1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chứng khoán hóa và vấn đề vận dụng chứng khoán hóa đối với việt nam

23 2,2K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 360 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Chúng ta không thể nào phủ nhận một thực tế là tăng trưởng kinh tế toàn cầu hiện đang bị chi phối bởi khả năng tiếp cận những nguồn tín dụng với chi phí thấp và những kỹ thu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

    

ĐỀ TÀI MÔN NHẬP MÔN TÀI CHÍNH- TIỀN TỆ:

CHỨNG KHOÁN HÓA VÀ VẤN ĐỀ VẬN DỤNG CHỨNG KHOÁN HÓA

ĐỐI VỚI VIỆT NAM

GVHD: TS DIỆP GIA LUẬT SVTH : GIANG THANH THỦY LỚP : TCDN6 – K 33

11 / 2009

Trang 2

MỤC LỤC

Tra

ng

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỨNG KHOÁN HÓA

1.1 Tổng quan về chứng khoán hóa

1.1.1 Chứng khoán hóa là gì ?

1.1.2 Tài sản chuyển hóa - Chứng khoán chuyển hóa

1.1.3 Bản chất của Chứng khoán hóa

1.1.4 Vai trò của Chứng khoán hóa

1.1.5 Một số ưu điểm và nhược điểm của Chứng khoán hóa

1.2 Quy trình Chứng khoán hóa tổng quát

CHƯƠNG 2: CHỨNG KHOÁN HÓA VÀ KHỦNG HOẢNG TÍN DỤNG TRÊN THỊ TRƯỜNG MỸ - BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

2.1 Tiến trình chứng khoán hóa của Mỹ

2.2 Chứng khoán hóa bất động sản – Rủi ro là rất lớn

2.3 Chứng khoán hóa và khủng hoảng tín dụng Mỹ 10

2.4 Bài học kinh nghiệm

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VẬN DỤNG CHỨNG KHOÁN HÓA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

3.1 Triển vọng áp dụng Chứng khoán hóa tại Việt Nam

3.2 Một số vấn đề vận dụng Chứng khoán hóa đối với Việt Nam

3.3 Định hướng cho Chứng khoán hóa Việt Nam 18

KẾT LUẬN

LỜI NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Chúng ta không thể nào phủ nhận một thực tế là tăng trưởng kinh tế toàn cầu hiện đang bị chi phối bởi khả năng tiếp cận những nguồn tín dụng với chi phí thấp

và những kỹ thuật tài chính như Chứng khoán hóa đã trở nên vô cùng quan trọng cho sự phát triển của một thị trường tài chính

Phát hành chứng khoán dựa trên nguồn đảm bảo là khả năng sinh lời của tài sản đã có từ thời trung cổ khi chính quyền Thành phố Genoa Bắc Ý tập hợp một số người giàu có trong vùng để tài trợ cho đội chiến hạm chuyên đi khai thác các vùng đất mới Chứng khoán hóa hiện đại xuất hiện cách đây đã 30 năm và khá phổ biến ở các nước phát triển nhưng cho đến nay Việt Nam gần như vẫn chưa áp dụng rộng rãi mô hình này

Trang 4

Việc hiểu rõ bản chất , quy trình cũng như những ưu nhược điểm và hướng đicho việc áp dụng mô hình chứng khoán hóa đối với Việt Nam đang là yêu cầu bứcthiết đặt ra cho toàn xã hội.

Chính những yêu cầu đó đã mở hướng đi cho em nghiên cứu đề tài “Chứng khoán hóa và vấn đề vận dụng chứng khoán hóa đối với Việt Nam”.

Đề tài tập trung chủ yếu vào các chủ đề:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về chứng khoán hóa

1.1 Tổng quan về chứng khoán hóa

1.2 Quy trình chứng khoán hóa tổng quát

Chương 2: Chứng khoán hóa và khủng hoảng tín dụng trên thị trường Mỹ- Bài họccho Việt Nam

2.1 Tiến trình chứng khoán hóa của Mỹ

2.2 Chứng khoán hóa bất động sản- Rủi ro là rất lớn

2.3 Chứng khoán hóa và khủng hoảng tín dụng Mỹ

2.4 Bài học kinh nghiệm

Chương 3: Một số vấn đề vận dụng chứng khoán hóa đối với Việt Nam

3.1 Triển vọng áp dung chứng khoán hóa tại Việt Nam

3.2 Một số vấn đề vận dụng chứng khoán hóa đối với Việt Nam

3.3 Định hướng cho chứng khoán hóa Việt Nam

Do vấn đề chứng khoán hóa đối với Việt Nam còn quá mới mẻ, tài liệunghiên cứu không nhiều, khả năng có hạn, cùng nhiều lý do khách quan và chủquan khác, chắc chắn đề tài còn nhiều hạn chế và thiếu sót mong được quý thầy côthông cảm và đóng góp ý kiến Em xin chân thành cảm ơn

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ CHỨNG KHOÁN HÓA

Trang 5

1.1 Tổng quan về Chứng khoán hóa

1.1.1 Chứng khoán hóa là gì?

Chứng khoán hóa là quá trình tập hợp và tái cấu trúc (phát hành chứng khoán

Nợ để tài trợ vốn) các tài sản thiếu tính thanh khoản nhưng lại có thu nhập bằng tiền

cao trong tương lai như các khoản phải thu, các khoản nợ, các khoản vay (thôngthường là khoản vay bảo đảm bằng bất động sản, vay mua xe hơi…) rồi chuyển đổichúng thành trái phiếu (gọi chung là trái phiếu đảm bảo bằng tài sản) và đưa ra giaodịch trên thị trường tài chính Cho nên chứng khoán hóa đôi khi còn được gọi là tráiphiếu hóa

Các trái phiếu này tùy theo cấu trúc thời hạn của chúng sẽ được chuyển đổithành tiền trong một khoảng thời gian xác định kèm theo những quyền hưởng lợikhác và quyền đối với những tài sản được sử dụng nhằm bảo đảm việc trả nợ hoặcphân phối định kỳ các khoản thu được cho người sở hữu trái phiếu

Tiền từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến các tổ chức tàichính cho vay thế chấp để các tổ chức này cho người đem thế chấp tài sản vay tiền Thực tế, mục tiêu của chứng khoán hóa chính là nhằm tách biệt rủi ro mất khảnăng thanh toán của người chủ sở hữu tài sản hay các khoản phải thu ban đầu và rủi

ro của chính các tài sản hay các khoản phải thu đó

1.1.2 Tài sản chuyển hóa - Chứng khoán chuyển hóa

Tất cả những tài sản có thể tách ra quản lý riêng và có khả năng sinh lời có thể

dự đoán được và không phụ thuộc vào các tài sản khác, đều có thể được “bán”(chuyển hóa) trong quá trình chứng khoán hóa, Thông thường, kỹ thuật chứngkhoán hóa được thực hiện trên 2 nhóm tài sản chủ yếu đó là:

(1) các tài sản cầm cố / thế chấp bao gồm tài sản thuộc quyền sở hữu cá nhânhoặc tổ chức được dùng để thế chấp như nhà, đất, xưởng sản xuất, máy móc

(2) các tài sản tài chính khác như các khoản phải thu của ngân hàng, gồm cáckhoản phải thu từ cho vay tiêu dùng để mua xe, thẻ tín dụng , các khoản phải thu

từ cho vay doanh nghiệp, tài sản cho thuê tài chính, các khoản đầu tư cho các dự án

Trang 6

trong đó có dự án phát triển cơ sở hạ tầng, và các khoản cho vay khác Như vậy, tương ứng với hai loại tài sản trên thì sau khi được chứng khoán hóa

sẽ hình thành hai loại chứng khoán chuyển hóa là:

(1) Các chứng khoán đảm bảo bằng tài sản cầm cố, thế chấp (Mortgagebacked securites), gọi tắt là MBS

(2) các chứng khoán đảm bảo bằng tài sản tài chính (Asset backed secuirities),gọi tắt là ABS

Như vậy, ABS đơn giản là các trái phiếu hoặc giấy tờ có giá (gọi chung làchứng khoán) được hình thành từ các tài sản tài chính Từ đó rút ra được điểm khácbiệt lớn nhất giữa ABS và các loại trái phiếu khác là mức độ tín nhiệm của cácnguồn thu, khả năng thanh toán của các tài sản tài chính

1.1.3 Bản chất của chứng khoán hóa

Chứng khoán hóa chính là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trườngthứ cấp nơi mà chúng có thể trao đi đổi lại Nó đã biến các tài sản kém thanh khoảnthành các tài sản kém thanh khoản thành những chứng khoán thanh khoản cao.Trong quá trình chứng khoán hóa, rủi ro mất khả năng thanh toán không hề bịtriệt tiêu mà nó chỉ đơn giản chuyển từ các ngân hàng sang cho nhà đầu tư Để đổilại, nhà đầu tư có quyền hưởng lợi đối với các luồng tiền phát sinh từ khoản vay vàtài sản thế chấp Rõ ràng là quy trình này có xu hướng khuyến khích các ngân hàngnới lỏng những quy định về cho vay của mình để có thể cho vay được nhiều hơn vàsinh lời mà không phải chịu rủi ro

1.1.4 Vai trò của chứng khoán hóa

 Thực hiện chứng khoán hoá, cho phép khắc phục được những tồn tại hạn

chế về nguồn vốn cho vay trung dài hạn của các Ngân hàng thương mại Đồng thờiđảm bảo cho các NHTM hoạt động hiệu quả, đúng bản chất - hoạt động trên thịtrường tiền tệ nhằm đáp ứng vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và vốn lưuđộng của doanh nghiệp

 Thúc đẩy thị trường tài chính phát triển: việc thực hiện chứng khoán hoácác khoản tín dụng bất động sản sẽ là nguồn cung cấp hàng hoá cho thị trường, góp

Trang 7

phần kích thích thị trường phát triển Đồng thời đa dạng hoá danh mục hàng hoá,tạo ra nhiều sự lựa chọn cho các nhà đầu tư

 Chứng khoán hoá tạo điều kiện phát triển hoàn thiện các loại thị trường cóliên quan: tín dụng; chứng khoán và thị trường bất động sản Việc chứng khoán hoácác khoản tín dụng bất động sản sẽ cho phép đáp ứng tốt nhất nhu cầu về các sảnphẩm bất động sản của người dân, của nền kinh tế Trên cơ sở tạo ra nguồn vốn lớn

để đáp ứng nhu cầu phát triển bất động sản; phát triển nhà ở cũng như tạo ra nguồnvốn cho các Ngân hàng thương mại để tiếp tục cho vay mở rộng và tăng trưởng tíndụng bất động sản

 Tạo điều kiện sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế - xã hội:Chứng khoán hoá các khoản tín dụng bất động sản của các Ngân hàng thương mại,tạo điều kiện khai thác và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực trong xã hội, trong nềnkinh tế Dưới góc độ vĩ mô, việc ra đời của loại chứng khoán mới (chứng khoán hoátrên cơ sở các khoản tín dụng bất động sản) sẽ thu hút, khai thác mọi nguồn vốn nhỏ

lẽ, nhàn rỗi trong nền kinh tế để sử dụng đầu tư vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh,tạo khả năng sinh lợi cao, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng vàphát triển

1.1.5 Một số ưu điểm và nhược điểm của Chứng khoán hóa

 Ưu điểm:

Chứng khoán hóa giúp chuyển giao và phân tán rủi ro: Thông qua nghiệp vụchứng khoán hóa, các khoản vốn vay của ngân hàng có thể được “bán” cho phápnhân đặc biệt, và được chuyển sang cho người đầu tư dưới dạng các trái phiếu thunhập dài hạn Nhờ đó, các chủ đầu tư dự án có thể hoán chuyển các khoản nợ ngắnhạn từ ngân hàng, thành các nghĩa vụ nợ dài hạn đối với trái chủ Về phía ngânhàng, vòng luân chuyển vốn được nâng cao, rủi ro về chênh lệch thời gian đáo hạncũng được tháo gỡ

Tạo tính liên thông giữa thị trường tín dụng, thị trường bất động sản và thịtrường vốn Các giao dịch được thực hiện dựa trên thông tin đầy đủ và tính minhbạch cao được hình thành một cách tự nhiên trong nền kinh tế Việc quan sát kỹlưỡng và cẩn trọng các số liệu thống kê không quá khó khăn hay phức tạp và, trong

Trang 8

nhiều trường hợp, rất hữu ích để nâng cao năng lực dự báo khủng hoảng, nhận diệnnhững sai lầm đang diễn ra trên thị trường cũng như dẫn tới việc định giá chính xáccác tài sản và mức độ rủi ro.

Chứng khoán hoá khắc phục được những hạn chế về nguồn vốn vay trung vàdài hạn của các ngân hàng thương mại, đồng thời mở ra thêm một kênh huy độngvốn cho các doanh nghiệp, mở cơ hội tiếp cận thị trường vốn và làm giảm chi phítài trợ lẫn tối ưu hóa việc sử dụng vốn Chứng khoán hóa tạo ra một nguồn tài trợvốn dài hạn và có hiệu quả thông qua việc ABS có thể được phát hành với kỳ hạndài hơn các loại tài sản liên kết so với các khoản nợ của ngân hàng hoặc các loại tínphiếu

Chứng khoán hóa còn giúp giảm chi phí huy động tài chính Dù người đi vay

có mức xếp hạng tín nhiệm không cao nhưng với tài sản đem thế chấp tốt thì chứngkhoán đảm bảo bằng tài sản này vẫn có thể được xếp hạng tín nhiệm cao và dễ bán.Chính vì thế, chứng khoán hóa tạo thuận lợi cho việc vay và cho vay có thế chấp

Việc chia nhỏ sản phẩm bất động sản cũng là một ưu điểm của việc Chứngkhoán hóa bất động sản, sẽ tăng tính thanh khoản cho bất động sản và mở rộng chocác nhà đầu tư ít vốn mặc dù không có khả năng sở hữu hoàn toàn một bất độngsản, vẫn có thể tham gia đầu tư vào thị trường này, thị trường mà từ trước tới naychỉ dành riêng cho những nhà đầu tư nhiều vốn

Ngoài ra, chứng khoán hóa còn là phương thức giúp làm tăng thu nhập của các

tổ chức phát hành và là công cụ giúp bổ sung, làm đa dạng hóa hàng hóa giao dịchtrên sàn, giúp mở rộng quy mô thị trường

Ở châu Âu, chứng khoán hóa đã “cứu” các tập đoàn viễn thông khỏi nguy cơphá sản khi họ thực hiện chuyển các khoản doanh thu tương lai của các thuê bao cốđịnh thành các ABS Nhờ vậy mà các công ty này có một khoản tiền đáng kể đểtrang trải cho các món nợ khổng lồ, hậu quả của cuộc chạy đua tranh giành quyềncung cấp dịch vụ điện di động thế hệ 3G

Đặc biệt là ở Hàn Quốc và Trung Quốc, chứng khoán hóa đã giúp Chính phủcác quốc gia này vừa giải quyết tốt các khoản nợ xấu và vừa bổ sung hàng hóa choTTCK

Trang 9

 Nhược điểm:

Biến rủi ro phi hệ thống thành rủi ro hệ thống: Quy trình chứng khoán hóa baogồm sự tham gia của nhiều thành phần Cho nên, một khi khủng hoảng xảy ra sẽkéo theo một loạt tổ chức bị lây lan, dẫn đến hiệu ứng khủng hoảng mang tínhdomino trong toàn hệ thống tài chính

Chứng khoán hóa không đảm bảo thông tin hoàn hảo về các khoản thua lỗ tíndụng

Rủi ro mất khả năng thanh toán không hề bị triệt tiêu mà nó chỉ đơn giảnchuyển từ các ngân hàng sang cho nhà đầu tư

Đặt ra vấn đề về rủi ro đạo đức, khi các tổ chức định mức tín nhiệm xếp hạngcác khoản vay có thế chấp quá cao, khiến nhà đầu tư không có được đánh giá chínhxác về độ an toàn hay rủi ro của những trái phiếu mà họ đầu tư

1.2 Quy trình Chứng khoán hóa tổng quát.

Trang 10

Theo hình trên, người khởi phát cho vay là một định chế tài chính, như là ngânhàng Ngân hàng muốn gia tăng tiền bằng cách bán đứt các khoản cho vay thế chấpbất động sản Một SPV được thành lập để mua các khoản cho vay này và rồi mộtgiao dịch chứng khoán hóa được cấu trúc theo các bước sau:

1 Người khởi phát (Ngân hàng) phân chia các tài sản tài chính đã được tậphợp Ngân hàng quyết định bán các khoản cho vay theo nhóm cho vay thương mại,cho vay dân cư Người khởi phát có thể là các ngân hàng, các công ty bảo hiểm, cáccông ty tài chính và các doanh nghiệp phi tài chính

2 Tiếp theo một giao dịch thực bán được thực hiện (chuyển dịch sở hữu và rủiro) Ngân hàng bán các khoản cho vay đã tập hợp và phân chia cho SPV

3 Sau khi định giá chi tiết tài sản và thực hiện thủ tục nâng cao tín dụng, SPV

sẽ phát hành chứng khoán được đảm bảo thế chấp bằng tài sản cơ sở (ABS) Việcxếp hạng tín dụng đối với chứng khoán thế chấp bằng tài sản được thực hiện để tăngthêm tính hấp dẫn của chứng khoán (theo các gói (tranche) trái phiếu hạng cao nhất,hạng 1, hạng 2,…, hạng k; hạng trung bình loại 1, trung bình loại 2,… vốn chủ sởhữu)

4 Tiếp theo, đưa trái phiếu vào thị trường vốn với các khoản thế chấp cho cáckhoản vay được dùng làm chính tài sản thế chấp cho những trái phiếu đó Công tybảo lãnh và nhà đầu tư trực tiếp sẽ hỗ trợ cho SPV bán các chứng khoán trên thịtrường Các nhà đầu tư cuối cùng thường là các Quỹ hỗ tương, các Ngân hàng, cáccông ty bảo hiểm và các Quỹ hưu bổng

5 Tiền phát hành trái phiếu được các ngân hàng thu về như một phương thứcthu hồi sớm vốn cho vay với lãi suất thấp hơn đôi chút lãi suất cho người tiêu dungvay để duy trì tính thanh khoản của ngân hàng Trong khi đó, những khoản lãi vàgốc vốn vay do người đi vay thanh toán định kỳ được chuyển cho người mua tráiphiếu

CHƯƠNG 2

Trang 11

CHỨNG KHOÁN HÓA VÀ KHỦNG HOẢNG TÍN DỤNG TRÊN THỊ TRƯỜNG MỸ - BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

2.1 Tiến trình Chứng khoán hóa của Mỹ

Chứng khoán hóa xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1970 Fannie Mae vàFreddie Mac - hai công ty được chính phủ Mỹ bảo trợ - là những công ty đầu tiên vàcho đến nay vẫn luôn là những công ty tích cực nhất trong hoạt động chứng khoánhóa Hồi thập niên 1970, hai công ty này đã phát minh ra chứng khoán đảm bảobằng tài sản thế chấp (hay MBS) Sau đó, các loại chứng khoán đảm bảo bằng tàisản khác ra đời, như giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (hay CDO) và các thứ tương tựCDO

Nếu như MBS đóng gói các tài sản thế chấp thực thụ khác nhau lại, thì CDO,xuất hiện từ năm 1987 và chỉ thực sự phổ biến từ cuối thập niên 1990, thậm chí lại

còn đóng gói MBS và một số tài sản khác Nghiên cứu của Mason and Rosner (2007) cho biết vào năm 2005, có đến 81% tài sản đảm bảo cho CDO là từ MBS,tức là vào khoảng 200 tỷ dollar Mỹ

Do đó có quan điểm cho rằng CDO là sản phẩm tái chứng khoán hóa các loạichứng khoán khác Thứ giấy nợ đảm bảo bằng tài sản này có thể có nhiều loại là sảnphẩm chứng khoán hóa của việc đóng gói các loại tài sản có mức độ rủi ro khácnhau, và hướng tới các đối tượng nhà đầu tư khác nhau Loại CDO từ tài sản cómức độ rủi ro thấp nhất có thể được các tổ chức đánh giá tín nhiệm xếp hạng caonhất Cùng với sự ra đời và phát triển của CDO là sự xuất hiện của những tổ chứccung cấp dịch vụ bảo hiểm cho nhà đầu tư CDO và của những tổ chức liên kết cungcấp hợp đồng hoán đổi tổn thất tín dụng (hay CDS)

Nhiều tổ chức tín dụng của Hoa Kỳ đã lập ra các công ty con, gọi là các bộphận mục đích đặc biệt (hay SPV) để mua bán MBS và CDO Điều này cho phép họđặt MBS và CDO ngoài bảng cân đối tài sản, và vì thế giảm nguy cơ bị các cơ quangiám sát tài chính nhắc nhở

Ngày đăng: 11/11/2014, 22:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w