I/ NGUYỄN TRÃI VỚI VĂN HỌC DÂN GIAN- Nguyễn Trãi, một vị anh hùng dân tộc - một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc.. Các tác phẩm chữ Nôm của ông mà cụ thể là 254 bài thơ Nôm trong “Quốc â
Trang 1Chuyên đề 5: NGUYỄN TRÃI (Phần văn học chữ Nôm)
Chuyên đề 5: NGUYỄN TRÃI
(Phần văn học chữ Nôm)
Học sinh trình bày: Võ Nhật Giang
10a7v
Trường THPT chuyên Nguyễn Thị Minh Khai – ST
Trang 2I/ NGUYỄN TRÃI VỚI VĂN HỌC DÂN GIAN
- Nguyễn Trãi, một vị anh hùng dân tộc - một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Vị danh nhân văn hóa thế giới Các tác phẩm chữ Nôm của ông mà cụ thể là 254 bài thơ Nôm trong “Quốc âm thi tập” (QATT) đã sử dụng sáng tạo tiếng mẹ đẻ để sáng tác văn học cùng với đó là lời thơ đậm chất dân gian.
- Thơ văn của ông thắm đượm tinh thần dân tộc Đề tài, nhân vật, cảnh vật trong QATT là những thứ gần gũi với cuộc sống đời thường vốn là dấu hiệu của VHDG.
Trang 3Ví dụ: cây chuối, cây tùng, cây hòe, tiếng suối…
“Rồi hóng mát thuở ngày trường
Hòe lục đùn đùn tán rợp giương”
(BKCG** bài 43) Chẳng những sử dụng các điển tích, điển cố của văn học Trung Hoa mà ông còn biết vận dụng ca dao, tục ngữ, thành ngữ của dân tộc vào QATT
Trang 4Để lên án những kẻ “xem của nặng hơn người” thì Nguyễn Trãi đã vận dụng câu tục ngữ:
“Giàu người tới, khó người lui”
Áp dụng vào câu thơ sau:
“Giàu người họp, khó người tan Hai ấy hằng lề sự thế gian”
(BKCG bài 12)
Trang 5- Có khi Nguyễn Trãi lấy trọn vẹn và có chỉnh lý chút ít của câu
ca dao, tục ngữ:
Vd: “Tật được tiêu nhờ thuốc đắng cay” (trong câu tục ngữ Thuốc đắng dã tật)
- Có khi ông lấy ý chính trong câu ca dao dài ghép lại một câu thơ ngắn gọn
Vd: Câu ca dao:
“Lên non mới biết non cao Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy”
Thì trong câu thơ của Nguyễn Trãi là:
“Nuôi con mới biết lòng cha mẹ”
Trang 6MỘT SỐ VÍ DỤ KHÁC CÂU TỤC NGỮ, CA DAO THƠ NGUYỄN TRÃI
1 Của mình thì giữ bo bo
Của người thì thả cho bò nó ăn
“Có của bo bo hàng chực của Oán người nôm nớp những âu người”
(BKCG bài 11).
2 Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng “Ở đấng thấp thì nên đấng thấp
Đen gần mực, đỏ gần son”.
(BKCG bài 21).
3 Ở gần nhà giàu đau răng ăn cám
Ở gần kẻ trộm ốm lưng chịu đòn
“Lận đận nhà giàu no bữa cám Bạn bè kẻ trộm phải ăn đòn”
(BKCG bài 21).
Trang 7Tóm lại : Thơ Nôm của Nguyễn Trãi có giá trị gợi thanh, gợi hình
sinh động thắm đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.
Ghi chú : BKCG**: Bảo kính cảnh giới.
Trang 8II/ NGUYỄN TRÃI VỚI TIẾNG VIỆT
Ông là người có ý thức sâu sắc về dân tộc Biểu hiện qua việc dùng tiếng mẹ đẻ
để sáng tác (chữ Nôm)
Những từ ngữ của Tiếng Việt xuất hiện trong thơ ca như: ba ngựa, chú vằn, ruột
óc, mồng tơi…
Trang 9 Gợi cuộc sống thôn quê mang vẻ đẹp hương đồng gió nội – vẻ
đẹp dân tộc Việt Nam
“Tả lòng thanh vị núc nác Vun đát ải luống mồng tơi”
Đặt nền móng cho việc xây dựng thơ văn của người Việt cổ qua chữ Nôm cùng với đó
là việc phá cách thể thơ Đường lục ngôn
Trang 10Nguyễn Trãi còn gạt bỏ những tù Hán Việt hay dùng và thay vào đó
là những từ Việt hóa.
Hành chỉ - đi nghỉ
Quyền môn – cửa quyền
Phù vân – mây nổi
Hồng quần – quần đỏ
Phá vỡ cái cố định để mở ra sự sáng tạo cho ngôn ngữ Tiếng Việt dần xuất hiện
trong thơ ca.
Trang 11 Nguyễn Trãi xứng đáng là bậc vĩ nhân khai sáng ra nền thơ ca tiếng Việt cổ điển góp phần làm ngôn ngữ dân tộc giàu có, tươi đẹp.
Trang 12III/ QUAN ĐIỂM THẨM MĨ CỦA NGUYỄN TRÃI TRONG SÁNG TÁC
Cuộc đời của Nguyễn Trãi gắn liền với cây cỏ, núi sông Có những sáng tác bộc
tả nên nỗi buồn sâu thẳm nhưng cũng những sáng tác thể hiện rõ tình yêu thiên, yêu cuộc sống của một vị anh hùng dân tộc Những tác phẩm của ông chất chứa biết bao điều làm người ta đọc một lần nhưng buộc phải đọc tiếp lần thứ hai Giá trị
thẩm mĩ trong các tác phẩm của Nguyễn Trãi mà đặc biệt là trong tập thơ chữ Nôm QATT đã tạo nên dấu ấn riêng cho phong cách sáng tác của ông, và cũng để lại cho đời nhiều vần thơ đẹp
Trang 13“Văn chương chép lấy, đòi câu thánh,
Sự nghiệp tua gìn, phải đạo trung.
Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược,
Có nhân, có trí, có anh hùng.
Nhìn cho biết nơi dường ấy,
Chẳng thấp thì cao ắt được dùng”.
(Bài 132).
Tính thẩm mĩ đầu tiên trong QATT tạo nên cái hay chính là tư tưởng của tác giả: Đó là lòng trung quân ái quốc, sự trung thành tuyệt đối với triều đình Sẵn sàng hi sinh cho đất nước như một bổn phận của một người công dân phải có
Trang 14Chẳng những trung thành với đất nước, nguyện đem hết tài đức cho quê hương, Nguyễn Trãi còn mong ước cho nhân dân có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, là mong ước thái bình thịnh trị khắp muôn nơi Chính điều đó đã tạo nên
tính thẩm mĩ thứ hai trong sáng tác và cách nhìn nhận của Nguyễn Trãi:
Trang 15“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương”
(BKCG bài 43)
“Đất thiên tử dưỡng tôi thiên tử, Đời thái bình ca khúc thái bình ”.
Trang 16Nguyễn Trãi cũng đã lấy phẩm hạnh của chính bản thân ông để tạo nên tính thẩm mĩ trong tác phẩm của ông Đó là khí tiết của một
vị anh hùng đầu đội trời chân đạp đất:
“Lầm nhơ chẳng bén, tốt hoà thanh,
Quân tử kham khuôn được thửa danh.
Gió đưa hương, đêm nguyệt tĩnh,
Trinh làm của, có ai tranh”
(Bài 243).
Trang 17Cuối cùng là quan niệm về cuộc sống thôn quê, mộc mạc, đầm ấm mà chất chứa tình cảm, cùng với đó
là tâm hồn luôn hướng về thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên, xem thiên nhiên như người bạn đồng hành:
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Hay: “Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”
(BKCG bài 43)
Trang 18Chính những giá trị thẩm mĩ ấy của Nguyễn Trãi được đưa vào tác phẩm như một niềm tâm sự của bản thân Nhưng cái hay là
“niềm tâm sự ấy” lại tạo nên vẻ đẹp cho thơ văn Nguyễn Trãi Vẻ đẹp của sự kết tinh nghệ thuật và cũng là vẻ đẹp của một tâm hồn
yêu nước thương dân.
hết
Trang 19-Cám ơn cô và các bạn đã chú ý lắng nghe!!
GOOD BYE