1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

THE FLAG OF VIETNAM

16 196 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 106,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quốc kỳ Việt Nam là lá cờ đại diện cho Việt Nam, là lá Cờ đỏ sao vàng, hình chữ nhật, chiều rộng bằng 2/3 chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.[1] Ý nghĩa là cờ thể hiện

Trang 1

Quốc kỳ Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Quốc kỳ Việt Nam

Tên Cờ đỏ sao vàng

Sử dụng

cờ và cờ hiệu dân

sự và chính phủ.

Chấp thuậ

n 5 tháng 91945 (Việt Nam năm

Dân chủ Cộng hoà)

2 tháng 7 năm

1976 (Cộng hoà

Xã hội chủ nghĩa Việt Nam)

Thiết kế Một ngôi sao

vàng lớn chính giữa nền màu đỏ.

Sử dụng Cờ chiến tranh và

Trang 2

cờ hiệu hải quân

Thiết kế Như trên, với một

khẩu hiệu "quyết thắng" màu vàng

ở góc trên phía trái.

Quốc kỳ Việt Nam là lá cờ đại diện cho Việt Nam, là lá Cờ đỏ sao vàng, hình chữ nhật, chiều

rộng bằng 2/3 chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.[1] Ý nghĩa là cờ thể hiện trong nền đỏ tượng trưng cho cách mạng, màu vàng là màu truyền thống tượng trưng cho dân tộc Việt Nam, và năm cánh sao tượng trưng cho năm tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binh cùng đoàn kết [2] Tuy nhiên, cũng có ý kiến khác cho rằng màu đỏ nền cờ tượng trưng dòng máu đỏ, màu vàng ngôi sao tượng trưng da vàng, và năm cánh tượng trưng cho sự đoàn kết các tầng lớp bao gồm sĩ, nông, công, thương, binh trong đại gia đình các dân tộcViệt Nam.[3]

Lá cờ này xuất hiện lần đầu tiên tại Khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23 tháng 11 năm 1940, và sau đó trở thành lá cờ của Việt Minh Cờ đỏ sao vàng được lực lượng Việt Minh sử dụng hiệu triệu nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc Trong thời gian Cách mạng Tháng Tám, nhân dân hầu hết các nơi dưới sự lãnh đạo của Việt Minh sử dụng lá cờ này Riêng tại một số nơi Nam Bộ, Thanh niên Tiền phong là tổ chức chính tham gia giành chính quyền, lúc này đã gia nhập Việt Minh nên tùy từng nơi sử dụng lá cờ đỏ sao vàng, hay sử dụng cả hai lá cờ (của Việt Minh và lực lượng Thanh niên tiền phong) hay sử dụng cờ vàng sao đỏ của Thanh niên tiền phong, hoặc kết hợp với

cờ búaliềm của Đảng Cộng sản Đông Dương

Sau khi giành được chính quyền, thì cờ Việt Minh được sử dụng biểu tượng một nước Việt Nam mới đến trước khi công bố độc lập ngày 2.9.1945 Quốc dân Đại hội tại Tân Trào đã quyết nghị lấy cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập Sau khi Việt Minh giành được chính quyền, ngày 2 tháng 9 năm 1945, cờ đỏ sao vàng chính thức xuất hiện trong buổi lễ Tuyên

bố độc lập tại quảng trường Ba Đình Nó được công nhận là quốc kỳ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa theo sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh ngày 5 tháng 9 năm

1945, và được Quốc hội khoá 1 năm 1946 khẳng định lại

Trong cuộc họp Quốc hội khóa I quy định cụ thể về quốc kỳ ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch

Hồ Chí Minh nói: "Lá cờ đỏ sao vàng đã thấm máu đồng bào ta trong Nam Kỳ khởi nghĩa 1940 Chính lá cờ này đã cùng phái đoàn Chính phủ đi từ châu Á sang châu Âu, từ châu Âu về châu Á;

cờ đã có mặt trên khắp đất nước Việt Nam Vậy thì trừ 25 triệu đồng bào, còn không ai có quyền thay đổi quốc kỳ và quốc ca" Hiến pháp năm 1946 cũng xác nhận cờ đỏ sao vàng là cờ của chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa

Sau năm 1954, Hiến pháp 1959 cũng xác nhận lại cờ đỏ sao vàng là cờ của Việt Nam dân chủ cộng hòa Trước khi Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam thành lập vào tháng 12 năm 1960,

Trang 3

thì phong trào đấu tranh cách mạng trong Nam (tiêu biểu là phong trào Đồng khởi) cũng sử dụng

cờ đỏ sao vàng Năm 1976, sau khi Việt Nam thống nhất, Quốc hội Việt Nam khóa VI đã lấy cờ

đỏ sao vàng, quốc kỳ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, làm quốc kỳ của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với vài thay đổi nhỏ so với mẫu cờ nguyên thủy.[cần dẫn nguồn]

Mục lục

[ẩn]

• 1 Lịch sử

o 1.1 Hiệu kỳ

o 1.2 Cờ thời Pháp thuộc

o 1.3 Cờ quẻ Ly

o 1.4 Cờ đỏ sao vàng

o 1.5 Cờ vàng năm sọc

o 1.6 Cờ vàng ba sọc đỏ

o 1.7 Cờ giải phóng

• 2 Chú thích

• 4 Liên kết ngoài

o 4.1 Tiếng Việt

o 4.2 Tiếng Anh

Theo dòng lịch sử, lá cờ đại diện cho các chính quyền tại Việt Nam đã có nhiều hình dạng khác nhau

[ sửa ] Hiệu kỳ

Trang 4

Long tinh kỳ nhà Nguyễn từ 1802 đến 1863, và tiếp tục được dùng sau này khi Pháp xâm chiếm Việt Nam cho đến năm 1885

Tại Việt Nam trước đây các nhà cầm quyền đã có các hiệu kỳ thường mang màu phù hợp với

"mạng": người mạng kim thì cờ màu trắng, người mạng mộc mang màu xanh, mạng thủy thì màu đen, người mạng hỏa treo cờ màu đỏ, người mạng thổ dùng cờ màu vàng Màu cờ của các triều đại thì được chọn theo thuyết của học phái Âm Dương Gia nhằm giúp triều đại hợp với một hành đang hưng vượng Ngoài cờ của triều đại, các nhà vua đều có thể có lá cờ riêng, chỉ để biểu tượng cho hoàng gia

Có nguồn cho biết Hai Bà Trưng (40-43) và bà Triệu Thị Trinh (222-248) đã dùng cờ màu vàng trong các cuộc khởi nghĩa của họ.[4]

Đại kỳ của vua Minh Mạng

Vua Gia Long (1802-1820) dùng màu vàng cho là cờ tiêu biểu của vương triều mình Có nguồn cho biết vua Khải Định (1916-1925), khi sang Paris dự hội chợ đấu xảo, cùng các quan Nam

triều sáng chế tại chỗ cờ Long Tinh (thêm hai vạch đỏ tượng trưng cho hình rồng vào giữa lá cờ

vàng) vì cần thiết cho nghi lễ Tuy nhiên, từ "cờ long tinh" có lẽ đã xuất hiện từ thời vua Gia Long Cụ thể, nó có tên Hán "Long Tinh Kỳ" với "Kỳ" là cờ; "Long" là rồng, biểu tượng cho hoàng đế, có màu vàng với râu tua màu xanh dương, tượng trưng cho Tiên và đại dương là nơi rồng cư ngụ; "Tinh" là ngôi sao trên trời, cũng là màu đỏ, biểu tượng cho phương Nam và cho lòng nhiệt thành, chấm ở giữa Tóm lại "Long Tinh Kỳ" là cờ vàng có chấm đỏ viền tua xanh

Khi Pháp mới tấn công Việt Nam, Việt Sử Toàn Thư (trang 467) ghi "Từ Trung ra Bắc, cờ khởi

nghĩa bay khắp nơi"; có tác giả chú thích rằng cờ này chính là cờ long tinh của nhà Nguyễn

Trang 5

Có nguồn cho biết[cần dẫn nguồn], năm 1821, vua Minh Mạng còn lấy đại kỳ màu vàng, chung quanh

viền kim tuyến (chỉ vàng)

[ sửa ] Cờ thời Pháp thuộc

Cờ của chế độ bảo hộ Pháp trên toàn Đông Dương, 1923 - 9 tháng 3 1945

Trong thời kỳ Pháp thuộc, chính quyền bảo hộ Pháp trên toàn Liên bang Đông Dương sử dụng lá

cờ có nền vàng và ở góc trái trên cao là hình quốc kỳ Pháp, từ năm 1923 đến khi bị Nhật lật đổ vào 9 tháng 3 năm 1945

Tại từng vùng thuộc địa trên lãnh thổ Việt Nam, Nam kỳ dùng quốc kỳ Pháp (còn gọi là cờ tam sắc hay tam tài), Bắc kỳ và Trung kỳ dùng cờ biểu tượng cho vua nhà Nguyễn, nhưng cờ này chỉ được treo nơi nào có nhà vua ngự Cụ thể nó được treo ở kỳ đài ở quảng trường Phu Văn Lâu, cột cờ đàn Nam Giao ở ngoại ô kinh thành Huế, hay cột cờ Hành Cung ở các địa phương

Cờ An Nam và những vùng có ảnh hưởng của vua nhà Nguyễn được miêu tả dưới đây theo từng giai đoạn:

Long Tinh Kỳ

1863 đến 1885[cần dẫn nguồn]

Đại Nam Kỳ

1885 đến 1890[cần dẫn nguồn]

Trang 6

Cờ long tinh

1920 đến 9 tháng 3 năm 1945[cần dẫn nguồn]

Từ khi Pháp tấn công lãnh thổ Việt Nam, cờ long tinh (nền vàng viền lam chấm đỏ) vẫn được dùng như biểu tượng quyền lực của nhà Nguyễn Đến năm 1885, người Pháp không chấp thuận cho vua Đồng Khánh dùng Long Tinh Kỳ nữa vì lá cờ này thể hiện sự chống đối Pháp (vua Hàm Nghi dùng lá cờ này khi chống Pháp) Triều đình Đồng Khánh dùng lá cờ mới cũng có nền vàng, nhưng màu đỏ thì gồm hai chữ Hán Đại Nam, quốc hiệu của nước Việt Nam lúc đó, và lá cờ có

tên Đại Nam Kỳ Tuy nhiên, những chữ viết trên lá cờ không thực sự giống với các nét chữ Hán

của quốc hiệu Đại Nam (大南)

Cột cờ Huế, năm 1924

Sau khi Thành Thái và Duy Tân bị Pháp bắt đi đày, Khải Định lên ngôi theo quan điểm thân Pháp đã thay đổi cờ [cần dẫn nguồn] Ông dùng cờ nền vàng và một sọc đỏ lớn vắt ngang, và cũng gọi

cờ này là cờ long tinh.

Theo một số nguồn, đại kỳ màu vàng cũng có thể đã được treo thường xuyên quảng trường Phu Văn Lâu[cần dẫn nguồn] Ngoài ra còn có các Tinh Kỳ, cờ Đại Hùng Tinh, cờ Nhật Nguyệt, cờ Ngũ Hành, được dùng để biểu thị nghi vệ Thiên Tử trong các buổi thiết triều, các dịp tế lễ, hay theo loan giá những khi nhà vua xuất cung Lá cờ ban cho các khâm sai đặc sứ, còn được gọi là cờ Mao Tiết, thì màu sắc tùy nghi, trên mặt thêu họ và chức vụ của vị khâm sai, chung quanh viền ngân tuyến (chỉ bạc) Các cờ xí treo thời này thường có tua viền xung quanh

Trang 7

Các lá cờ ở nơi trưng bày lễ vật, thành Huế, năm 1924

Lá cờ long tinh trong giai đoạn cuối của thời Pháp thuộc lần đầu được ấn định làm quốc kỳ nước

Đại Nam khi Nhật Bản dần thay chân Pháp ở Việt Nam Dưới áp lực của quân Nhật, Pháp cố duy trì ảnh hưởng của họ bằng cách đàn áp các phong trào chống đối và nâng cao uy tín của các nhà vua Đông Dương Hoàng đế Bảo Đại nhân cơ hội này đã đưa ra một số cải cách, trong đó có ấn định quốc kỳ của nước Đại Nam là cờ long tinh; được Toàn quyền Đông DươngJean Decoux chấp thuận Cờ long tinh được dùng trên lãnh thổ Đại Nam (Bắc kỳ và Trung kỳ) Nam kỳ vẫn dùng cờ tam sắc của Pháp

[ sửa ] Cờ quẻ Ly

Cờ quẻ Ly của chính phủ Đế quốc Việt Nam, 9 tháng 31945 - 22 tháng 8 1945

Sau khi Đế quốc Nhật đảo chính thực dân Pháp, hoàng đế Bảo Đại tuyên bố độc lập trên danh nghĩa, dưới sự bảo hộ của Nhật Ngày 11 tháng 3 năm 1945, ông tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Quý Mùi 1883 và Hòa ước Giáp Thân 1884 Chính phủ mới được thành lập ngày 17 tháng 4 năm

1945, đứng đầu là học giả Trần Trọng Kim Quốc hiệu được đổi thành Đế quốc Việt Nam và, ngày 8 tháng 5 năm 1945, quốc kỳ được chọn gọi là cờ quẻ Ly Cờ này cũng nền vàng, ở chính

giữa có một quẻ Ly màu đỏ Quẻ Ly là một trong 8 quẻ của bát quái và gồm một vạch liền, một vạch đứt và một vạch liền; bề rộng của các vạch này chỉ bằng một phần bề rộng chung của lá cờ

Cờ quẻ Ly về danh nghĩa là cờ của cả nước Việt Nam, nhưng trong thực tế Nhật vẫn cai trị Nam

kỳ Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, Nam kỳ mới được trao trả ngày 14 tháng 8 năm

1945, nhưng 16 ngày sau đó Hoàng đế Bảo Đại thoái vị (chiều ngày 30/8/1945) Nam Kỳ, trên thực tế, chưa bao giờ dùng cờ quẻ Ly

Long tinh Đế kỳ

Trang 8

Trong thời kỳ này, Long Tinh Kỳ trở thành lá cờ của hoàng đế, chỉ treo ở Hoàng thành Huế hoặc

mang theo những nơi vua tuần du, gọi là Long Tinh Đế Kỳ Long Tinh Đế Kỳ có sửa đổi nhỏ so

với Long Tinh Kỳ trước đó: nền vàng đậm hơn và sọc đỏ thu hẹp lại bằng 1/3 chiều cao lá cờ, để tương xứng với cờ Quẻ Ly

[ sửa ] Cờ đỏ sao vàng

Cờ đỏ sao vàng là lá cờ của Việt Minh khi giành chính quyền ở Bắc kỳ tháng 8 năm 1945

Cuối năm 1940 phong trào kháng chiến chống Thực dân Pháp và Phát xít Nhật diễn ra mạnh mẽ

ở các tỉnh Nam kỳ Từ 21 đến 23 tháng 9 năm 1940, Xứ ủy Nam kỳ họp mở rộng bàn kế hoạch khởi nghĩa Để tiến tới khởi nghĩa, một vấn đề được đặt ra là cần có một lá cờ để khẳng định tổ chức, thống nhất hiệu lệnh chỉ huy và động viên quần chúng

Lá cờ chính thức của Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) và quốc kỳ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Một giả thuyết cho rằng Nguyễn Hữu Tiến, một nhà cách mạng được giao nhiệm vụ thể hiện, cũng có thuyết cho rằng vợ chồng nhà cách mạng Lê Hồng Phong và Bí thư thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn Nguyễn Thị Minh Khai sáng tạo để kêu gọi nhân dân khởi nghĩa[cần dẫn nguồn] Sau nhiều lần phác thảo ông đã cho ra lá cờ nền đỏ chính giữa có ngôi sao vàng Chiều rộng lá cờ bằng 2/3 chiều dài Ngôi sao ở mẫu nguyên thủy hơi khác ngôi sao trên quốc kỳ Việt Nam hiện nay 5 đỉnh của ngôi sao nằm trên đường tròn có tâm tại chính tâm lá cờ và bán kính 1/5 chiều dài lá cờ (3/10 chiều rộng) 5 đỉnh còn lại của hình đa giác thể hiện ngôi sao nằm trên đường tròn đồng tâm và bán kính bằng 1/10 chiều dài lá cờ

Nguyễn Hữu Tiến đã sáng tác một bài thơ về lá cờ:

Hỡi những ai máu đỏ da vàng

Hãy chiến đấu với cờ thiêng tổ quốc

Nền cờ thắm máu đào vì đất nước

Sao vàng tươi da của giống nòi

Đứng lên mau hồn nước gọi ta rồi

Hỡi Sĩ-công-nông-thương-binh

Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh.

Trang 9

Mẫu cờ được ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa gồm Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Văn Cừ chuẩn y ngay sau đó

Ngày 23 tháng 11 năm 1940, cuộc khởi nghĩa nổ ra, nhưng nhanh chóng bị thất bại Nguyễn Hữu Tiến bị bắt và bị quân Pháp giết ngày 28 tháng 8 năm 1941 cùng các đồng chí của ông như Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai Trước lúc hy sinh, ông

đã đề lại bài thơ, trong đó có câu:

Anh em đi trọn con đường nhé

Cờ đỏ sao vàng sáng tương lai.

Giả thuyết thứ hai mới đặt lại vấn đề tác giả quốc kỳ trong thời gian gần đây: ông Lê Quang Sô[5] [6] Trong công văn số 1393/VHTT-BTCM do Thứ trưởng Bộ Văn hóa - thông tin Lưu Trần Tiêu

ký ngày 18-4-2001 có ghi: "Tất cả các nguồn tài liệu hiện có tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, tại Viện Lịch sử Đảng trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh đều không có tài liệu nào chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ lá cờ Tổ quốc"[5]

Ngày 5 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòaHồ Chí Minh ký sắc lệnh quyết định quốc kỳ Việt Nam là cờ đỏ sao vàng[7] Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 2 tháng 3 năm 1946 đã biểu quyết nhất trí cờ đỏ sao vàng là quốc kỳ của nước Việt Nam

[ sửa ] Cờ vàng năm sọc

Quốc kỳ của Nam kỳ Cộng hòa quốc

Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở xuống được cai quản bởi Anh Anh sau đó đã giao lại cho Pháp tiếp tục quản lý Chính quyền Pháp đã khuyến khích phong trào Nam kỳ tự trị Ngày 26 tháng 3 năm 1946, Nam kỳ Cộng hòa quốc (tiếng Pháp:

République de Cochinchine) đã thành lập Từ ngày 1 tháng 6, quốc gia này dùng quốc kỳ nền vàng, với 5 sọc vắt ngang ở giữa, gồm ba sọc xanh và hai sọc trắng chen nhau Hình dáng lá cờ biểu tượng cho ba con sông Đồng Nai, Tiềng Giang và Hậu Giang trên đất Nam Kỳ.[8]

Lá cờ này tồn tại được 2 năm cho đến khi chính quyền Nam kỳ quốc giải thể và sát nhập vào Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại ngày 2 tháng 6 năm 1948

Trang 10

[ sửa ] Cờ vàng ba sọc đỏ

Xem thêm: Cờ Việt Nam Cộng hòa

Quốc kỳ của Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa

Theo thiếu tướng Đỗ Mậu, cựu phó thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, lá cờ vàng ba sọc do linh mụcTrần Hữu Thanh vẽ ra [9] Thông tin khác cho rằng do họa sĩLê Văn Đệ vẽ và đã trình cho vua Bảo Đại chọn trong một phiên họp ở Hồng Kông năm 1948 [cần dẫn nguồn] Nó có nền vàng với

ba sọc đỏ và hai sọc vàng chen nhau nằm vắt ngang ở giữa, tượng trưng cho quẻ Càn trong Bát Quái Có thông tin cho rằng ba sọc đỏ trên lá cờ còn tượng trưng cho Bắc Kỳ (Tonkin), Trung

Kỳ (Annam), và Nam Kỳ (Conchin-China) và Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Linh

[10]

Bề ngang của mỗi sọc đỏ và vàng này bằng nhau và bề ngang chung của năm sọc bằng một phần

ba bề ngang chung của lá cờ Ngày 2 tháng 6 năm 1948, chính phủ lâm thời của thủ tướng Nguyễn Văn Xuân chính thức dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ làm quốc kỳ của Quốc gia Việt Nam

Lá quốc kỳ vàng ba sọc đỏ sau này tiếp tục là quốc kỳ chính quyền Quốc gia Việt Nam (1949

-1955), và sau đó là quốc kỳ cho suốt thời Đệ Nhất và Đệ NhịViệt Nam Cộng hòa (1955-1975)

Hiện nay, lá cờ này không được phép sử dụng tại Việt Nam Tuy nhiên lá cờ này qua Chiến dịch

Cờ Vàng lại được chính quyền của nhiều thành phố và tiểu bang thuộc Hoa Kỳ công nhận là "Lá

Cờ Tự Do và Di Sản" (Heritage and Freedom Flag) và như là biểu tượng cho cộng đồng người

Mỹ gốc Việt tại địa phương[11]

[ sửa ] Cờ giải phóng

Lá cờ chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và quốc kỳ của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam

Ngày đăng: 30/10/2014, 09:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w