1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tài liệu báo cáo khoáng sản

6 394 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Vàng có giá trị nhất liên quan với khoáng sàn nhiệt dịch trong các đá phun trào acid, cộng sinh với thạch anh và các sulfur pyrit, asenopyrit, đồng xám, chancopyrit… đôi khi với telur

Trang 1

BÁO CÁO KHOÁNG SẢN

CHUYÊN ĐỀ VÀNG

GVHD:Thầy PHẠM TUẤN LONG :

NHÓM THỰC HIỆN :

PHAN MINH TRIẾT 0516171

HỒ THANH CƠ 0516004

TRẦN QUỐC TRUNG 0516176

LÊ MINH CHÂU 0516061

NGUYỄN THỊ NHẬT LỆ 0516018

Nội dung chính

1 Giới thiệu

2 Đặc tính – Nguồn gốc

3 Các loại hình mỏ

4 Các loại hình quặng hóa ở Việt Nam

5 Giá trị kinh tế

6 Hình ảnh minh họa

7 Công nghiệp khai thác vàng ở Việt Nam

8 Kết luận

1 GIỚI THIỆU

• Vàng là tên nguyên tố có kí hiệu Au (L aurum)

• Số nguyên tử 79 trong bảng tuần hoàn

• Là kim loại chuyển tiếp (hoá trị 3 và 1)

• Mềm, dễ uốn, dễ dát mỏng, màu vàng và chiếu sáng, không phản ứng với hầu hết các hoá chất nhưng lại chịu tác dụng của clo, flo và nước cường toan (aqua regia) Kim loại này có ở dạng quặng hoặc hạt trong

đá và trong các mỏ bồi tích và là một trong số kim loại đúc tiền

Thành phần hoá học

• Vàng hoàn toàn nguyên chất 98-99% rất hiếm.Vàng tự sinh thường là hỗn hợp đồng hình với bạc.Loại chứa nhiều bạc (15-50%) thành một khoáng vật độc lập gọi là electrum

• Vàng tự sinh có nhiều loại : vàng lẫn đồng (cuproaurit) chứa 20% đồng pocpexit là vàng lẫn Pd tới 5-11%

và Ag tới 4%vàng lẫn bismut (bismutoarit) chứa Bi tới 4%

Trang 2

• Vàng trong mỏ sa khoáng chứa ít bạc hơn vàng trong các mỏ gốc

2 ĐẶC TÍNH NGUỒN GỐC

• Vàng là nguyên tố kim loại có màu vàng khi thành khối, nhưng có thể có màu đen, hồng ngọc hay tía khi được cắt nhuyễn Nó là kim loại dễ uốn dát nhất được biết Là kim loại mềm, vàng thường tạo hợp kim với các kim loại khác để làm cho nó cứng thêm

• Vàng có tính dẫn nhiệt và điện tốt, không bị tác động bởi không khí và phần lớn hoá chất (chỉ có bạc và đồng là những chất dẫn điện tốt hơn) Nó không bị ảnh hưởng về mặt hoá học bởi nhiệt, độ ẩm, ôxy và hầu hết chất ăn mòn; vì vậy nó thích hợp để tạo tiền kim loại và trang sức Các halogen có tác dụng hoá học với vàng, còn nước cường toan thì hoà tan nó

• Vàng nguyên thuỷ có chứa khoảng 8 đến 10% bạc, nhưng thường nhiều hơn thế Hợp kim tự nhiên với thành phần bạc cao (hơn 20%) được gọi là electrum Khi lượng bạc tăng, màu trở nên trắng hơn và trọng lượng riêng giảm

• Vàng có giá trị nhất liên quan với khoáng sàn nhiệt dịch trong các đá phun trào acid, cộng sinh với thạch anh và các sulfur (pyrit, asenopyrit, đồng xám, chancopyrit…) đôi khi với telur vàng và bạc…Vàng còn liên kết với các sulfur nhất là pyrit và arsenopyrit hoặc telur

• Vàng có thể thành tạo trong đới oxy hóa của các khoáng sản sulfur, với limonit, azurit, sinh bismut, … Vàng là khoáng vật rất bền vững trong điều kiện ngoaị sinh nên được tích đọng nhiều trong các mỏ khoáng

• Vàng tương đối phổ biến trong trầm tích eluvi, deluvi, aluvi…Hình thành các sa khoáng vàng trong lòng sông , cửa sông…là do sự phá huỷ các thân quặng gốc và sa khoáng thềm cổ

3 CÁC LOẠI HÌNH MỎ

• Vàng gặp trong các mỏ sulfur Cu-Ni dung li, mỏ scacnơ , mỏ nhiệt dịch ,biến chất và sa khoáng Ba loại hình sau là loại hình công nghiệp quan trọng nhất Mỏ vàng được thành tạo trong các thơì đại địa chất khác nhau Trên thế giới Au chủ yếu thành tạo vào thời tiền Cambri và Anpi (90%)

1 Mỏ vàng scacnơ

• Có quy mô không lớn , ít phổ biến , vàng liên quan với sulfur ( pyrit, pyrotin ) gặp ở Mexico, Mỹ , Brazin , Triều Tiên

2 Loại hình mỏ nhiệt dịch

a Nhiệt dịch nhiệt độ cao có thành hệ thạch anh-sulfur ( pyrit ,asen pyrit ) –Au ,nằm trong đá biến chất và granitoit tuổi Tiền Cambri Thân quặng dạng mạch đơn giản , phức tạp Điển hình là các mỏ ở Ấn Độ (mỏ Colac ) , Brazin , Canada, Thụy Điển ( Boliden )

b Nhiệt dịch nhiệt độ trung bình phân ra các thành hệ :

-Thạch anh-sulfur –Au

-Sulfur – Au ( conchedoan chứa Au )

-Barit - Au

Trang 3

c Mỏ nhiệt dịch nhiêt độ thấp thuộc thành hệ vàng-bạc ‘’tuởi trẻ’’ liên quan với xâm nhập nhỏ , phun trào ryolit, dacit ,andezit tuởi Neogen

Thành phần quặng gồm thạch anh (canxedoan ) , cancit , barit , electrum , pyracgirit , prustit , acgentit , teluaru

Au –Ag , Pb các sulfur muối

Loại mỏ này phát triển trong vành đai lửa Thái bình Dương , dãy Catpat ,điển hình là các mỏ ở Mỹ , Mexico , Columbia , Chile , Peru , Philippin , Nhật , Đơng Bắc Liên Xơ

3 Mỏ sa khống Quan trọng hơn cả là sa khống biển và aluvi

4 Mỏ trong cuội kết biến chất tiền Cambri:

• Mỏ được thành tạo do quá trình bào mịn các hệ tầng chứa Au và Uran cĩ tuởi AK Các khống vật

‘’nguyên sinh’’ lắng đọng cùng với cuội kết là cromit , kim cương , zircon , ilmenit , corumdom , granat Các khống vật “thứ sinh” là pyrotin , chancopyrit , pyrit , sfalerit , galenit , cĩ liên quan với hoạt động nhiệt dịch

• Ngồi ra cịn gặp các khống vật U , Co , Ni

• Ở Việt Nam các thành tạo vàng nội sinh gồm các thành hệ vàng thạch anh - sulfur , vàng antimonit Ngồi ra cịn gặp vàng đi kèm trong các thành hệ quặng khác : sulfur Cu – Ni , chanxedoan Cu – đa kim , trong quặng thiếc , trong đá phun trào bị propilit hĩa , trong đá quartzit thứ sinh , trong đá phiến lục , trong đới mũ sắt

4 CÁC LOẠI HÌNH QUẶNG HĨA Ở VIỆT NAM

1 Vàng sa khống

• Việt Nam cĩ trữ lượng nhỏ, hàm lượng vàng trong các sa khống nĩi chung khơng lớn Thay đởi từ 0.1 – 1 g/m khối Ở một vài nơi, hàm lượng cĩ thể 0.8 – 1.5 g/m khối Chiều dày tầng sản phẩm từ 0.5 – 3m Lớp phủ từ 1 – 5m Cĩ nơi lớp phủ 15m

Sa khoáng Eluvi: Những tích tụ chứa vàng nằm ở phần trên cùng của các mạch hoặc đới mạch thạch

anh nhiệt dịch bị phong hóa biến đổi mà thành

Sa khoáng Deluvi: Sau khi được giải phóng khỏi đá mẹ vàng được di chuyển và tích đọng ở sườn đồi.

Sa khoáng Proluvi: Các dòng lũ vận chuyển các hạt vàng đến lắng đọng ở các nón phóng vật và các

vạt gấu chân núi

Sa khoáng hỗn hợp: Thường gặp các loại hình sa khoáng proluvi-aluvi, eluvi-deluvi Chúng thường

có quy mô nhỏ và hàm lượng không đều

Sa khoáng karst: Là những sa khoáng nằm trong thung lũng karst phân bố rãi rác trong các vùng đá

vôi

Sa khoáng Aluvi: Đây là loại hình sa khoáng vàng khá phổ biến và có triển vọng nhất, thường gặp

trong các trầm tích ở những bậc thềm có độ cao khác nhau và trong các trầm tích của lòng sông

2 Vàng gốc

Trang 4

 Khoáng hoá vàng gốc Việt Nam phát triển nhiều nơi trên phần đất liền, bao gồm nhiều kiểu quặng hóa khác nhau:

o Vàng - Thạch anh

o Vàng - Thạch anh - Sulfur

o Vàng - Bạc

o Vàng - antimon

o Vàng – cộng sinh trong các loại khóang vật khác

Trong đó có kiểu vàng - thạch anh – sulfur là phổ biến nhất với nhiều tụ khoáng đã được thăm dò và có khả năng trở thành các tụ khoáng có giá trị kinh tế

Phân bố Vàng ở Việt Nam

Ở Việt Nam vàng phân bố khá nhiều nơi và với nhiều nguồn gốc khác nhau:

- Vàng –thạch anh (Khau An- Bắc Cạn ), Bồ Cu (Thái Nguyên ), Thương Cầu (Tuyên Quang ), Làng Nèo (Thanh

- Vàng-thạch anh-sulfur (phân bố ở nhiều nơi): Pắc Lạng (Bắc Cạn ), Nà Pái (Lạng Sơn) , Khe Máng ( Hà Tĩnh ),

Cao Răm ,Vai Đào, Đồi Bù ( Hịa Bình ), Ta Lao, Apey ,Avao (Quảng Trị ), Tiên Hịa ,Tiên Thuận (Bình Định ), Konchoco ( Kontum ), Sơng Hinh ,Phước Sơn (Phú Yên ),Hiếu Liêm (Đồng Nai )…

- Kiểu vàng-bạc: liên quan với đá phun trào acid đến trung tính như Xà Khía (Quảng Bình)

- Kiểu vàng –antimon: Chiêm Hĩa (Tuyên Quang) ,Đá Bạc (Hịa bình ), Tà Sỏi (Nghệ An)…

- Vàng sa khoáng:trong các thung lũng , bãi bồi , thềm sơng ở rất nhiều nơi Đáng chú ý là các mỏ và điểm quặng :

Mu Lu (Sơn La ),Mai Sơn (Hịa Bình ), Suối Nhâu , Khắc Kiêm, Bồ Cu (Thái Nguyên )…

5 GIÁ TRỊ KINH TẾ

Kinh tế nguyên liệu khống

• Để khai thác quặng nguyên sinh cần cĩ Au> 3g/ tấn , trường hợp quặng từ các mỏ sa khống Au > 0,1g / tấn cát

• Trữ lượng vàng của thế giới : 57 ngàn tấn , sản lượng khai thác Au năm 1993 : 2290 tấn , giá 335 USD / oz

• Nước sản xuất chủ yếu (%) :Nam phi :27,5 , Mỹ : 14,4 , Úc : 10,5 ,Trung Quốc : 7 , Canada : 6,5 ,Nga : 6,1

Vàng nguyên chất quá mềm khơng thể dùng cho việc thơng thường nên chúng thường được làm cứng bằng cách tạo hợp kim với bạc, đồng và các kim loại khác Vàng và hợp kim của nĩ thường được dùng nhiều nhất trong ngành trang sức, tiền kim loại và là một chuẩn cho trao đởi tiền tệ ở nhiều nước Vì tính dẫn điện tuyệt vời, tính kháng ăn mịn và các kết hợp lí tính và hĩa tính mong muốn khác, vàng nởi bật vào cuối thế kỉ 20 như là một kim loại cơng nghiệp thiết yếu

Trang 5

• Vàng có thể được làm thành sợi và dùng trong ngành thêu

• Vàng thực hiện các chức năng quan trọng trong máy tính, thiết bị thông tin liên lạc, đầu máy máy bay phản lực, tàu không gian và nhiều sản phẩm khác

• Tính dẫn điện cao và đề kháng với ôxi hoá của vàng khiến nó được sử dụng rộng rãi để mạ bề mặt các đầu nối điện, bảo đảm tiếp xúc tốt và trở kháng thấp

• Vàng được dùng trong nha khoa phục hồi, đặc biệt trong phục hồi răng như thân răng và cầu răng giả

• Vàng keo (hạt nano vàng) là dung dịch đậm màu hiện đang được nghiên cứu trong nhiều phòng thí nghiệm y học, sinh học, v.v Nó cũng là dạng được dùng làm nước sơn vàng lên ceramic trước khi nung

• Chlorauric acid được dùng trong chụp ảnh để xử lí ảnh bạc

• Disodium aurothiomalate dùng để điều trị viêm khớp dạng thấp

• Đồng vị vàng Au-198, (bán huỷ: 2,7 ngày) được dùng điều trị một số ung thư và một số bệnh khác

• Vàng được dùng để tạo lớp áo phủ, giúp cho các vật chất sinh học có thể xem được dưới kính hiển vi điện

tử quét

7 Công nghiệp khai thác vàng ở Việt Nam

MỎ VÀNG BỒNG MIÊU (Phú Ninh, Quảng Nam)

 Từ 1.000 năm trước, các vương triều Chămpa đã phát hiện ra nơi đây và khai thác Sau một thời gian dài gián đoạn, đến thế kỷ 14, Bồng Miêu được khai thác trở lại, sang thế kỷ 15 dưới thời các chúa Nguyễn nơi đây phát triển khá hưng thịnh Đến thời Pháp thuộc thì nơi đây được khai thác một cách quy mô và cho

ra sản lượng lớn Thời kỳ này, mỏ vàng Bồng Miêu không chỉ nổi tiếng trong nước mà vang rộng trên khắp thế giới về sản lượng vàng

 Để việc khai thác tiến hành thuận lợi, từ năm 1890 đến năm 1895, người Pháp đã mở tuyến đường Tam

Kỳ - Bồng Miêu và thành lập Công ty vàng Bông Miêu Theo tài liệu lịch sử, tính đến năm 1939, người Pháp đã khai thác được 2.283kg vàng tại đây Tuy nhiên, phải đợi đến ngày 6/4/2006, nơi đây mới chính thức trở thành mỏ vàng đầu tiên ở VN hoạt động sản xuất với quy mô công nghiệp

 CT KTV Bồng Miêu có 80% vốn nước ngoài (CT Olympus Pacific Minerals Corporation của Canada)

-và 20% vốn trong nước (CT cổ phần Kỹ nghệ khoáng sản Quảng Nam -và CT Phát triển khoáng sản), khánh thành Nhà máy Khai thác vàng Bồng Miêu từ tháng 4-2006 Đây là kết quả của suốt 15 năm liên doanh này kiên trì thăm dò, đánh giá lại khu mỏ Núi Kẽm, phát hiện thêm các thân quặng ở các khu mỏ

Hố Gần, Hố Ráy, Thác Trắng (đều ở thôn Bồng Miêu)

Khu mỏ Hố Gần với trữ lượng quặng có khả năng cho vàng lớn là 521.600 tấn, hàm lượng vàng trung bình 3,85gam/tấn quặng; sản lượng 600kg vàng/năm

 Bồng Miêu hiện là nhà máy khai thác vàng (NMKTV) hiện đại và lớn nhất nước Hoạt động sản xuất của nhà máy thực hiện theo quy trình kép kín Quặng lấy được sẽ xay nhuyễn, 90% đưa ra ngoài mà không có hại đến môi trường Còn lại 10% tinh quặng chuyển sang địa phân, phần vàng được nung chảy cho vào khuôn

Trang 6

 Hiện nhà máy tinh luyện đạt công suất 500 tấn quặng/ngày Trong năm đầu, Công ty dự kiến khai thác 600kg vàng, số lượng này sẽ được nâng lên 1.500kg vào các năm kế tiếp Chất lượng vàng ở đây mới đạt

độ tuổi là 9, nếu muốn đạt được 9,999 phải đưa sang Thụy Sỹ tinh luyện

KẾT LUẬN

 Vàng ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú có nhiều trong sa khoáng và các đá magma phun trào và các

mỏ nhiệt dịch

 Nếu đầu tư có quy hoạch và pháp luật của nhà nước thì sẻ đem lại doanh thu lớn cho nhà nước

 Cần xoá bỏ nạn khai thác trái phép tràn lan không quy hoạch và có nhiều biện pháp xử lí Đầu tư công nghệ mơí đạt được hiệu quả cao về mặt kinh tế cũng như không gây ô nhiễm môi trường

Ngày đăng: 26/10/2014, 00:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w