1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Di sản dùng vào việc thờ cúng trong mối liên hệ với di sản thừa kế" doc

4 471 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Di sản dùng vào việc thờ cúng trong mối liên hệ với di sản thừa kế
Tác giả ThS. Nguyễn Thị Thuận
Người hướng dẫn Giảng viên Khoa Luật Quốc Tế Trường Đại Học Luật Hà Nội
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Quốc Tế
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 83,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập chế định l%nh sự danh dự - chế định đ% được ghi nhận trong Công ước Viên năm 1963 về quan hệ l%nh sự nhưng với Việt Nam thì mới xuất hiện

Trang 1

ThS Nguyễn Thị Thuận *

ới đường lối đối ngoại "Việt Nam

muốn làm bạn với tất cả các nước",

hoạt động hợp tác quốc tế của Việt Nam đ%

trở nên sôi động kể từ khi chúng ta bắt đầu

công cuộc đổi mới Số lượng các cơ quan đại

diện của Việt Nam ở nước ngoài và các cơ

quan đại diện nước ngoài ở Việt Nam ngày

càng tăng Nắm vững những vấn đề pháp lí

về các cơ quan đại diện và thành viên của

những cơ quan này nhất là những vấn đề mới

trong hoạt động ngoại giao của Nhà nước ta

có ý nghĩa không nhỏ trong việc hoàn thiện

và phát huy hiệu quả hoạt động của các cơ

quan đại diện của Việt Nam, bảo vệ chủ

quyền, lợi ích của Việt Nam trong quá trình

hội nhập phù hợp với các quy định của pháp

luật quốc tế

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ

đề cập chế định l%nh sự danh dự - chế định

đ% được ghi nhận trong Công ước Viên năm

1963 về quan hệ l%nh sự nhưng với Việt Nam

thì mới xuất hiện gần đây

1 Lãnh sự danh dự trong pháp luật

quốc tế

Căn cứ vào các quy định trong Công ước

Viên năm 1963 về quan hệ l%nh sự nói chung

và pháp luật của Việt Nam về vấn đề l%nh sự

danh dự nói riêng, chúng ta có thể đưa ra

định nghĩa chung về l%nh sự danh dự như

sau:

L%nh sự danh dự là viên chức l%nh sự

không chuyên nghiệp thực hiện các chức

năng l%nh sự trên cơ sở thỏa thuận giữa nước

cử l%nh sự và nước tiếp nhận l%nh sự danh

dự

Thực tiễn cho thấy l%nh sự danh dự thường được bổ nhiệm tại những nơi có nhu cầu về công việc l%nh sự nhưng chưa hoặc không có điều kiện thành lập cơ quan hoặc

cử viên chức l%nh sự chuyên nghiệp

Mặc dù những vấn đề pháp lí về l%nh sự danh dự được quy định riêng trong chương 3 của Công ước Viên năm 1963 về quan hệ l%nh sự nhưng một số các quy định về l%nh

sự chuyên nghiệp ở chương 2 của Công ước cũng vẫn được áp dụng cho cả l%nh sự danh

dự Điển hình là những quy định liên quan tới việc đảm bảo cho hoạt động của cơ quan l%nh sự được thuận lợi dễ dàng Ví dụ, vấn đề

sử dụng quốc kì, quốc huy (Đ.20), vấn đề nhà ở (Đ.30), quyền tự do đi lại (Đ.34), quyền tự do liên lạc (Đ.35), quyền miễn trừ tài phán (Đ.43)

Tuy nhiên, so với viên chức l%nh sự chuyên nghiệp, quy định về viên chức l%nh

sự danh dự có một số ưu điểm cơ bản sau

đây:

Thứ nhất, viên chức l%nh sự chuyên nghiệp trên nguyên tắc phải là công dân của nước cử (Đ.22), chỉ có thể cử công dân của nước tiếp nhận l%nh sự hoặc công dân của

V

* Giảng viên Khoa luật quốc tế Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

nước thứ 3 làm viên chức l%nh sự với điều

kiện được nước tiếp nhận l%nh sự đồng ý rõ

ràng và bất cứ lúc nào họ cũng có thể chấm

dứt sự đồng ý này

Nhưng vấn đề quốc tịch của viên chức

l%nh sự danh dự không hề được quy định

trong chương III (chương về chế độ áp dụng

cho viên chức l%nh sự danh dự và các cơ

quan do họ đứng đầu) của Công ước Viên

năm 1963 Nhưng thực tiễn và pháp luật của

các nước trên thế giới (trong đó có pháp luật

Việt Nam) cho thấy rằng viên chức l%nh sự

danh dự không nhất thiết phải là công dân

của nước cử

Thứ hai, Công ước Viên năm 1963 về

quan hệ l%nh sự không quy định về việc cho

phép hoặc hạn chế các viên chức l%nh sự

chuyên nghiệp tiến hành các hoạt động

thương mại với tư cách cá nhân tại nước tiếp

nhận Nhưng với viên chức l%nh sự danh dự,

các quy định của Công ước Viên năm 1963

(Đ.61, Đ.65) thể hiện sự thừa nhận việc bên

cạnh chức năng l%nh sự, viên chức l%nh sự

danh dự vẫn được tiến hành các hoạt động

nghề nghiệp hoặc thương mại riêng tại nước

tiếp nhận

Thứ ba, thành viên gia đình của viên

chức l%nh sự danh dự hoặc nhân viên l%nh sự

làm việc trong cơ quan l%nh sự do viên chức

l%nh sự danh dự đứng đầu không được hưởng

các quyền ưu đ%i miễn trừ được quy định

trong Công ước Viên năm 1963 Trong khi

đó, thành viên gia đình của các viên chức

l%nh sự chuyên nghiệp và nhân viên l%nh sự

vẫn được hưởng các quyền ưu đ%i và miễn trừ

theo quy định của Công ước Viên 1963 mặc

dù ở mức độ nào đó, phạm vi của các quyền

này có hạn chế hơn so với quyền ưu đ%i miễn trừ dành cho chính viên chức l%nh sự chuyên nghiệp và nhân viên l%nh sự

Cần lưu ý chế định l%nh sự danh dự không có tính chất bắt buộc, vấn đề này được thể hiện rõ trong Điều 68 Công ước Viên năm 1963 "Mọi nước có quyền tự do định

đoạt về việc cử hoặc tiếp nhận viên chức l(nh sự danh dự" Như vậy, theo pháp luật quốc tế, trên cơ sở chủ quyền quốc gia và xuất phát từ thực tế, mỗi quốc gia ban hành các văn bản pháp luật, tham gia kí kết các

điều ước quốc tế để điều chỉnh vấn đề l%nh

sự danh dự Trong mọi trường hợp, việc thành lập cơ quan l%nh sự do l%nh sự danh dự

đứng đầu cũng như việc bổ nhiệm l%nh sự danh dự phải có sự thỏa thuận giữa nước cử

và nước tiếp nhận Các thành viên của Công

ước Viên năm 1963 về quan hệ l%nh sự, nếu

có thỏa thuận về việc thành lập cơ quan l%nh

sự do viên chức l%nh sự danh dự đứng đầu thì phải tuân thủ các quy định trong Công ước Viên 1963

2 Lãnh sự danh dự trong pháp luật Việt Nam

a L(nh sự danh dự của Việt Nam ở nước ngoài

Khoản 1 Điều 15 Pháp lệnh l%nh sự của nước CHXHCN Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 1/1/1991) quy định: "L(nh sự danh dự

là l(nh sự không chuyên nghiệp và không thuộc biên chế nhà nước Việt Nam ở những nơi có yêu cầu về công việc l(nh sự song không có điều kiện thành lập cơ quan hoặc

cử viên chức l(nh sự thì Bộ trưởng Bộ ngoại giao có quyền bổ nhiệm l(nh sự danh dự L(nh sự danh dự là công dân Việt Nam và

Trang 3

cũng có thể là công dân nước ngoài"

Căn cứ vào Pháp lệnh l%nh sự, Quy chế

l%nh sự danh dự của nước CHXHCN Việt

Nam đ% được ban hành kèm theo Quyết định

số 06 NG/QĐ ngày 8/1/1994 của Bộ trưởng

Bộ ngoại giao gồm những quy định về thành

lập cơ quan l%nh sự do l%nh sự danh dự đứng

đầu, quản lí chỉ đạo l%nh sự danh dự đối

với l%nh sự danh dự Việt Nam ở nước ngoài

Cụ thể:

Cơ quan l%nh sự của nước CHXCN Việt

Nam do l%nh sự danh dự đứng đầu gồm tổng

l%nh sự quán và l%nh sự quán Người đứng

đầu l%nh sự quán là l%nh sự danh dự, người

đứng đầu tổng l%nh sự quán là tổng l%nh sự

danh dự Việc bổ nhiệm l%nh sự danh dự chỉ

được đặt ra nếu có sự đòi hỏi của công tác

l%nh sự trong khi phía Việt Nam không hoặc

chưa có điều kiện để thành lập cơ quan và cử

viên chức l%nh sự chuyên nghiệp Việc bổ

nhiệm l%nh sự danh dự của Việt Nam cần

phải được sự chấp nhận của nước sở tại

L%nh sự danh dự của Việt Nam ở nước

ngoài phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Là công dân Việt Nam hoặc công dân

nước sở tại;

- Thường trú ở nước sở tại;

- Có địa vị x% hội, có khả năng tài chính

và kinh nghiệm quản lí;

- Có lí lịch tư pháp rõ ràng;

- Không phải là công chức của bất cứ

nước nào

Sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho

phép, bộ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam

quyết định thành lập cơ quan l%nh sự do l%nh

sự danh dự đứng đầu và bổ nhiệm l%nh sự

danh dự Việc quản lí, chỉ đạo trực tiếp l%nh

sự danh dự thuộc thẩm quyền của người

đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại nước tiếp nhận hoặc cục l%nh

sự (theo sự ủy nhiệm của bộ trưởng Bộ ngoại giao) Trong khi thực hiện chức năng l%nh sự, l%nh sự danh dự có quyền liên hệ trực tiếp với nhà chức trách trung ương của nước tiếp nhận (nếu được phép) hoặc gián tiếp thông qua cơ quan đại diện ngoạo giao, liên hệ với nhà chức trách địa phương tại khu vực l%nh sự

b L(nh sự danh dự của nước ngoài tại Việt Nam

Căn cứ vào Quy chế về l%nh sự danh dự của nước ngoài tại Việt Nam được ban hành kèm theo Quyết định số 139/2000/QĐ-TTg, ngày 4/12/2000 của Thủ tướng Chính phủ, việc bổ nhiệm viên chức l%nh sự danh dự

được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để

đứng đầu tổng l%nh sự quán, l%nh sự quán, phó l%nh sự quán và đại lí l%nh sự quán của nước ngoài tại Việt Nam Mặt khác, giới hạn của khu vực l%nh sự của cơ quan l%nh sự nước ngoài do l%nh sự danh dự đứng đầu là hạn chế, chỉ gồm một huyện, thị x% hoặc một quận của thành phố trực thuộc trung ương nhưng không được vượt quá địa giới hành chính của một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương

Người được bổ nhiệm làm l%nh sự danh

dự nước ngoài tại Việt Nam phải đáp ứng các

điều kiện sau:

- Không phải là viên chức nhà nước;

- Là công dân nước cử hoặc công dân Việt Nam;

- Đ% cư trú hoặc làm việc ít nhất là một năm trong khu vực l%nh sự;

Trang 4

- Có chỗ ở hoặc nơi làm việc trong khu

vực l%nh sự của cơ quan l%nh sự mà người đó

dự kiến đứng đầu;

- Có lí lịch tư pháp rõ ràng;

- Có khả năng về tài chính;

- Không phải là l%nh sự danh dự của

nước khác tại Việt Nam

Phù hợp với pháp luật quốc tế, trong khi

thực hiện chức năng l%nh sự, cơ quan l%nh sự

do l%nh sự danh dự đứng đầu có quyền liên

hệ với các cơ quan địa phương của Việt Nam

trong khu vực l%nh sự Đối với nhà chức

trách trung ương, việc liên hệ được tiến hành

thông qua cơ quan đại diện ngoại giao của

nước cử hoặc qua Bộ ngoại giao Việt Nam

Cơ quan l%nh sự và l%nh sự danh dự được

hưởng các quyền ưu đ%i và miễn trừ theo

đúng các quy định của điều ước quốc tế mà

Việt Nam là thành viên và của pháp luật Việt

Nam Phạm vi và mức độ của các quyền ưu

đ%i, miễn trừ đối với l%nh sự danh dự là công

dân Việt Nam hoặc công dân nước cử cũng

có sự khác nhau nhất định.(1)

Tóm lại, các quy định của pháp luật Việt

Nam về vấn đề l%nh sự danh dự là phù hợp

với quy định về l%nh sự danh dự trong pháp

luật quốc tế Thực tế hiện nay nước

CHXHCN Việt Nam cũng đ% chấp nhận cho

lập một số cơ quan l%nh sự nước ngoài do

l%nh sự danh dự đứng đầu tại Việt Nam như

l%nh sự quán của Vương quốc Bỉ, của Vương

quốc Thụy Điển, của Liên bang Thụy Sĩ tại

thành phố Hồ Chí Minh Ngược lại, cũng đ%

có cơ quan l%nh sự của Việt Nam do l%nh sự

danh dự đứng đầu hoạt động ở nước ngoài đó

là tổng l%nh sự danh dự Việt Nam tại Hăm

Buốc (Cộng hòa Liên bang Đức), tổng l%nh

sự danh dự Việt Nam tại Li Băng ở Việt

Nam, việc thành lập cơ quan l%nh sự của Việt Nam ở nước ngoài do l%nh sự danh dự đứng

đầu và việc chấp nhận cơ quan l%nh sự của một số nước do l%nh sự danh dự đứng đầu

mở tại Việt Nam cũng chỉ mới xuất hiện trong vài năm gần đây Các cơ quan l%nh sự

do l%nh sự danh dự đứng đầu đ% và đang hoạt

động một cách hiệu quả góp phần tích cực vào việc tăng cường hợp tác quốc tế, bảo hộ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài và của công dân nước ngoài tại Việt Nam Nhu cầu thiết lập cơ quan l%nh sự do l%nh sự danh dự đứng đầu

sẽ còn gia tăng, nhất là đối với Việt Nam,

điều kiện thành lập cơ quan l%nh sự và cử viên chức l%nh sự chuyên nghiệp không phải lúc nào cũng dễ dàng Vấn đề quan trọng

được đặt ra là việc quản lí, chỉ đạo hoạt động

đối với các cơ quan l%nh sự của Việt Nam do l%nh sự danh dự đứng đầu từ phía các cơ quan có thẩm quyền phải chặt chẽ, kịp thời nhằm phát huy những mặt tích cực của chế

định l%nh sự danh dự Mặt khác, với sự hiện diện của các cơ quan l%nh sự nước ngoài do l%nh sự danh dự đứng đầu ở Việt Nam (hiện chủ yếu tập trung tại thành phố Hồ Chí Minh), cần phải có sự tập huấn, trang bị cho các cơ quan hữu trách trên địa bàn hành chính nơi có các cơ quan l%nh sự này đang hoạt động những kiến thức cơ bản cần thiết

để đảm bảo sự tôn trọng pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam từ cả 2 phía, góp phần phát triển tình đoàn kết hữu nghị giữa Việt Nam với các nước./

(1) Pháp lệnh về quyền ưu đ%i miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan l%nh sự và cơ quan

đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam ngày 22/8/1993 có quy định khá cụ thể về vấn đề này.

Ngày đăng: 21/02/2014, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w