1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

100 bài thơ hay thế kỷ XX

132 727 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

những bóng người trên sân ga Những cuộc chia lìa khởi tự đây Cây đàn sum họp đứt từng dây Những lời phiêu bạt thân đơn chiếc Lần lượt theo nhau suốt tối ngày Có lần tôi thấy hai cô

Trang 1

Trung tâm văn hóa doanh nhân Việt Nam

Trang 2

tựa

"Một trăm bài thơ hay thế kỷ XX" - đó là kết quả

bước đầu cuộc thi: "Bình chọn một trăm bài thơ hay thế

kỷ XX" của Trung tâm Văn hóa Doanh nhân Việt Nam

và Nhà xuất bản Giáo dục phối hợp tổ chức Trên hai

năm kể từ khi phát động cuộc thi đến nay đã có tới hàng

nghìn bài dự thi của các tác giả từ ba mươi sáu tỉnh thành

trong cả nước và đồng bào ở nước ngoài như: Nga,

Trung Quốc, Mỹ, Anh, Pháp, Đức… gửi tác phẩm về

tham dự

Rất nhiều bạn đọc cho rằng đây là một cuộc thi

độc đáo, đặc biệt có lẽ vào loại nhất ở nước ta của cả một

thế kỷ Chúng tôi rất cảm ơn những ý kiến của bạn đọc

nhưng có lẽ nó độc đáo ở chỗ đây không phải là sự lựa

chọn của một nhóm người nào mà cả một tập thể lớn bạn

đọc trong cả nước Và chọn bài thơ hay chứ không chọn

tên tác giả Tác phẩm dự thi chỉ chọn "tên" sáng tác, mà

cụ thể là "tên" của một trăm bài thơ vào loại hay nhất

Độc đáo, đặc biệt và cũng thật là mạo hiểm Nó mạo

hiểm ở chữ "hay"

Ban tổ chức và hội đồng giám khảo sau nhiều khó

khăn và phức tạp cuối cùng cũng lựa chọn một cách công

phu, nghiêm túc và trách nhiệm trong tổng số hàng nghìn

tác giả với hàng triệu bài thơ đã được công bố trên thi

đàn Việt Nam trong suốt thế kỷ XX qua sự sàng lọc chọn

lựa của hàng nghìn “thí sinh” đồng thời là giám khảo

chọn ra 100 bài thơ hay này Một thế kỷ – nghĩa là một

trăm năm chỉ có một trăm bài thơ hay

Tuy đã được tinh tuyển công phu nhưng cũng chưa thể khẳng định một cách dứt khoát Bởi vì lấy gì làm mực thước cho sự "hay" này

Cái chỗ để chúng ta cùng bằng lòng với nhau đó là

sự chọn lựa là của một tập thể đông đảo các thí sinh ở nhiều lứa tuổi, nhiều trình độ, nhiều học vấn, nhiều vùng quê khác nhau Trong đó có cả các nhà văn, nhà thơ, các giáo sư nổi tiếng, những người từng giảng dạy nhiều năm trong các trường Đại học, trường PTTH, những người Việt đang sống và làm việc ở nước ngoài chung góp lại

"Một trăm bài thơ hay thế kỷ XX" đã định hình Phải nói đây là một công trình tập thể của những người yêu thơ trong và ngoài nước và cũng phải nói rằng đây mới chỉ là bước đầu cho dù đã hết sức khắt khe, nghiêm túc và minh chính

Chúng tôi nghĩ kết quả này phải được công bố dưới hình thức xuất bản và cuối cùng thời gian và công chúng sẽ tiếp tục giúp chúng ta trả lại sự công bằng minh chính cho thơ ca

Chúng tôi hy vọng và trông chờ mọi ý kiến tham gia góp ý xây dựng và chỉ bảo cụ thể của bạn đọc trong

và ngoài nước Chúng tôi xin nghiêm túc tiếp thu và từng bước tiếp tục hoàn chỉnh để chúng ta sớm có được một tác phẩm thi ca chọn lọc xứng đáng với một dân tộc, một đất nước giàu truyền thống anh hùng và thơ mộng: Việt Nam

Trung tâm Văn hóa Doanh nhân Việt Nam –

Nhà xuất bản Giáo dục

Trang 3

Tẩu biến cao sơn dữ tuấn nham

Na tri bình lộ cánh nan kham Cao sơn ngộ hổ chung vô dạng Bình lộ phùng nhân khước bị giam

Trang 4

Dịch nghĩa

đường đời hiểm trở

Từng đi khắp núi cao non hiểm, ngờ đâu đến nơi

đường phẳng lại gặp nhiều gian nan Nơi núi cao gặp

hổ, chung quy vẫn không sao Xuống đường phẳng

gặp người lại bị bắt giam

Dịch thơ

Ngờ đâu đường phẳng lại lao đao

Núi cao gặp hổ mà vô sự

Đường phẳng gặp người, bị tống lao

Phùng khắc bắc

(1944 – 1991) Quê: Bắc Giang

Tác phẩm thơ đã in: Một chấm xanh

Ngày hòa bình đầu tiên

Những sợi nắng xuyên qua nhà mình Thành những mũi tên

Thành những viên đạn Bắn tiếp vào anh không gì che chắn Phải nhận tất cả

– Ăn cơm, con!

Hòa bình trong canh cua, mồng tơi, cà

Và Mùi ổ rơm

Trang 5

Nguyễn bính

(1918 – 1966) Quê: Nam Định

Tác phẩm thơ đã in: Lỡ bước sang ngang

Tâm hồn tôi Hương cố nhân một nghìn

cửa sổ Người con gái ở lầu hoa Mười hai

bến nước Mây tần Tỳ bà truyện ông lão

mài gươm Đồng tháp mười Trả ta về

Gửi người vợ miền Nam Trông bóng cờ bay

Tiếng trống đêm xuân tình nghĩa đôi ta

đêm sao sáng nước giếng khơi

tuyển tập Nguyễn Bính

những bóng người trên sân ga

Những cuộc chia lìa khởi tự đây

Cây đàn sum họp đứt từng dây

Những lời phiêu bạt thân đơn chiếc

Lần lượt theo nhau suốt tối ngày

Có lần tôi thấy hai cô bé

Sát má vào nhau khóc sụt sùi

Hai bóng chung lưng thành một bóng

"Đường về nhà chị chắc xa xôi?"

Có lần tôi thấy một người yêu Tiễn một người yêu một buổi chiều

ở một ga nào xa vắng lắm

Họ cầm tay họ bóng xiêu xiêu

Hai người bạn cũ tiễn chân nhau

Kẻ ở trên toa kẻ dưới tàu

Họ giục nhau về ba bốn bận Bóng nhòa trong bóng tối từ lâu

Có lần tôi thấy vợ chồng ai Thèn thẹn đưa nhau bóng chạy dài Chị mở khăn giầu, anh thắt lại:

"Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!"

Trang 6

Có lần tôi thấy một bà già

Đưa tiễn con đi trấn ải xa

Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng

Lưng còng đổ bóng xuống sân ga

Có lần tôi thấy một người đi

Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì

Chân bước hững hờ theo bóng lẻ

Một mình làm cả cuộc phân ly

Những chiếc khăn màu thổn thức bay

Những bàn tay vẫy những bàn tay

Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt

Buồn ở đâu hơn ở chốn này?

Thu bồn

(1935 – 2003) Quê: Quảng Nam

Tác phẩm thơ đã in: bài ca chim ch'rao (tc) Tre xanh

Quê hương mặt trời vàng azan khát

Những lăng tẩm như hoàng hôn

chống lại ngày quên lãng Mặt trời vàng và mắt em nâu

Xin chào Huế một lần anh đến

Để ngàn lần anh nhớ trong mơ

Em rất thực nắng thì mờ ảo Xin đừng lầm em với cố đô

Trang 7

áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy

Nắng mênh mang mấy nhịp Tràng Tiền

Nón rất Huế nhưng đời không phải thế

Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng

Nhịp cầu cong và con đường thẳng

Một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu

Con sông dùng dằng con sông không chảy

Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt

Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya

Tạm biệt nhé chiếc hôn thầm lặng

Anh trở về hóa đá phía bên kia

vào chùa

đang trưa ăn mày vào chùa

Sư cụ cho một lá bùa rồi đi

Ăn mày không biết làm gì

Lá bùa nhét túi lại đi ăn mày

Trang 8

Nhã ca

Sinh: 1939 Quê: Thừa Thiên Huế

Hiện sinh sống ở nước ngoài

Tác phẩm đã in: Trên 36 truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết và tập

Thơ nhã ca (gồm Thi tập Nhã Ca mới và

những bài thơ mới viết, 1973)

Tiếng chuông thiên mụ

Tôi lớn lên bên này sông Hương

Con sông chẻ đời ra những vùng thương nhớ

Cây trái Kim Long, sắt thép cầu Bạch Hổ

Cửa từ bi vồn vã bước chân sông

Mặt nước xanh trong suốt tuổi thơ hồng

Tháp cổ chuông xưa sông hiền sóng mọn

Những đêm tối bao la những ngày tháng lớn

Những sáng chim chiều dế canh gà

Tiếng chuông buồn vui dợn thấu trong da

Người với chuông như chiều với tối

Tôi bỏ nhà ra đi năm mười chín tuổi Đêm trước ngày đi nằm đợi tiếng chuông Cuối cơn điên đầu giấc ngủ đau buồn Tiếng chuông đến dịu dàng lay tôi dậy Tiếng chuông đến và đi chỉ mình tôi thấy Chỉ mình tôi nhìn thấy tiếng chuông tan Tiếng chuông tan đều như hơi thở anh em Tiếng chuông tan rời như lệ mẹ hiền Tiếng chuông tan lâu như mưa ngoài phố Tiếng chuông tan dài như đêm không ngủ Tiếng chuông tan tành như tiếng vỡ trong tôi

Từ dạo xa chuông khôn lớn giữa đời Đổi họ thay tên viết văn làm báo Cơm áo dạy mồm ăn lơ nói láo Cửa từ bi xưa mất dấu đứa con hư Tháp cổ chuông xưa, sông nhỏ sương mù Dòng nước cũ trong mắt nhìn ẩm đục Con đường cũ trong hồn nghe cỏ mọc Chuông cũ giờ đây bằn bặt trong da Tuổi hồng sa chân chết đuối bao giờ Ngày tháng cũ cầm bằng như nước lũ

Trang 9

Nhưng sao chiều nay bỗng bàng hoàng nhớ

Tiếng chuông xưa bừng sống lại trong tôi

Tiếng chuông xưa kìa tuổi dại ta ơi

Chuông òa vỡ trong tôi nghìn tiếng nói

Những mảnh đồng đen như da đêm tối

Những mảnh đồng đen như tiếng cựa mình

Những mảnh đồng đen như máu phục sinh

Những mảnh đồng đen kề nhau bước tới

Tôi thức dậy rồi đây chuông ơi chuông hỡi

Tôi thức dậy đây tôi thức dậy rồi

Thức dậy thực sự rồi

Thức dậy cùng giông bão, thức dậy cùng tan vỡ

Thức dậy cùng lịch sử

Mẹ hiền ơi thành phố cũ chiều nay

Có tiếng chuông nào rơi như lệ trên tay

Trên mặt nước trên mặt người mặt lộ

Cho con trở về đứng mê sảng ngó

văn cao

(1923 – 1995) Quê: Nam Định

Tác phẩm thơ đã in: những người trên cửa biển

Lá tuyển tập thơ văn cao

Chiếc xe xác qua phường dạ lạc

Ngã tư nghiêng nghiêng đốm lửa Chập chờn ảo hóa tà ma

Đôi dãy hồng lâu cửa mở phấn sa

Rũ rượi tóc những hình hài địa ngục Lạnh ngắt tiếng ca nhi phách giục Tình tang Não nuột khóc tàn sương

áo thế hoa rũ rượi lượn đêm trường Từng mỹ thể rạc hơi đèn phù thế

Ta đi trên đường dương thế Bóng tối âm thầm rụng xuống chân cây

Tiếng xe ma chở vội một đêm gầy Xác trụy lạc rũ bên thềm lá phủ

Ai hát khúc thanh xuân hờ ơi phấn nữ Thanh xuân hờ thanh xuân

Bước gần ta chút nữa thêm gần Khoảng giữa tuổi thanh xuân

nghe loạn trùng hút tủy

Trang 10

Ai hủy đời trai trên tang trống nhỉ?

Hay ác thần gõ quách nạo mồ khuya!

Đảo điên mê say Thể phách chia lìa

Nghe gieo mạnh chuỗi tiền cười lạnh lẽo!

Tiền rơi! Tiền rơi! Chùm sao huyền diệu

Lấp lánh hằng hà gạo rơi! Tiền rơi!

Ta lả nhìn cửa sổ mắt mờ rồi

Vàng mấy lá thừa đãi thây phủ chiếu

Ngã tư nghiêng nghiêng chia nẻo

Dặt dìu cung bậc âm dương

Tàn xuân nhễ nhại mưa cô tịch

Đầm đìa rả rích phương Đông

Mang mang thở dài hôn đất trích

Lưới thép trùng trùng khép cố đô

Cửa ô đau khổ

Bốn ngả âm u

(Nhà ta thuê mái gục tự mùa Thu

Gác cô độc hướng về phường Dạ Lạc)

Đêm đêm, đài canh tan tác

Bốn vực nhạc động, vẫy người

Dẫy đèn chao thắp đỏ quạnh máu đời

Ta về gác gió cài then cửa cũ

Trên đường tối đêm khỏa thân khiêu vũ

Kèn nhịp xa điệu múa vô luân

Run rẩy giao duyên khối nhạc trầm trầm Hun hút gió nâng cầm ca nặng nhọc Kiếp người tang tóc

Loạn lạc đòi nơi xương chất lên xương Một nửa kêu than, ma đói sa trường Còn một nửa lang thang tìm khoái lạc

Ngã tư nghiêng nghiêng xe xác

Đi vào ngõ khói Công Yên Thấy bâng khuâng lối cỏ u huyền Hương nha phiến chập chờn mộng ảo Bánh nghiến nhựa đang kêu sào sạo – Ai vạc xương đổ sọ xuống lòng xe Chiếc quỷ xa qua bốn ngả ê chề Chở vạn kiếp đi hoang ra khỏi vực Mưa, mưa hằng thao thức

Trong phố lội đìu hiu Mưa, mưa tràn trên vực Trong tối gục tiêu điều Mang linh hồn cô liêu Tiếng xe càng ám ảnh Tiếng xe dần xa lánh Khi gà đầu ô kêu

1945

Trang 11

Vũ cao

Sinh: 1922 Quê: Nam Định

Hiện sống và viết tại Hà Nội

Tác phẩm thơ đã in: sớm nay, đèo trúc Núi đôi

Núi đôi

Bảy năm về trước em mười bảy

Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng

Xuân Dục Đoài, Đông hai cánh lúa

Bữa thì em tới, bữa anh sang

Lối ta đi giữa hai sườn núi

Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi

Em vẫn đùa anh: Sao khéo thế

Núi chồng, núi vợ đứng song đôi!

Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới

Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau

Mới ngỏ lời thôi, đành lỗi hẹn

Đâu ngờ từ đó mất tin nhau

Anh vào bộ đội, lên đông bắc Chiến đấu quên mình năm lại năm Mỗi bận dân công về lại hỏi

Ai người Xuân Dục, núi Đôi chăng? Anh nghĩ quê ta giặc chiếm rồi Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi Mỗi tin súng nổ vùng đai địch Sương trắng người đi lại nhớ người

Đồng đội có nhau thường nhắc nhở Trung du làng nước vẫn chờ trông Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm

Em vẫn đi về những bến sông?

Náo nức bao nhiêu ngày trở lại Lệnh trên ngừng bắn, anh về xuôi Hành quân qua tắt đường sang huyện Anh ghé thăm nhà, thăm núi Đôi

Trang 12

Mới đến đầu ao, tin sét đánh

Giặc giết em rồi, dưới gốc thông

Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa

Em sống trung thành, chết thuỷ chung

Anh ngước nhìn lên hai dốc núi

Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen

Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói

Núi vẫn đôi mà anh mất em!

Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo

Em còn trẻ lắm, nhất làng trong!

Mấy năm cô ấy làm du kích

Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng?

Từ núi qua thôn, đường nghẽn lối

Xuân Dục, Đoài, Đông cỏ ngút đầy

Sân biến thành ao nhà đổ chái

Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay

Cha mẹ dìu nhau về nhận đất

Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau

Nứa gianh nửa mái lều che tạm Sương nắng khuây dần chuyện xót đau

Anh nghe có tiếng người qua chợ

Ta gắng, mùa sau lúa sẽ nhiều Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu!

Nhưng núi còn kia, anh vẫn nhớ Oán thù còn đó, anh còn đây

ở đâu cô gái làng Xuân Dục

Đã chết vì dân giữa đất này!

Ai viết tên em thành liệt sĩ Bên những hàng bia trắng giữa đồng Nhớ nhau anh gọi: em, đồng chí Một tấm lòng trong vạn tấm lòng

Anh đi bộ đội, sao trên mũ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

Em sẽ là hoa trên đỉnh núi Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm

1956

Trang 13

Hoàng cầm

Sinh: 1922 Quê: Bắc Ninh

Hiện sống và viết tại Hà Nội

Tác phẩm thơ đã in: Men đá vàng (tc)

mưa thuận thành Lá diêu bông

bên kia sông đuống Về Kinh bắc 99 tình khúc

bên kia sông đuống

em ơi! Buồn làm chi

Anh đưa em về sông Đuống

Ngày xưa cát trắng phẳng lì

Sông Đuống trôi đi

Một dòng lấp lánh

Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ

Xanh xanh bãi mía bờ dâu

Ngô khoai biêng biếc

Đứng bên này sông sao nhớ tiếc

Sao xót xa như rụng bàn tay

Bên kia sông Đuống Quê hương ta lúa nếp thơm nồng Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp Quê hương ta từ ngày khủng khiếp Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn Ruộng ta khô

Nhà ta cháy Chó ngộ một đàn Lưỡi dài lê sắc máu Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

Mẹ con đàn lợn âm dương Chia lìa đôi ngả

Đám cưới chuột đang từng bừng rộn rã Bây giờ tan tác về đâu?

Ai về bên kia sông Đuống Cho ta gửi tấm the đen Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên Những hội hè đình đám

Trên núi Thiên Thai Trong chùa Bút Tháp

Trang 14

Giữa huyện Lang Tài

Gửi về may áo cho ai

Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu

Những cô nàng môi cắn chỉ quết trầu

Những cụ già phơ phơ tóc trắng

Những em sột soạt quần nâu

Bây giờ đi đâu? Về đâu?

Ai về bên kia sông Đuống

Có nhớ từng khuôn mặt búp sen

Những cô hàng xén răng đen

Cười như mùa Thu toả nắng

Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen

Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối

Những nàng dệt sợi

Đi bán lụa màu

Những người thợ nhuộm

Đồng Tỉnh, Huê Cầu

Bây giờ đi đâu? Về đâu?

Bên kia sông Đuống

Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong

Dăm miếng cau khô

Mấy lọ phẩm hồng

Vài thếp giấy đầm hoen sương sớm Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn Khua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teo

Xì xồ cướp bóc Tan phiên chợ nghèo

Lá đa lác đác trước lều Vài ba vết máu loang chiều mùa Đông Chưa bán được một đồng

Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong Bước cao thấp bên bờ tre hun hút

Có con cò trắng bay vùn vụt Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu?

Mẹ ta lòng đói dạ sầu Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ Thuyền ai thấp thoáng bến Hồ

Xoá cho ta hết những giờ thảm thương

Bên kia sông Đuống

Ta có đàn con thơ Ngày tranh nhau một bát cháo ngô Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạn Lấy mẹt quây tròn

Trang 15

Chúng ta không biết nguôi hờn

Đêm buông xuống dòng sông Đuống

– Con là ai? Con ở đâu về

Hé một cánh liếp

– Con vào đây bốn phía tường che

Lửa đèn leo lét soi tình mẹ

Khuôn mặt bừng lên như dựng trăng

Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể

Những chuyện muôn đời không nói năng

Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống

Bộ đội bên sông đã trở về

Con bắt đầu xuất kích

Trại giặc bắt đầu run trong sương

Dao loé giữa chợ

Gậy lùa cuối thôn

Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn

Ăn không ngon Ngủ không yên Đứng không vững Chúng mày phát điên Quay cuồng như xéo trên đống lửa

Mà cánh đồng ta còn chan chứa Bao nhiêu nắng đẹp mùa Xuân Gió đưa tiếng hát về gần Thợ cấy đánh giặc dân quân cày bừa Tiếng bà ru cháu buổi trưa

Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu: – "à ơi! Cha con chết trận từ lâu

Con càng khôn lớn, càng sâu mối thù" Tiếng em cắt cỏ hôm xưa

Căm căm gió rét mịt mù mưa bay – "Thân ta hoen ố vì mày

Hờn ta cùng với đất này dài lâu "

Em ơi? Đừng hát nữa! Lòng anh đau

Mẹ ơi đừng khóc nữa! Dạ con sầu Cánh đồng im phăng phắc

Trang 16

Để con đi giết giặc

Lấy máu nó rửa thù này

Lấy súng nó cầm chắc tay

Mỗi đêm một lần mở hội

Trong lòng con chim múa hoa cười

Vì nắng sắp lên rồi

Chân trời đã tỏ

Sông Đuống cuồn cuộn trôi

Để cuốn phăng ra bể

Bao nhiêu đồn giặc tơi bời

Bao nhiêu nước mắt

Bao nhiêu mồ hôi

Bao nhiêu bóng tối

Bao nhiêu nỗi đời

Bao giờ về bên kia sông Đuống

Anh lại tìm em

Em mặc yếm thắm

Em thắt lụa hồng

Em đi trẩy hội non sông

Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh

Việt Bắc 4-1948

Huy cận

(1919 - 2005) Quê: Hà Tĩnh

Tác phẩm thơ đã in: lửa thiêng vũ trụ ca

Đất nở hoa Bài thơ cuộc đời Những năm sáu mươi cô gái mèo Chiến trường gần chiến trường xa Những người mẹ những người vợ Ngày hằng sống ngày hằng thơ Ngôi nhà giữa nắng hạt lại gieo

Trang 17

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

nông quốc chấn

Dân tộc Tày (1923 – 2003) Quê: Bắc Cạn Hiện sống và viết tại: Hà Nội

Tác phẩm thơ đã in: tiếng ca người việt bắc

đèo gió Bước chân pác pó

quên rằm tháng Bảy Chạy hết núi lại khe cay đắng đủ mùi

Nhớ một hôm mù mịt mưa rơi Cơn gió bão trên rừng cây đổ Cơn sấm sét lán sụp xuống nát cửa Đường đi lại vắt bám đầy chân

Trang 18

Súng nổ kìa! Giặc Tây lại đến lùng

Từng cái lán nó đốt đi trơ trụi

Nó vơ vét áo quần trong túi

Mẹ địu em chạy tót lên rừng

Lẩn đi trước, mẹ vẫy gọi con sau lưng

Tay dắt bà, vai đeo đẫy nải

Bà lòa mắt không biết lối bước đi

Làm sao bây giờ: Ta phải chống

Giặc đã bắt cha con đi, nó đánh

Cha chửi Việt gian, cha đánh lại Tây

Súng nổ ngay đì đùng một loạt

Cha ngã xuống nằm lăn trên mặt đất

Cha ơi! Cha không biết nói rồi

Chúng con còn thơ, ai nuôi, ai dậy

Không ai chống gậy khi bà cụ qua đời!

Mẹ ngồi khóc con cúi đầu cũng khóc

Sợ Tây nghe mẹ dỗ "nín", con im

Lán anh em rải rác không biết nơi tìm

Không ván, không người đưa cha đi cất

Mẹ tháo khăn phủ mặt cho chồng Con cởi áo liệm thân cho bố!

Mẹ con đưa cha đi nằm một chỗ Máu đầy tay, trên mặt nước tràn Mày sẽ chết! Thằng giặc Pháp hung tàn Băm xương thịt mày tao mới hả!

Hôm nay Cao-Bắc-Lạng cười vang Dọn lán, rời rừng, người xuống làng Người nói cỏ lay trong ruộng rậm Con cày, mẹ phát ruộng ta quang Đường cái kêu vang tiếng ô tô Trong trường ríu rít tiếng cười con trẻ

Mờ mờ khói bếp bay trên mái nhà lá Mặc gà gáy, chó sủa không lo Ngày hai bữa rau ta có muối Ngày hai buổi không tìm củ pấu, củ nâu

Có bắp say độn gạo no lâu Đường ngõ từ nay không cỏ rậm

Trang 19

Trong vườn chuối hổ không dám đến đẻ con

Quả trên cành không lo tự chín, tự rụng

Ruộng không thành nơi máu chảy từng vũng

Bộ đội đỡ phải đi thung lũng núi rừng

Ra đường xe hát, nói ung dung

Từng đoàn người dắt lá cây tiến bước

Súng bên vai, bao gạo buộc bên vai

Chân đi có giầy không sợ nẻ

Trên đầu có mũ che nắng mưa

Mặt trời lên sáng rõ rồi mẹ ạ

Con đi bộ đội, mẹ ở lại nhà

Giặc Pháp, giặc Mỹ còn giết người,

cướp của trên đất nước ta Đuổi hết nó đi, con sẽ về trông mẹ

Có cái gì là lạ không thể quên Như nỗi nhớ không biết tên mà gọi Như nỗi đau không thể làm dịu vợi Như ngôi nhà vẫn mãi mãi đi tìm

Như bầu trời nửa xám nửa không quen Mảnh đất vỡ bồi máu xương ta đó Đỉnh Yên Tử hoa đại còn vết đỏ Những người xưa vì nước xả thân mình

Trang 20

Con đường quê vẫn mãi mãi gập ghềnh

Bao năm tháng những người làng chịu đói

Năm ất Dậu tất cả làng tụ lại

Ăn cháo hoa suốt cả mấy tháng trời

Bát cháo hoa mà ngọt cả một đời

Quý hơn cả bao ngọc vàng cộng lại

Xa ngàn dặm để mà còn nhớ mãi

Vết thương đau chưa chôn đủ tháng ngày

Để về đây nhận lại mặt người

Để mình biết mình vẫn là mình cũ

Bao đổi thay thăng trầm bong lớp vỏ

Nhìn quê hương để lại nhận ra mình

Vũ hoàng chương

(1916 – 1976) Quê: Nam Định

Tác phẩm thơ đã in: thơ say Mây Thơ lửa

tâm sự kẻ sang tần Rừng phong

Hoa đăng tâm tình người đẹp

Trời một phương lửa từ bi ánh sáng đạo lý Bút nở hoa đàm cành mai trắng mộng Ta đợi em từ ba mươi năm

say đi em

Khúc nhạc hồng êm ái Điệu kèn biếc quay cuồng Mặt trời phấn hương Đôi người gió sương Đầu xanh lận đận, cùng xót thương,

càng nhớ thương Hoa xưa tươi, trăng xưa ngọt, gối xưa kề,

tình nay sao héo Hồn ngã lâu rồi nhưng chân còn dẻo

Lòng chót nghiêng mà bước vẫn du hương Lòng nghiêng tràn hết yêu đương

Bước chân còn nhịp nghê thường lẳng lơ

Trang 21

Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân

Lui đôi vai, tiến đôi chân

Riết đôi tay, ngả đôi thân

Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió

Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ

Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta!

Cổ chưa khô, đầu chưa nặng, mắt chưa hoa

Tay mềm mại, bước còn chưa chếnh choáng

Chưa cuối xứ Mê Ly, chưa cùng trời Phóng Đãng

Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men

Say đi em! Say đi em Say cho lơi lả ánh đèn Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt Rượu, rượu nữa và quên, quên hết!

Ta quá say rồi Sắc ngã màu trôi Gian phòng không đứng vững

Có ai ghì hư ảnh sát kề môi?

Chân rã rời Quay cuồng chi được nữa Gối mỏi gần rơi

Trong men cháy giác quan vừa bén lửa Say con còn biết chi đời

Như em ơi, Đất trời nghiêng ngửa

Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ; Đất trời nghiêng ngửa

Thành Sầu không sụp đổ em ơi

Trang 22

Hoàng trần cương

Sinh: 1948 Quê: Nghệ An

Hiện sống và viết tại: Hà Nội

Tác phẩm thơ đã in: đường chân trời Dấu vết

tháng ngày trầm tĩnh (Tc)

Miền trung

Bao giờ em về thăm

Mảnh đất quê anh một thời ngún lửa

Miền Trung mỏng và sắc như cật nứa

Chuốt ruột mình thành dải lụa sông Lam

Miền Trung

Tấm lưng trần đen sạm

Những đốt sống Trường Sơn lởm chởm giăng màn

Thoáng bóng giặc núi lửa thành bàng súng

Những đứa con văng như mảnh đạn

Thương mẹ một mình trời sinh đá mồ côi

Miền Trung

Đã bao đời núi với bể kề đôi Ôi! Bể Đông – giọt nước mắt của muôn ngàn

thế hệ Nóng hổi như vừa lăn xuống

Theo những tảng đá cụt đầu

của Trường Sơn uy nghiêm

Miền Trung Câu ví dặm nằm nghiêng Trên nắng và dưới cát Đến câu hát cũng hai lần sàng lại Sao lọt tai rồi vẫn day dứt quanh năm

Trang 23

Miền Trung

Bao giờ em về thăm

Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt

Lúa con gái mà gầy còm úa đỏ

Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ

Không ai gieo mọc trắng mặt người

Tác phẩm thơ đã in: thôn ca Thôn ca II

Dọc đường xuân đường về quê mẹ Tuyển tập đoàn văn cừ

đường về quê mẹ

u tôi ngày ấy mỗi mùa Xuân Dặm liễu mây bay sắc trắng ngần Lại dẫn chúng tôi về nhận họ Bên miền quê ngoại của hai thân

Tôi nhớ đi qua những rặng đề Những dòng sông trắng lượn ven đê Cồn xanh bãi tía kề liền tiếp

Người xới cà ngô rộn bốn bề Thúng cắp bên hông nón đội đầu Khuyên vàng yếm thắm, áo the nâu

Trang 24

Trông u chẳng khác thời con gái

Mắt sáng, môi hồng, má đỏ au

Chiều mát, đường xa nắng nhạt vàng

Đoàn người về ấp gánh khoai lang

Trời xanh cò trắng bay từng lớp

Xóm chợ lều phơi xác lá bàng

Tà áo nâu in giữa cánh đồng

Gió chiều cuốn bụi bốc sau lưng

Bóng u hay bóng người thôn nữ

Cúi nón mang đi cặp má hồng

Tới đường làng gặp những người quen

Ai cũng khen u nết thảo hiền

Dẫu phải theo chồng thân phận gái

Đường về quê mẹ vẫn không quên

1942

Lâm thị mỹ dạ

Sinh: 1949 Quê: Quảng Bình Hiện sống và viết tại: Thừa Thiên Huế

Tác phẩm thơ đã in: trái tim sinh nở

Bài thơ không năm tháng hái tuổi em đầy tay Mẹ và con

đề tặng một giấc mơ

Anh đừng khen em

Lần đầu khi mới làm quen Anh khen cái nhìn em đẹp Trời mưa òa cơn nắng đến Anh khen đôi má em hồng Gặp người tàn tật em khóc Anh khen em nhạy cảm thông Thấy em sợ sét né giông Anh khen sao mà hiền thế Thấy em nâng niu con trẻ Anh khen em thật dịu dàng Khi hôn lên câu thơ hay

ấp trang sách vào mái ngực

Trang 25

Em nghe tim mình thổn thức

Thương người làm thơ đã mất

Trái tim giờ ở nơi đâu

Khi đọc một cuộc đời buồn

Lòng em xót xa ấm ức

Anh khen em cảm xúc

Và bao điều nữa anh khen

Em sợ lời khen của anh

Như sợ đêm về trời tối

Nhiều khi ngồi buồn một mình

Trách anh sao mà nông nổi

Hãy chỉ cho em cái kém

Để em nên người tốt lành

Hãy chỉ nơi anh cái xấu

Để em chăm chút đời anh

Anh ơi anh có biết không

Vì anh em buồn biết mấy

Tình yêu khắt khe thế đấy

Anh ơi anh đừng khen em

Xuân diệu

(1916 – 1985) Quê: Hà Tĩnh

Tác phẩm thơ đã in: thơ thơ Gửi hương cho gió

Ngọn quốc kỳ Hội nghị non sông mẹ con Ngôi sao Riêng chung Mũi cà mau với cầm tay Một khối hồng Hai đợt sóng Tôi giàu đôi mắt Hồn tôi đôi cánh Thanh ca Tuyển tập xuân diệu

Nguyệt cầm

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần Đàn buồn, đàn lạnh, ôi đàn chậm! Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân

Trang 26

Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh,

Lung linh bóng sáng bỗng rung mình

Vì nghe nương tử trong câu hát

Đã chết đêm rằm theo nước xanh

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời

Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi

Long lanh tiếng sỏi vang vang hận

Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê

Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề

Sương bạc làm thinh, khuya nín thở

Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê

Phạm tiến duật

Sinh: 1941 Quê: Phú Thọ Hiện sống và viết tại: Hà Nội

Tác phẩm thơ đã in: vầng trăng quầng lửa

Thơ một chặng đường ở hai đầu núi Tiếng bom và tiếng chuông

Cô bộ đội ấy đã đi rồi

Cô bộ đội ấy đã đi rồi Chuyển đơn vị vào vùng rừng trong ấy

Em gái đi, các anh ở lại Biết đến bao giờ mới được gặp nhau

Tháng năm dài cùng nhau đi qua

Trang 27

Để sáu bảy năm em gái xa nhà

Hăm bảy tuổi chuyện chồng con chưa nói

Cả một thời trẻ trung sôi nổi

ở bên nhau bếp lửa giữa rừng xa

Nhớ nhau, nhớ nhau ở giữa rừng già

Ngón tay nóng cầm viên thuốc mát

Cái đêm đói ngồi nghe chim đắp tát

Con chó vàng cọ chân em đòi ăn

Nhớ nhau, nhớ nhau những buổi mưa dầm

Căn nhà dột tóc em ướt hết

Anh ngồi nghĩ gì em chẳng biết

Cứ hát tràn những câu hát bâng quơ

Nhớ trưa đỉnh đèo ta đứng ngẩn ngơ

Nhìn mây trắng chân trời ngỡ biển

Biển Đông thì xa, biết ta nhìn chẳng đến

Nhưng em vui anh kể chuyện em nghe

Trưa vác gạo ta dừng bên khe Một đoàn tù binh đi qua đang đứng ngó Bên những thằng người áo quần loang lổ Bóng em lồng bóng suối trong veo Lúc ấy lòng anh biết mấy tự hào

Tự hào vì có em ở đây, tự hào vì đất nước

ở đây màu hồng xiết bao thân thuộc Xao xuyến lòng anh, xao xuyến bạn bè

Đến chào anh sáng mai em đi Như ngày nào chào bà con hàng xóm

Sự xa cách nhỏ trong sự xa cách lớn Một cuộc chia tay trong triệu cuộc chia tay

Rồi ngày mai xa vắng nơi đây

Em lại có bao nhiêu đồng đội mới Trong chiến tranh một khát khao sôi nổi

Là nhân dân đoàn tụ muôn đời

Cô bộ đội ấy đã đi rồi

Trang 28

Quang dũng

(1921 - 1988) Quê: Sơn Tây

Tác phẩm thơ đã in: bài thơ sông Hồng Mây đầu ô

Thơ văn quang dũng

tây tiến

sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ, bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa Xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi

Phù Lưu Chanh 1949

Trang 29

khương hữu dụng

(1907 – 2005) Quê: Quảng Nam

Tác phẩm thơ đã in: kinh nhật tụng

của người chiến sĩ Từ đêm 19

Những tiếng thân yêu quả nhỏ Bi bô

Lên côn sơn

Lên đỉnh Côn Sơn tìm Nguyễn Trãi

Trên đầu xanh ngắt một bầu không

Tác phẩm thơ đã in: cát trắng ánh trăng Bụi

mẹ và em đường xa Quà tặng Về

đò lèn

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá Níu váy bà đi chợ Bình Lâm Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

Và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị Chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng Mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm Điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế

Bà mò cua xúc tép ở Đồng Quan

Trang 30

Bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Dao thập thững những đêm hàn

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực

Giữa bà tôi và tiên, phật, thánh, thần

Cái năm đói củ rong riềng luộc sượng

Cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm

Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất

Đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

Tôi đi lính lâu không về quê ngoại

Dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi

Khi tôi biết thương bà thì đã muộn

Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi

Hồ dzếnh

(1916 – 1991) Quê: Trung Quốc (sinh tại Thanh Hóa)

Tác phẩm thơ đã in: quê ngoại hoa xuân đất việt

Chiều

Trên đường về nhớ đầy Chiều chậm đưa chân ngây Tiếng buồn vang trong mây Chim rừng quên cất cánh Gió say tình ngây ngây

Có phải sầu vạn cổ Chất trong hồn chiều nay?

Tôi là người lữ khách Màu chiều khó làm khuây Ngỡ lòng mình là rừng Ngỡ hồn mình là mây Nhớ nhà châm điếu thuốc Khói huyền bay lên cây

Trang 31

Tản đà

(1889 – 1939) Quê: Hà Tây

Tác phẩm thơ đã in: Khối tình con i, ii, iii

tản đà vận văn i, ii Thơ tản đà

Thăm mả cũ bên đường

Chơi lâu nhớ quê về thăm nhà

Đường xa, người vắng, bóng chiều tà

Một dãy lau cao làn gió chạy

Mấy cây thưa lá sắc vàng pha

Ngoài xa trơ một đống đất đỏ

Hang hốc đùn lên đám cỏ gà

Người nằm dưới mả, ai ai đó?

Biết có quê đây hay vùng xa?

Hay là thuở trước kẻ cung đao?

Hám đạn liều tên quyết mũi dao

Cửa nhà xa cách vợ con khuất

Da ngựa gói bỏ lâu ngày cao

Hay là thuở trước kẻ văn chương? Chen hội công danh nhỡ lạc đường Tài cao phận thấp chí khí uất Giang hồ mê chơi, quên quê hương

Hay là thuở trước khách hồng nhan? Sắc sảo khôn ngoan trời đất ghen Phong trần xui gặp bước lưu lạc Đầu xanh theo một chuyến xuân tàn

Hay là thuở trước khách phong lưu?

Vợ con đàn hạc đề huề theo Quan san xa lạ đường lối khó,

Ma thiêng nước độc phong sương nhiều

Trang 32

Hay là thuở trước bậc tài danh?

Đôi đôi lứa lứa cũng linh tinh

Giận duyên tủi phận hờn ân ái

Đất khách nhờ chôn một khối tình!

Suối vàng sâu thẳm biết là ai

Mả cũ không ai kẻ đoái hoài

Trải bao ngày tháng trơ trơ đó

Mưa dầu, nắng dãi, trăng mờ soi!

ấy thực quê hương con người ta

Dặn bảo trên đường những khách qua

Con gái cũng đòi theo nghề võ Ngày nhỏ

cha tôi dẫn đầu

lũ trẻ chăn trâu Phất ngọn cờ lau

Vào rừng Na Lương đánh trận

Mơ làm Đề Thám

Trang 33

Lớn lên,

Cha tôi đi dạy học

Gối đầu lên cuốn Chiêu hồn nước

Khóc Phan Chu Trinh

Như khóc người nhà mình

Ôm mộng bôn ba hải ngoại

Lênh đênh khói một con tàu

Sớm tối

ngâm nga mấy vần cảm khái

Đánh nhau với Tây

Bỏ việc

lang thang

vào Nam

ra Bắc Cắt tóc đi tu

nhưng quá nặng nghiệp đời

Gần hai mươi năm trời

Tôi vẫn nhớ lời cha tôi cháy bỏng

Dạy tôi

làm thơ

ước mơ

hy vọng Những câu Kiều say sưa

đưa cuộc đời bay bổng

Tiếng võng

trưa hè mênh mông

"Phong trần mài một lưỡi gươm Những phường giá áo túi cơm sá gì"

Nhưng công việc làm ăn mỗi ngày một khó Cuộc đời chợ đen chợ đỏ

Thù hằn con người

"Muốn sống thanh cao

đi lên trời

mà ở Mày đã quyết kiêu căng

Níu lấy cái lương tâm gàn dở Dám

không tồi

như chúng tao Suốt đời mày sẽ khổ"

Quan lại trù cha tôi

cứng đầu cứng cổ Người "An-nam" dám đánh "ông Tây"

Mẹ ỉ eo dằn vặt suốt ngày

Trang 34

Chửi mèo, mắng chó:

"Cũng là chồng là con

Chồng người ta khôn ngoan

Được lòng ông tuần ông phủ

Mang tiền về nuôi vợ"

Bát đĩa xô nhau vỡ

Cha tôi nằm thở dài

Anh em tôi, bỏ cơm

Hai đứa dắt nhau ra đường tha thẩn

Trời mùa Thu trăng sáng

Sao nở như hoa

Không biết Ngưu Lang trên kia

Có bao giờ cãi nhau cùng Chức Nữ

Rồi cha tôi

lui tới nhà quan tuần, quan phủ Lúc về

gặp tôi

đỏ mặt

quay đi

Một hôm

tôi thấy chữ R.O (*)

treo ngoài cửa Cha tôi không dạy tôi làm thơ nữa Người còn bận đếm tiền

ghi sổ Thỉnh thoảng nhớ những ngày oanh liệt cũ Một mình uống rượu say

Ngâm mấy câu Kiều,

ôm mặt khóc Tỉnh dậy

lại loay hoay

ghi sổ

đếm tiền Hai vai lún xuống

Như không mang nổi cuộc đời Bóng in tường vôi

im lặng Ngọn đèn lắt leo ánh sáng Bóng với người

như nhau

_

(*) Régied o pium: Cửa hàng đ ược phép Tây cho bán thuố c phiệ n.

Trang 35

Mùi ẩm mốc, tiếng mọt kêu cọt kẹt

Những mơ ước thời xưa

như con chim gẫy cánh

Nguyễn khoa điềm

Sinh: 1943 Quê: Thừa Thiên Huế Hiện sống và viết tại: Hà Nội

Tác phẩm thơ đã in: Đất ngoại ô Mặt đường

khát vọng (Tc) Ngôi nhà có ngọn lửa ấm

Thơ Nguyễn khoa điềm

mẹ và quả

những mùa quả mẹ tôi hái được

Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc Như mặt trời, khi như mặt trăng

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn

Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi

Và chúng tôi, một thứ quả trên đời Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi Mình vẫn còn một thứ quả non xanh?

1982

Trang 36

cầm giang

(1931 - 1989) Quê: Thanh Hoá

Tác phẩm thơ đã in: gió núi biên phòng

Rừng trắng hoa ban Người bản

Sông nhiều rêu, nhiều cá

Núi nhiều thú, nhiều măng

Chiều bóng anh che sông

Sớm mắt em lóng lánh

Sáo cành cây anh thổi vang lanh lảnh

Gió lùa qua miệng anh lại mỉm cười

Rộn lòng em thuyền độc mộc ngược xuôi

Như trăm nỗi băn khoăn khi đến tuổi

Nếu trời làm em sóng nổi

Anh ngả mình ngăn lại lúc phong ba

Em là búp bông trắng

Anh là ngọn lúa vàng

_

(*) Núi Mường Hung là núi lớn nhấ t ở Sơn La, Lai Châu.

Thi nhau lớn đẹp nương Toả mùi thơm cùng nghe chim hót

Em cứ về nhà trước Đợi anh ở bên sông Anh làm no lòng mường

Em làm vui ấm bản Nếu con gấu giẫm gãy cành bông trắng

Lá lúa anh sẽ cứa đứt chân Nếu lúa này chuột, khỉ dám đến ăn Sợi bông em sẽ bay mù mắt nó Anh là rừng thẳm

Em là suối sâu Cây rừng anh làm cầu Bắc ngang lên dòng suối Hoa sim nở đỏ chói Soi bóng xuống lòng em Nếu hùm về, suối em thành thác Nếu sói về, rừng anh sẽ thành chông Quyết chẳng chịu đau lòng

Đời chúng ta rừng núi Suối em phá tan bóng tối Rừng anh chặn lại bão giông

Để anh lớn mãi thành núi Mường Hung

Em ngoan chảy thành dòng sông Mã

2-1953

Trang 37

bùi giáng

(1926 – 2001) Quê: Quảng Nam

Tác phẩm thơ đã in: mưa nguồn Ngàn thu rơi hột

Lá hoa cồn Màu hoa trên ngàn

Mắt buồn

Dặm khuya ngất tạnh mù khơi

Nguyễn Du

Bóng mây trời cũ hao mòn

Chiêm bao náo động riêng còn hai tay

Tấm thân với mảnh hình hài

Tấm thân thể với canh dài bão giông

Cá khe nước cõng lên đồng

Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một Giêng

Tạ từ tháng Chạp quay nghiêng

ấn trang sử lịch thu triền miên trôi

Bỏ trăng gió lại cho đời

Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa

Bỏ người yêu, bỏ bóng ma

Bỏ hình hài của tiên nga trên trời

Bây giờ riêng đối diện tôi

Còn hai con mắt khóc người một con

t.t.kh

Cho đến nay vẫn không rõ nhân thân tác giả

Hai sắc hoa "ti gôn"

Một mùa Thu trước mỗi hoàng hôn Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc Tôi chờ người đến với yêu đương Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng Dải đường xa vút bóng chiều phong

Và phương trời thẳm mờ sương cát Tay vít dây hoa trắng cạnh lòng

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi Thở dài trong lúc thấy tôi vui Bảo rằng: "Hoa dáng như tim vỡ Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi"

Trang 38

Thuở ấy nào tôi đã hiểu gì

Cánh hoa tan tác của sinh ly

Cho nên cười đáp: "Màu hoa trắng

Là chút lòng trong chẳng biết suy"

Đâu biết lần đi một lỡ làng

Dưới trời gian khổ chết yêu đương

Người xa xăm quá, tôi buồn lắm

Trong một ngày vui pháo nhuộm đường

Từ đấy thu rồi thu lại thu

Lòng tôi còn giá đến bao giờ

Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ

Người ấy cho nên vẫn hững hờ

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

ái ân lạt lẽo của chồng tôi

Mà từng thu chết, từng thu chết

Vẫn giấu trong tim bóng một người

Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ

Và đỏ như màu máu thắm pha

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi Một mùa Thu trước rất xa xôi Đến nay tôi hiểu thì tôi đã Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ Chiều thu hoa đỏ rụng chiều thu Gió về lạnh lẽo chân mây vắng Người ấy ngang sông đứng ngóng đò

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng Trời ơi! Người ấy có buồn không?

Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?

1937

Trang 39

trần mạnh hảo

Sinh: 1949 Quê: Nam Định

Hiện sống và viết tại Tp Hồ Chí Minh

Tác phẩm thơ đã in: mặt trời trong lòng đất Ba

cặp núi và một hòn núi lẻ Mình anh trong một thế giới đất nước hình tia chớp Thơ tứ tuyệt trần mạnh hảo giáng tiên.

Nguyễn Trãi, trước giờ tru di

Trên đường pháp trường con dâu ta trở dạ

Tiếng cháu thét chào đời

như tiếng nghìn chim lợn báo tang Đội ơn vua ban tã lót

Để cháu khỏi bị chém trần truồng trên thớt

Ôi con đường ba họ ta đến nơi thọ hình

Sao dài hơn đường mười năm Lam Sơn

phò Thái Tổ Ông Cao Xanh bỏ kinh thành về rừng xưa ở

Nơi vua lấy đất làm ngai, tình huynh đệ

làm long bào Nơi ta mót dần xã tắc cho vua như mót lúa

Chừng như ta đã đi con đường này từ ải Bắc Tiễn cha già hay đưa tiễn đời ta?

Đêm mưa đá, mưa tròng ngươi,

mưa xuống nghìn con mắt

Ôi xã tắc Con đường nào cũng dẫn đến pháp trường Bàn tay chỉ đường nào cũng bàn tay đao phủ Thân tùng bách há phải thân mồng tơi Mây trắng xưa ơi

Sao giờ toàn những đám mây mưng mủ

Ta thương xã tắc không mất về tay giặc Lại mất về tay bọn nịnh thần

Triều đình ai cũng là Lê Sát Mắt thiên tử như Nam Hải đố ai lấp đầy giai nhân Luân thường đem gác gác bếp

Chỉ ba ông đầu rau nhìn thấy dân

Ôi Hàn Tín, Phạm Tăng, Phàn Khoái Gió trung thần đang hú gọi hồn đi Dưới vòm trời Lã Hậu

Mưa tru di đỏ rực gió lăng trì

Lẽ nào gươm Hán Cao Tổ cùn đến vậy?

Thị Lộ ơi, dưới lòng sông

hẳn nàng nóng ruột đợi ta Rắn quyền lực muôn đời còn phục đấy

Trang 40

Đôi ta bị trói chặt vào nhau

bằng dây trói mãng xà Vẫn biết vân cẩu bày trò sinh diệt chơi

Lịch sử cợt đùa sai đúng

Sao cứ quặn lòng nhìn đám trẻ lôi thôi

Đội ơn vua không trói chúng

Tội chết chém còn được vua ban đao phủ cõng

Giá chỉ mình ta chui qua lỗ nẻ

giữa đất dày trời cao

ừ, mây mù vừa làm cỏ sạch trăng sao

Chợt gió dữ tru di mây trời từng đám

Mặt trời văng ra như đầu thánh hiền bị trảm

Sao phép nước dùng dao chém đại thần

Để chém trẻ sơ sinh?

Mai sau lấy gì chém sông núi?

Đầu người đang rụng quanh ta

Máu là nước lũ Hồng Hà dời non

Hồn ta là đứa trẻ con

Đi vào cõi chết vẫn còn ngu ngơ

Nỗi oan không chết bao giờ

Tác phẩm thơ đã in: hoa niên lòng miền Nam

Gửi miền Bắc Tiếng sóng Bài thơ tháng bảy Hai nửa yêu thương khúc ca mới đi suốt bài ca

Câu chuyện quê hương theo nhịp tháng ngày Con đường và dòng sông bài ca sự sống Vườn xưa Em chờ anh

Bài thơ tình ở hàng châu

Anh xa nước nên yêu thêm nước Anh xa em càng nhớ thêm em Trăng Tây Hồ vời vợi thâu đêm Trời Hàng Châu bốn bề êm ái Mùa Thu đã đi qua còn gửi lại Một ít vàng trong nắng trong cây Một ít buồn trong gió trong mây Một ít vui trên môi người thiếu nữ

Ngày đăng: 21/10/2014, 19:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w