam - Mỹ Latinh về thương mại và đầu tư đã khai mạc tại Hà Nội Việt Nam mong muốn và sẵn sàng đẩy mạnh hợp
tác, đầu tư trong các lĩnh vực dầu khí, năng lượng, sản xuất hàng tiêu dùng, hàngnông thủy sản và cũng có nhu cầu nhập khẩu nhiều nguyên vật liệu từ các nước
Mỹ Latinh Các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp các bên thảo luận để tìmhiểu đối tác, tiềm năng, cơ hội và môi trường đầu tư kinh doanh của mỗi bên Trên
cơ sở đó, các bên hình thành ý tưởng, định hướng chính sách, cơ chế hợp tác, thỏathuận đầu tư, kinh doanh cụ thể
Tính đến hết quý II/2012, có 12/33 quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực MỹLatinh đầu tư tại thị trường Việt Nam, tập trung vào các lĩnh vực: công nghiệp chếbiến, chế tạo và khai khoáng với 29 dự án và tổng vốn đầu tư đăng ký đạt khoảng
213 triệu USD Trong đó, Belize, Barbados, Panama, Costa Rica, Saint Vincent,Dominica là những nước có nhiều hoạt động đầu tư tại Việt Nam với 84% số dự
án và 94% tổng vốn đăng ký đầu tư Hiện nay, Việt Nam có 8 dự án đầu tư sangkhu vực Mỹ Latinh với tổng vốn đăng ký đạt gần 2,4 tỷ USD, chiếm 1,2% số dự
án và 21,6% số vốn đầu tư ra nước ngoài lũy kế Trong đó, riêng dự án liên doanhkhai thác dầu khí tại Venezuela đã chiếm 76% số vốn đăng ký
- Nhà nước chuẩn bị các nguồn lực tài chính, vật chất và nhân lực để hợp tác có
hiệu quả cao
Trang 14Ví dụ: Với chính sách tăng cường hợp tác đầu tư với các nước Mỹ Latinh Chính
phủ tăng cường chuẩn bị các nguồn lực để quá trình hợp tác đạt hiệu quả cao trongnhiều lĩnh vực
Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng cũng đề xuất một số giải pháp để haibên nghiên cứu và triển khai Trước tiên là hoàn thiện môi trường chính sách vàthể chế ở mỗi bên theo hướng giảm thiểu các thủ tục hành chính và rào cản kỹthuật không cần thiết; tạo điều kiện thuận lợi, công bằng, khuyến khích mọi thànhphần kinh tế phát triển; mở rộng quan hệ thương mại và hợp tác đầu tư Tiếp đến
là tăng cường cung cấp thông tin và quảng bá về môi trường và cơ hội đầu tư,thương mại đến các doanh nghiệp hai bên Tăng cường vai trò của các doanhnghiệp trong việc chủ động tìm hiểu, nắm bắt môi trường và cơ hội kinh doanh củanhau, xác định và tập trung vào những lĩnh vực có tiềm năng hợp tác, tận dụngtriệt để những ưu đãi thương mại, đầu tư đã ký kết và kịp thời phản ánh những khókhăn, trở ngại để Chính phủ hai bên tìm cách tháo gỡ
Và để đẩy mạnh hơn nữa hợp tác doanh nghiệp song phương giữa Việt Nam - MỹLatinh trong thời gian tới, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã cósáng kiến thành lập Hội đồng doanh nghiệp Việt Nam và Mỹ Latinh Ngoài ra, Đại
sứ Việt Nam tại Panama cũng đề xuất thành lập Quỹ Xúc tiến đầu tư sang MỹLatinh nhằm hỗ trợ đầu tư ban đầu cho các doanh nghiệp hai bên
1.2.7) Thực hiện chức năng kiểm tra giám sát Các cơ quan quản lý nhà nước thực
hiện chức năng kiểm tra giám sát việc tuân thủ pháp luật của các chủ đầu tư,
xử lý những vi phạm pháp luật, qui định của nhà nước, những cam kết của chủ đầu tư ( như chuyển nhượng, bổ sung mục tiêu hoạt động tăng vốn để đầu tư chiều sâu, gia hạn thời gian hoạt động, giải thể…)
- Các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra giám sát việc tuân thủ pháp
luật của các chủ đầu tư
Ví dụ:
Trang 15+ Ngày 15/12/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 113/2009/NĐ-CP về
giám sát và đánh giá đầu tư nhằm hạn chế tình trạng các dự án đầu tư, đặc biệt làtừ nguồn vốn ngân sách Nhà nước bị sử dụng không hiệu quả, lãng phí, gây thấtthoát Nghị định áp dụng cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạtđộng đầu tư trực tiếp và hoạt động giám sát, đánh giá đầu tư Nghị định sẽ có hiệulực thi hành từ ngày 01/02/2010 Nghị định 113 được ban hành khắc phục nhữngtồn tại của công tác giám sát, đánh giá đầu tư và thống nhất cơ sở pháp lý để các
cơ quan quản lý nhà nước tổ chức giám sát, đánh giá toàn bộ hoạt động đầu tưthuộc phạm vi quản lý của mình Việc giám sát và đánh giá này có ý nghĩa rấtquan trọng để đồng vốn, nhất là đồng vốn nhà nước, được sử dụng đúng mục tiêu
và đảm bảo sự tăng trưởng chung của nền kinh tế
Nghị định quy định cụ thể chế độ báo cáo về giám sát, đánh giá đầu tư cũng nhưquy định chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm quy định về giám sát,đánh giá đầu tư Theo đó, các cơ quan thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư báo cáokịp thời các cấp có thẩm quyền những trường hợp vi phạm về quản lý đầu tư thuộccấp mình quản lý để xử lý đúng quy định Các cơ quan thực hiện giám sát, đánhgiá đầu tư cố tình che giấu các trường hợp vi phạm về quản lý đầu tư sẽ chịu tráchnhiệm liên đới trước pháp luật về các sai phạm và hậu quả gây ra
+ Quyết định số 446/QĐ-BKH ngày 08/04/2009 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch vàĐầu tư về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Vụ Giám sát và Thẩm địnhđầu tư Theo đó Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tưgiúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong việc giám sát, kiểmtra hoạt động đầu tư; thẩm định, thẩm tra và đánh giá dự án đầu tư.
- Cơ quan giám sát xử lý những vi phạm pháp luật, quy định của Nhà nước, những
cam kết của chủ đầu tư (như chuyển nhượng, bổ sung mục tiêu hoạt động, tăng vốn để đầu tư chiều sâu, gia hạn thời gian hoạt động, giải thể,…)
Ví dụ: Trường hợp của Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông VNPT
Trang 16+ Thanh tra Chính phủ đã phát hiện sai phạm trong việc chỉ đạo cổ phần hóa Về việc chỉ đạo CPH, Tập đoàn chưa hoàn thành CPH những đơn vị có quy mô vốn nhà nước tương đối lớn như Công ty Thông tin di động, Công ty TNHH một thànhviên cáp quang FOCAL; không ra Quyết định CPH đối với 26/39 đơn vị thành viên của VNPT Việc phê duyệt điều chỉnh giá trị vốn nhà nước tại thời điểm chuyển sang Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu điện (PTIC), Công ty Cổ phần thiết bị Bưu điện (POSTEF) chưa chính xác; chưa quyết toán vốn nhà nước khi chuyển sang Công ty cổ phần; chưa bàn giao tài sản, tiền vốn, lao động giữa doanh nghiệp (DN) nhà nước và công ty cổ phần của 24 đơn vị đã CPH
+ Sau khi xem xét báo cáo của Thanh tra Chính phủ và giải trình của VNPT liên quan đến kết luận thanh tra việc thực hiện cổ phần hóa Tập đoàn này và một số đơn vị thành viên, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã ký công vănyêu cầu Tập đoàn bưu chinh viễn thông (VNPT) xử lý các vi phạm trong đầu tư dự
án của một số công ty thành viên, đồng thời đôn đốc các đơn vị nộp các khoản tiềnsai phạm trong quá trình cổ phần hóa
VNPT có trách nhiệm xử lý các vi phạm của Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựngBưu điện (PTIC), Công ty cổ phần Thương mại Bưu chính Viễn thông
(COKYVINA), Công ty cổ phần Thiết bị Bưu điện (POSTEF), vì đã có vi phạm trong việc chấp hành các quy định pháp luật về đầu tư dự án
VNPT phải chịu trách nhiệm đôn đốc các đơn vị nộp các khoản nợ phần vốn nhà nước về Quỹ sắp xếp đổi mới doanh nghiệp VNPT 64.660.174.887 đồng; cổ tức phần vốn nhà nước về VNPT là 23.647.258.471 đồng, trước ngày 31-12-2010.VNPT cũng phải thu hồi ngay các khoản thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân là 529.921.706 đồng bổ sung về ngân sách nhà nước; khoản giá trị bán thanh lý tài sản không cần dùng trị giá 281.700.000 đồng về Công ty Mua bán
nợ và Tài sản tồn đọng của doanh nghiệp
Đồng thời, VNPT phải tiến hành rà soát diện tích đất tại các đơn vị đã cổ phần hóathuộc Tập đoàn đang quản lý sử dụng, xử lý những tồn tại, sai phạm về đất đai nhưtrong Kết luận thanh tra đã nêu Phó Thủ tướng giao Bộ Thông tin và Truyền
Trang 17thông, cơ quan chủ quản của VNPT kiểm điểm trách nhiệm các cá nhân có liên quan để xảy ra các tồn tại, sai phạm.
Ý nghĩa:
- Đảm bảo cho hoạt động đầu tư chung và từng dự án cụ thể đem lại hiệu quả kinh
tế xã hội cao, phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế xã hội và tiếnhành theo đúng khuôn khổ pháp luật, chính sách của Nhà nước
- Giúp cơ quan quản lý đầu tư các cấp nắm sát và đánh giá đúng tình hình, kết quả
hoạt động đầu tư, tiến độ thực hiện đầu tư và những tồn tại, khó khăn trong quátrình đầu tư để có biện pháp điều chỉnh thích hợp; phát hiện và ngăn chặn kịp thờinhững sai phạm và tiêu cực gây thất thoát, lãng phí vốn trong quá trình thực hiệnđầu tư
- Giúp các cơ quan hoạch định chính sách có tư liệu thực tế để nghiên cứu về cơ cấu
đầu tư và chính sách thúc đẩy đầu tư cho từng thời kỳ
1.2.8) Quản lý trực tiếp nguồn vốn nhà nước Nhà nước đề ra các giải pháp để quản
lý và sử dụng nguồn vốn nhà nước từ khâu xác định và vận hành công trình Đối với các dự án đầu tư nhóm A sử dụng vốn ngân sách nhà nước Thủ tướng chính phủ ra quyết định đầu tư hoặc ủy quyền quyết định đầu tư, thẩm định dự án.
- Với việc Nhà nước trực tiếp quản lý nguồn vốn Nhà nước, cụ thể là Nhà nước sẽ
đề ra các giải pháp quản lý và sử dụng vốn của mình thông qua người đại diện tạicác Tập đoàn, TCT Nhà nước trong tất cả các khâu từ khâu xác định và vận hànhcông trình
Ví dụ: Với các dự án có vốn nhà nước từ 30% trở lên cho mục tiêu đầu tư pháttriển:
+ Phải tiến hành đấu thầu như Dự thảo luật quy định
+ Việc giám sát, đánh giá đầu tư sẽ áp dụng đối với các dự án sử dụng 30% vốnnhà nước trở lên và cả các dự án sử dụng nguồn vốn khác, bao gồm 3 nội dung:Theo dõi, kiểm tra và đánh giá dự án