1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

100 bài thơ hay nhất VN thế kỷ 20 và tiểu sử tác giả- Phần 1

52 2,2K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề 100 bài thơ hay nhất Việt Nam thế kỷ 20
Tác giả Hồ Chí Minh, Phùng Khắc Bắc, Nguyễn Bính, Thu Bồn, Đồng Đức Bốn, Phạm Ngọc Cảnh, Văn Cao, Vũ Cao, Hoàng Cầm, Huy Cận, Nông Quốc Chấn, Nguyễn Bá Chung, Vũ Hoàng Chương, Hoàng Trần Cương, Đoàn Văn Cừ, Lâm Thị Mỹ Dạ, Xuân Diệu, Phạm Tiến Duật, Quang Dũng, Khương Hữu Dụng, Nguyễn Duy, Hồ Dzếnh, Tản Đà, Lê Đạt, Nguyễn Khoa Điềm, Cầm Giang, Bùi Giáng, T.T.KH, Sóng Hồng, Tế Hanh, Ca Lê Hiến, Hoàn, Thi Hoàng, Nguyên Hồng, Minh Huệ, Quang Huy, Đinh Hùng, Hoàng Hưng, Chính Hữu, Tố Hữu, Thôi Hữu, Trang Thế Hy, Á Nam Trần Tuấn Khải, Bích Khê, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Khuyến, Yến Lan, Văn Lê, Vũ Đình Liên, Hữu Loan, Hoàng Lộc, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Nguyễn Đức Mậu, Lê Thị Mây, Trần Nhuận Minh, Vũ Đình Minh, Tú Mỡ, Nguyễn Mỹ, Giang Nam, Anh Ngọc, Hồng Nguyên, Phan Thị Thanh Nhàn, Ý Nhi, Trần Mai Ninh, Nguyễn Ngọc Oánh, Ngô Văn Phú, Việt Phương, Vũ Quần Phương, Y Phương, Phùng Quán, Bùi Minh Quốc, Xuân Quỳnh, Nguyên Sa, Trần Vàng Sao
Người hướng dẫn Lê Lựu, Giám Đốc Trung Tâm Văn Hóa Doanh Nhân
Trường học Nhà Xuất Bản Giáo Dục
Thể loại sách
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 623,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

100 BÀI THƠ HAY NHẤT VIỆT NAM THẾ KỶ XXĐược phát động từ đầu năm 2005, cuộc thi Chọn những bài thơ Việt Namhay nhất thế kỷ 20 do Trung tâm văn hóa doanh nhân và Nhà xuất bảnGiáo Dục phối

Trang 1

100 BÀI THƠ HAY NHẤT VIỆT NAM THẾ KỶ XX

Được phát động từ đầu năm 2005, cuộc thi Chọn những bài thơ Việt Namhay nhất thế kỷ 20 do Trung tâm văn hóa doanh nhân và Nhà xuất bảnGiáo Dục phối hợp tổ chức đã lựa ra được 100 thi phẩm xuất sắc và công

bố trong Đêm Nguyên tiêu của Ngày thơ Việt Nam lần thứ 5

100 bài thơ, chia đều cho 100 tác giả, không một ai được vinh dự góp mặtvới hơn một sáng tác Hiện tượng này khiến không ít độc giả ngậm ngùi

tiếc nuối khi Xuân Diệu có Nguyệt cầm nhưng không có Đây mùa thu tới hay Vội vàng Hoàng Cầm có Bên kia sông Đuống nhưng không có

Lá diêu bông Nguyễn Duy có Đò lèn nhưng lại vắng Tre Việt Nam hay Hơi ấm ổ rơm

Ngoài ra sự vắng mặt của nhiều bài thơ nổi tiếng trong danh sách nàykhông khỏi khiến người yêu thơ phải nuối tiếc

Phong trào Thơ Mới góp mặt trong danh sách với số lượng tác giả, tácphẩm lớn nhất Tiếp đó là những sáng tác có ảnh hưởng sâu nặng đến suynghĩ và hành động của bao thế hệ độc giả qua hai cuộc kháng chiếnchống Mỹ và chống Pháp

Nhà văn Lê Lựu, Giám đốc Trung tâm Văn hóa Doanh nhân, cho biết:

"Chúng tôi nhận được rất nhiều bài viết công phu, thể hiện tình yêu vàthái độ trân trọng với thơ ca Có những độc giả viết đến hàng chục trangbình chọn và đưa ra nhiều lý lẽ bảo vệ cho sự lựa chọn của mình"

100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ 20 đã được Nhà xuất bản GiáoDục in thành sách và phát hành rộng rãi

Danh sách 100 bài thơ hay nhất

Ngoài Nguyên Tiêu, 99 bài còn lại được sắp xếp theo tên tác giả dựa vào

bảng chữ cái

1) Nguyên Tiêu - Hồ Chí Minh.

2) Ngày Hòa bình đầu tiên - Phùng Khắc Bắc.

3) Những bóng người trên sân ga - Nguyễn Bính.

4) Tạm biệt Huế - Thu Bồn.

5) Vào chùa - Đồng Đức Bốn.

Trang 2

6) Sư đoàn - Phạm Ngọc Cảnh.

7) Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc - Văn Cao.

8) Núi Đôi - Vũ Cao.

9) Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm.

10) Tràng Giang - Huy Cận.

11) Dọn về làng - Nông Quốc Chấn.

12) Quê hương - Nguyễn Bá Chung.

13) Say đi em - Vũ Hoàng Chương.

14) Miền Trung - Hoàng Trần Cương.

15) Đường về quê mẹ - Đoàn Văn Cừ.

16) Anh đừng khen em - Lâm Thị Mỹ Dạ.

17) Nguyệt cầm - Xuân Diệu.

18) Cô bộ đội ấy đã đi rồi - Phạm Tiến Duật.

19) Tây tiến - Quang Dũng.

20) Lên Côn Sơn - Khương Hữu Dụng.

21) Đò lèn - Nguyễn Duy.

22) Chiều - Hồ Dzếnh.

23) Thăm mả cũ bên đường - Tản Đà.

24) Cha tôi - Lê Đạt.

25) Mẹ và quả - Nguyễn Khoa Điềm.

26) Núi mường Hung dòng sông Mã - Cầm Giang.

27) Mắt buồn - Bùi Giáng.

28) Hai sắc hoa tigôn - T.T.KH.

Trang 3

29) Đọc thơ Ức Trai - Sóng Hồng.

30) Bài thơ tình ở Hàng Châu - Tế Hanh.

31) Trở về quê nội - Ca Lê Hiến.

32) Đêm mưa - Hoàn.

33) Những đứa trẻ chơi trước cửa đền - Thi Hoàng.

34) Cửu Long giang ta ơi - Nguyên Hồng.

35) Đêm nay Bác không ngủ - Minh Huệ.

36) Nỗi niềm Thị Nở - Quang Huy.

37) Đường khuya trở bước - Đinh Hùng.

38) Người về - Hoàng Hưng.

39) Đồng chí - Chính Hữu.

40) Khi con tu hú - Tố Hữu.

41) Lên Cấm sơn - Thôi Hữu.

42) Lời nói dối nhân ái - Trang Thế Hy.

43) Gánh nước đêm - Á Nam Trần Tuấn Khải.

44) Tỳ bà - Bích Khê.

45) Gửi bác Trần Nhuận Minh - Trần Đăng Khoa.

46) Thu điếu - Nguyễn Khuyến.

47) Bến Mi Lăng - Yến Lan.

48) Tháp Chàm - Văn Lê.

49) Ông đồ - Vũ Đình Liên.

50) Đèo cả - Hữu Loan.

51) Viếng bạn - Hoàng Lộc.

Trang 4

52) Tiếng thu - Lưu Trọng Lư.

53) Nhớ rừng - Thế Lữ.

54) Một vị tướng về hưu - Nguyễn Đức Mậu.

55) Những mùa trăng mong chờ - Lê Thị Mây.

56) Dặn con - Trần Nhuận Minh.

57) Hội Lim - Vũ Đình Minh.

58) Khóc người vợ hiền - Tú Mỡ.

59) Cuộc chia ly màu đỏ - Nguyễn Mỹ.

60) Quê hương - Giang Nam.

61) Thị Màu - Anh Ngọc.

62) Nhớ - Hồng Nguyên.

63) Trời và đất - Phan Thị Thanh Nhàn

64) Người đàn bà ngồi đan - Ý Nhi.

65) Nhớ máu - Trần Mai Ninh.

66) Mẹ - Nguyễn Ngọc Oánh.

67) Bông và mây - Ngô Văn Phú.

68) Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương - Việt Phương 69) Đợi - Vũ Quần Phương.

Trang 5

75) Bài thơ của một người yêu nước mình - Trần Vàng Sao.

76) Người đẹp - Lò Ngân Sủn.

77) Đồng dao cho người lớn - Nguyễn Trọng Tạo.

78) Tống biệt hành - Thâm Tâm.

79) Dấu chân qua trảng cỏ - Thanh Thảo.

80) Đất nước - Nguyễn Đình Thi.

81) Những người đàn bà gánh nước sông - Nguyễn Quang Thiều.

82) Nghe tiếng cuốc kêu - Hữu Thỉnh.

83) Bao giờ trở lại - Hoàng Trung Thông.

84) Bờ sông vẫn gió - Trúc Thông.

85) Bến đò ngày mưa - Anh Thơ.

86) Thăm lúa - Trần Hữu Thung.

87) Cổ lũy cô thôn - Phạm Thiên Thư.

88) Nói sao cho vợi - Thu Trang.

89) Mưa đêm lều vó - Trần Huyền Trân.

90) Bên mộ cụ Nguyễn Du - Vương Trọng.

91) Nhớ Huế quê tôi - Thanh Tịnh.

92) Màu thời gian - Đoàn Phú Tứ.

93) Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử.

94) Nhớ vợ - Cầm Vĩnh Ui.

95) Em tắm - Bạc Văn Ùi.

96) Một ngày ta ngoái lại - Đinh Thị Thu Vân.

97) Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng - Chế Lan Viên.

Trang 6

98) Bếp lửa - Bằng Việt.

99) Vườn trong phố - Lưu Quang Vũ.

100) Thương vợ - Trần Tế Xương.

PHẦN I: TỪ bài 1 – 5 và tiểu sử các tác giả

1 Nguyên Tiêu - Hồ Chí Minh.

Nguyên Tiêu

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,

Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên.

Yên ba thâm xứ đàm quân sự

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

1948

Dịch nghĩa:

Đêm rằm tháng riêng

Đêm nay, rằm tháng riêng, trăng vừa tròn,

Nước sông xuân tiếp liền với màu trời xanh

Giữa nơi khói sóng thăm thẳm, bàn bạc việc quân,

Nửa đêm trở về, ánh trăng đầy thuyền

1948

Dịch thơ:

Rằm tháng riêng

Rằm xuân lồng lộng trăng soi,

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân,

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

XUÂN THỦY dịch

Trang 7

Tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969)

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình trí thức

yêu nước, nguồn gốc nông dân ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường chống ách thống trị nặng nề củathực dân phong kiến Hoàn cảnh xã hội và giáo dục gia đình đã ảnh hưởn sâu sắc đến Hồ Chủ tịch ngay từthời niên thiếu

Với tinh thần yêu nước nồng nàn, với sự sáng suốt về chính trị, Người đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyênnhân thành bại của các phong trào yêu nước hồi bấy giờ và quyết tâm đi tìm con đường đúng đắn để cứu dân, cứu nước

Tháng 6/1911, Người ra nước ngoài, đi đến nước Pháp và nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ Người hòa mình với những

côngnhân và những người dân thuộc địa, vừa lao động để sống, vừa học tập, nghiên cứu các học thuyết cách mạng Năm 1917, thắng lợi vang dội

của cách mạng tháng Mười Nga đã đưa Hồ Chủ tịch đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Ra sức nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, Người

đã nhận rõ đường lối duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội Cùng năm ấy, Người thành lập Hội những người Việt Nam yêu nước để tập hợp Việt Kiều ở Pháp Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội pháp và hoạt động trong phong trào công nhân Pháp Đầu năm đó, Người gửi đến Hội nghị Véc-xây (Pháp) "Bản yêusách của nhân dân Việt Nam", đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do và bình đẳng của dân tộc Việt Nam

Tháng 12/1920, trong Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp, Người

bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản và tham gia thành lập ĐảngCộng sản Pháp Sự kiện trên đây đánh dấu bước ngoặt trong đời hoạt động cách mạng của Người, bước ngoa chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản

Năm 1921, Người tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa

và năm 1922 xuất bản báo "Người cùng khổ" ở Pháp Tháng 6/1923, Người từ Pháp đi Liên Xô, nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tham gia công tác của Quốc

tế cộng sản Cùng năm đó, Người được bầu vào Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân Năm 1924, người dự Đại hội lần thứ 5 của Quốc tế cộng sản vàđược cử làm Ủy viên Bộ phương Đông, phụ trách Cục phương Nam, hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng và phong trào Cộng sản ở

Trang 8

các nước Đông - Nam châu Á Năm 1925, Người thành lập Hội Liên hiệpcác dân tộc bị áp bức ở Á Đông

Tháng 6/1925, Người tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chíHội, mà hạt nhân là Cộng sản Đoàn, đồng thời ra báo Thanh niên và mở lớp huấn luyện đào tạo hàng trăm cán bộ đưa về nước hoạt động

Ngày 3/2/1930, Người triệu tập hội nghị hợp nhất tại Cửu Long (Hương Cảng) để thống nhất các nhóm cộng sản trong nước thành Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong thời gian từ 1930 đến 1940, Người ở nước ngoài tham gia công tác của Quốc tế Cộng sản, đồng thời theo dõi sát phong trào cách mạng trong nước và có những chị thị quý báu cho Ban chấp hành Trung ương Đảng ta

Năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài Người về nước triệu tâp hội nghị n thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng, quyết định đường lối đánh Pháp, đuổi Nhật, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên là Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), gấp rút xây dựng lực lượng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, chuẩn

bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước

Ngày 22/12/1944, Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay và xây dựng căn cứ địa cách mạng

Tháng 8/1945, trong không khí sôi sục cách mạng của thời kỳ tiền khởi nghĩa, Người cùng Trung ương triệu tập đại hội quốc dân ở Tân Trào Đạihội đã cử Người làm chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dânchủ Cộng hòa Người đã phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Ngày 2/9/1945, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước nhân dân cả nước và nhân dân toàn thế giới thành lập nước Việt Nam dânchủ cộng hòa, Nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á

Trong những ngày đầu cách mạng, nước ta có nhiều khó khăn chồng chất

và bị bao vây bốn phía Nạn đói do phát xít Nhật - Pháp gây ra đã giết hạihơn hai triệu người Việt Nam Tháng 9/1945 câu kết với các đế quốc Mỹ,Anh và bọn phản động Quốc dân Đảng Trung Quốc, thực dân Pháp trở lạixâm lược nước ta một lần nữa, âm mưu xóa bỏ mọi thành quả của Cách mạng tháng Tám

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân ra vừa đánh trả bọn thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam, vừa đối phó với bọn phản động Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc

Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 được ký kết giữa Việt Nam Dân chủ Cộnghòa và Pháp Quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi miền Bắc Việt Nam Quânđội Pháp mở rộng đánh chiếm miền Nam, kéo ra miền Bắc và lấn dần

Trang 9

từng bước ở miền Bắc, âm mưu tieến tới xóa bỏ Nhà nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa Trước tình hình ấy, tháng 12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến và cùng Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài chống thực dân Pháp đến thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ (1954)

Tháng 7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết Miền Bắc Việt Nam được giải phóng Nhưng một nửa nước ở miền Nam bị đế quốc Mỹ biến thành thuộc địa kiểu mới của chúng Người cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: cáchmạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam

Tháng 9/1960, đại hội lần thứ ba của Đảng đã họp, thông qua nghị quyết về hai nhiệm vụ chiến lược và bầu đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng Dưới sự lãnh đạo của Người và của Ban chấp hành Trung ương đảng, nhân dân ta vừa đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc kháng chiếng chống Mỹ, cứu nước để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà và đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội

Ngày 2/9/1969, Người từ trần, hưởng thọ 79 tuổi

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của mộtngười cộng sản vĩ đại, một anh

hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc

tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và

hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân

dân, vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc

lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và

công lý trên thế giới

Cuộc họp lần thứ 24, năm 1987 tổ chức

giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp

quốc UNESCO ra nghị quyết về kỷ niệm

100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

"Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và là một nhà văn hóa lớn" (HỒ CHÍ MINH VIETNAMESE HERO OF NATIONAL LIBERATION AND GREAT MAN OF CULTURE) vào năm 1990

Bác Hồ với Thanh niên,thanh niên với Bác Hồ

Trang 10

2 Ngày Hòa bình đầu tiên - Phùng Khắc Bắc.

Ngày Hòa bình đầu tiên

Anh về lại ngôi nhà mình

Sau mười năm chiến tranh.

Mẹ đón anh buổi bình minh nhập nhoạng,

Cơn mưa đón anh buổi hừng đông chạng vạng,

Mưa… Mưa… Mưa…

Mưa ngoài trời

Khắp nơi,

Mưa ngoài sân,

Nhưng cũng mưa cả trong nhà…

Sau lời mẹ là lời mưa reo ca…

Nhà dột.

Chỗ nằm chỉ còn đủ độ dài giữa hai chiếc cột

Chiều rộng bằng khuôn chiếc tăng.

Trang 11

Vẫn chỗ mưa mẹ đứng

Mẹ trao cho anh chiếc đèn và bảo

Đừng để ngọn lửa rụng!

Mẹ xếp những thùng, chậu, nồi, xoong…

Khúc nhạc mưa nhà dột tấu lên

Ru êm cánh võng.

Người lính nằm im,

Nghe âm thanh chiến tranh trong người mình cất giọng

Trong đêm hoà bình đầu tiên.

II

Không có trái bom nào rơi đúng nhà mẹ,

Không có viên đạn nào bắn thủng mái nhà mẹ

Chỉ có đứa con trai đi xa

Chỉ có sự chờ đợi nặng nề giọt xuống

Đã xuyên thủng mái nhà thành những lỗ to lỗ nhỏ khác nhau

Nắng mưa lọt vào sau

Trang 12

Mười năm, cũng chỉ là thoáng qua,

Vì tuổi mẹ sáu bẩy lần hơn,

Mẹ vẫn nói đời mình như nắng trận mưa cơn…

Mái rạ của mẹ cũng không thủng lỗ chỗ

Nếu con chỉ đi ra đồng, ra chợ

Chứ không phải chiến tranh.

Có phải những viên đạn trong vô hình ý nghĩ

Bắn lúc đêm khuya vào đứa con thơ bé

Đã để những lỗ thủng lốm đốm trên màu tóc mẹ

Như nững hạt nắng hạt mưagiọt sót vào đây,

Để ai ai cũng phải nhìn và vội ngoảnh đi ngay…

Và đêm nào mẹ cũng khấn, để phập phồng một lần tin, một lần vui, Nhưng tai ác hơn, mái nhà cứ thủng.

Chẳng có na-pan, lân tinh, phốt-pho

Chỉ có mưa nắng,

Sự xa vắng, Khiến mái rạ mục mủn, bạc như màu tóc bạc,

Đôi sẻ tự tình bị hẫng hốt hoảng vù lên, bụi mù như tro bay…

Trang 13

Lần đầu tiên giật mình…

Những hạt bụi nhảy múa rung rinh,

Những con đường sang lên như nắng

Và mỗi người là hạt bụi lung linh.

Mẹ vẫn lên nhà xuống bếp một mình,

Chiến thắng của mẹ là anh

Niềm vui của mẹ là anh.

Nỗi buồn của anh không phải trong chiến tranh…

Njhững sợi nắng xuyên qua nhà mình

Trang 14

Hai bàn tay.

Mẹ giục:

- Ăn cơm, con!

Hoà bình trong canh cua, mồng tơi, cà

Nơi sinh: Thạch Thất - Hà Tây

Thể loại: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết

Các tác phẩm:

Một chấm xanh (1992) >> Chi tiết

Chiều xuân nắng hanh (1997)

Nhưng đích thực là tự do

Bởi khó khăn thay, trong cuộc đời này

Từ khi sinh ra nhân loại

Ai cũng đi tìm điều ấy

Lẽ rằng: khi ta sinh raCái tự do đầu tiên của ta là tiếng khócNhung lót ấm, chăn êm, tiếng à ơi vô nghĩa đã cám dỗ để cầm tù

Ta nín thinh - ấy là khắc giây ta đã biến thành người

Và cũng từ khắc giây ấy ủ ươm mầm ao ướcRồi suốt đời chưa bao giờ có được

Trang 15

Hết sợi dây này, đến sợi dây khác, thay nhau trói buộc

Và vì vậy mà mong ước cứ đầy thêm

Và dù nhỏ nhất, làm ra cuộc sống Người

Chính điều này làm nên ĐờiNhưng cuối cùng lần thứ hai tự do lại đếnLúc này thì ta nhận được ra nhưng nó chỉchợt hiện và chính ta cũng tắt trước nó

Đứng trước biển

Ta như bị tan biến ra và bay lãng đãng qua bờ qua bến

Nhưng không, biển mênh mông

và biển cũng đẹp vô cùngBiển không bằng một nhánh suối nhỏ, một dòng sông

Bởi biển không hề cạn, vì chỉ nhận

mà chẳng cho ai dòng chảyBiển nói rằng: biển còn biết chảy vào đâuBởi vậy suốt tháng, suốt năm, phải vật lộn với những nghĩ suy trên những

ngọn sóng bạc đầuNước đấy, nước vô tận mà đời nghèo lênh đênh cứ khát

Ta mới hiểu tự do khó thật

Nhưng vẫn có

Và có hai con đường đi tới nóCon đường đi vào cõi ChúaCon đường đi trong nhân gian

Ta chọn con đường thứ hai

Dù gian nan

Dù chỉ một lầnMột lần thôi cũng đủ

Dù một giờ, một phút, một lời hay một chữ

Nhưng đích thực là tự do

12-1984

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Giáo dục, 2005

Trang 16

3.Những bóng người trên sân ga - Nguyễn Bính.

Những bóng người trên sân ga

Những cuộc chia lìa khởi từ đây

Cây đàn sum họp đứt từng dây

Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc

Lần lượt theo nhau suốt tháng ngày

Có lần tôi thấy hai cô gái

Sát má vào nhau khóc sụt sùi

Hai bóng chung lưng thành một bóng

- "Đường về nhà chị chắc xa xôi?"

Có lần tôi thấy một người yêu

Tiễn một người yêu một buổi chiều

ở một ga nào xa vắng lắm

Họ cầm tay họ bóng xiêu xiêu

Hai người bạn cũ tiễn đưa nhau

Kẻ ở sân toa kẻ dưới tàu

Họ giục nhau về ba bốn bận

Bóng nhòa trong bóng tối từ lâu

Có lần tôi thấy vợ chồng ai

Thèn thẹn chia tay bóng chạy dài

Chị mở khăn dầu anh thắt lại

- Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!

Trang 17

Có lần tôi thấy một bà già

Đưa tiễn con đi trấn ải xa

Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng

Lưng còng đổ bóng xuống sân ga

Có lần tôi thấy một người đi

Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì

Chân bước hững hờ theo bóng lẻ

Một mình làm cả cuộc phân ly

Những chiếc khăn màu thổn thức bay

Những bàn tay vẫy những bàn tay

Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt

Buồn ở đâu hơn ở chốn này

Tôi đã từng chờ những chuyến xe

Đã từng đưa đón kẻ đi về

Sao nhà ga ấy sân ga ấy

Chỉ để cho lòng dấu biệt ly

Hà Nội 1937

Tiểu sử Nguyễn Bính

Nguyễn Bính sinh vào năm 1918 với tên thật Nguyễn Trọng Bính tại

xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Hà Nam Ninh (nay là tỉnhNam Định).[2]

Theo tài liệu được Hội Nhà Văn ở Hà Nội công bố về tiểu sử của ông: thuở nhỏ Nguyễn Bính không được đi học ở nhà trường mà chỉ được học ở nhà với cha là ông đồ nhoNguyễn Đạo Bình và

Trang 18

đồng thời cũng được người cậu ruột là Bùi Trinh Khiêm dạy kèm Ông

mồ côi mẹ rất sớm, cha đi bước nữa, gia đình túng quẫn, nên khi lên 10 tuổi đã phải theo anh ruột là Nguyễn Mạnh Phác ra Hà Nội sinh sống Thời gian này ông được người anh dạy học ở nhà Năm 13 tuổi ông đã bắt đầu làm thơ và năm 1937 được giải khuyến khích về thơ của nhóm Tự

lực văn đoàn với tập thơ Tâm hồn tôi Những năm đầu thập niên 1940,

Nguyễn Bính nhiều lần lưu lạc vào miền Nam Lúc này ông đổi tên

là Nguyễn Bính Thuyết Năm 1943, Nguyễn Bính lại đi vào miền Nam

lần thứ ba và đã gặp Đông Hồ, Kiên Giang Có lúc ông cư ngụ trong nhà

Kiên Giang Đó là thời ông viết những bài Hành Phương Nam, Tặng Kiên Giang, Từ Độ Về Đây Chính vì vậy ông được gọi là "thi sỹ giang

hồ"

Từ độ về đây sống rất nghèo

Bạn bè chỉ có gió trăng theo

Những thằng bất nghĩa xin đừng tới

Hãy để thềm ta xanh sắc rêu.

(Từ Độ Về Đây - 1943)

Năm 1947, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở miền Nam Đến năm 1954, khi Hiệp định Genève chia đôi đất nước, Nguyễn

Bính tập kết về Bắc năm 1955 và được bố trí phục vụ trong Hội Nhà Văn

ở Hà Nội một thời gian

Năm 1956, ông được giao nhiệm vụ phụ trách tờ Trăm Hoa (nguyên văn trong tài liệu của Hội Nhà Văn) và tham gia vào phong trào Nhân văn - Giai phẩm

Đến năm 1958, bị buộc chuyển về tỉnh nhà Nam Định, làm việc tại Ty Văn hoá Nam Định cho đến khi mất

Nguyễn Bính mất sáng ngày 20 tháng 1 năm 1966, tức ngày 29 tháng chạp âm lịch xuân Ất Tị, tại nhà một người bạn ở huyện Lý Nhân tỉnh HàNam Khi đó không một người vợ con ruột thịt nào của ông có mặt.[3]

Nguyễn Bính được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học

Các tác phẩm

Trong suốt 30 năm, Nguyễn Bính đã sáng tác nhiều thể loại như thơ, kịch,truyện thơ Ông sáng tác rất mạnh, viết rất đều và sống hết mình cho sự nghiệp thi ca Ông được đông đảo độc giả công nhận như một trong các nhà thơ xuất sắc nhất của thi ca Việt Nam hiện đại.: Một số tác phẩm:

Trang 19

 Qua Nhà (Yêu đương 1936)

 Những bóng người trên sân ga (Thơ 1937)

 Cô Hái Mơ (Thơ 1939)

 Tương tư

 Chân quê (Thơ 1940)

 Lỡ Bước Sang Ngang (Thơ 1940)

 Tâm Hồn Tôi (Thơ 1940)

 Hương Cố Nhân (Thơ 1941)

 Một Nghìn Cửa Sổ (Thơ 1941)

 Người Con Gái Ở Lầu Hoa (Thơ 1942)

 Mười Hai Bến Nước (Thơ 1942)

 Mây Tần (Thơ 1942)

 Bóng Giai Nhân (Kịch Thơ 1942)

 Truyện Tỳ Bà (Truyện Thơ 1942)

 Ông Lão Mài Gươm (Thơ 1947)

 Đồng Tháp Mười (Thơ 1955)

 Trả Ta Về (Thơ 1955)

 Gửi Người Vợ Miền Nam (Thơ 1955)

 Trong Bóng Cờ Bay (Truyện Thơ 1957)

 Nước Giếng Thơi (Thơ 1957)

 Tiếng Trống Đêm Xuân (Truyện Thơ 1958)

 Tình Nghĩa Đôi Ta (Thơ 1960)

 Cô Son (Chèo cổ 1961)

 Đêm Sao Sáng (Thơ 1962)

 Người Lái Đò Sông Vỹ (Chèo 1964)

Ngoài những tác phẩm kể trên, còn một số bài thơ viết trong

năm 1964, 1965 và 1966 chưa kịp xuất bản

Đánh giá

Các tác phẩm của Nguyễn Bính có thể chia làm hai dòng "lãng mạn" và

"cách mạng" mà dòng nào cũng có số lượng đồ sộ nhưng khi nói về Nguyễn Bính là nói về nhà thơ lãng mạn của làng quê Việt nam

Trong khi hầu hết các thi sĩ trong phong trào Thơ mới chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây, Nguyễn Bính lại gắn bó và hấp thụ tinh hoa ca dao, dân ca, truyện thơ dân gian cả về nội dung lẫn hình thức Bài thơ

"Chân quê" chính là tuyên ngôn của thơ Nguyễn Bính

Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa

Trang 20

Như hôm em đi lễ chùa

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh Hoa chanh nở giữa vườn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê

Hôm qua em đi tỉnh về Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều

Thơ ông biểu hiện cảnh quê, thắm được tình quê, hồn quê nước Việt với một sắc thái lãng mạn Người ta gặp trong thơ Nguyễn Bính những hình ảnh bình dị, thân quen: hàng cau, giàn trầu, rặng mùng tơi, cây bưởi, thônĐoài, thôn Đông Tâm sự của người con gái trong Lỡ bước sang

ngang của ông cũng là tâm sự của rất nhiều phụ nữ Việt nam thời kỳ đó Hình ảnh những cô thôn nữ trong trắng, những chàng trai quê chất phác luôn được Nguyễn Bính mô tả trong tình yêu lãng mạn nhưng đều dang

dở, chua xót đã đi vào lòng độc giả nhiều thế hệ Việt nam Nguyễn Bính

sử dụng rất nhuần nhuyễn thể thơ lục bát, vì vậy thơ ông càng dễ phổ cập

Những Bóng Người Trên Sân Ga

Bài thơ được sáng tác vào năm 1937 bởi nhà thơ Nguyễn Bính và được công bố chọn vào 100 bài thơ xuất sắc nhất Việt Nam thế kỷ 20 bởi Trung tâm văn hóa doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo Dục trong Đêm Nguyên tiêu của Ngày thơ Việt Nam lần thứ 5

Qua bài thơ, Nguyễn Bính đã khắc họa hình ảnh những cuộc chia tay của những con người với những số phận và tâm tư khác nhau một cách rất rõ nét nhưng cũng rất đỗi bình dân và gần gũi:

4.Tạm biệt Huế - Thu Bồn.

Tạm biệt Huế

“Bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ

Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu

Những lăng tẩm như hoàng hôn

Chống lại ngày ngày quên lãng

Mặt trời vàng và mắt em nâu

Xin chào Huế một lần anh đến

Để ngàn lần anh nhớ trong mơ

Trang 21

Em rất thực nắng thì mờ ảo

Xin đừng lầm em với cố đô

Áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy

Nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền

Nón rất Huế mà đời không phải thế

Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng

Nhịp cầu cong và con đường thẳng

Một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu

Con sông dùng dằng con sông chảy ngược

Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt

Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya

Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng

Anh trở về hoá đá phía bên kia”.

(Huế, 1980)

Tiểu sử Thu Bồn

Nhà thơ Thu Bồn, tên thật là Hà Đức Trọng (sinh ngày 1 tháng

12 năm 1935 tại Quảng Nam, mất ngày 17 tháng 6 năm 2003), là một nhàthơ, nhà văn Việt nam

Thu Bồn sinh tại xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, vào

bộ đội năm mười một tuổi và là thiếu sinh quân ở đơn vị biệt động chiến đấu Trong thời gian chiến tranh Việt nam, ông làm phóng viên chiến

trường Liên khu V sau đó về làm việc tại Tạp chí Văn nghệ quân

đội thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam Thu Bồn là

ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ miền Trung Trung Bộ và ủy viên

Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV Ngoài bút danh đặt theo

tên dòng sông Thu Bồn quê hương, ông còn có các bút danh khác là Hà Ðức Trọng, Bờ Lốc.

Trang 22

Ngoài thơ, Thu Bồn còn viết tiểu thuyết, nhưng ông được biết đến nhiều

với những bài trường ca, trong đó Bài ca chim Chơ Rao vẫn được coi là

thành công có tính định hướng cho phong cách tiêu biểu của ông và

“không những là tác phẩm từ miền Nam gửi ra khá sớm, mà còn là bản trường ca đầu tiên của văn học giải phóng” Đây là khúc ca ca ngợi lòng yêu tự do, ý chí bất khuất của những con người Tây Nguyên trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ được giảng dạy ở chương trình giáo dục phổ thông của Việt nam

Các tác phẩm chính

 Bài ca chim Chơ Rao (trường ca, 1962),

 Tre xanh (thơ, 1965),

 Mặt đất không quên (thơ, 1970),

 Những đám mây mầu cánh vạc (tiểu thuyết 2 tập, 1975);

 Oran 76 ngọn (trường ca, 1979),

 Người vắt sữa bầu trời (trường ca, 1985)

 Thông điệp mùa xuân (trường ca, 1985)

 Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên (thơ, 1992)

 Tôi nhớ mưa nguồn (thơ, 1999)

 Trường ca tuyển tập (1999)

 Gỡi lời con đến cùng cha

 Quê hương mặt trời vàng

Các giải thưởng

 Giải văn học Nguyễn Đình Chiểu

 Giải thưởng văn học quốc tế Lotus của Hội Nhà văn Á Phi (1973)

 Giải thưởng báo Hà Nội Mới (1969)

 Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001

Bài thơ này được Thu Bồn viết sau chuyến đi Huế (đã được nhạc sĩ Nhạc Xuân An phổ nhạc) bằng giọng địa phương truyền cảm “rượu hồng đào chưa nhấm đã say”

Với chỉ chừng hai mươi câu và một trăm sáu mươi âm tiết, thi sĩ đã là một họa sĩ phác họa cả bức tranh thủy mặc về Huế vừa hữu tình chất chứavừa hữu duyên mà mở đầu bài thơ thi sĩ đã có cái cớ “Bởi vì em dắt anh”

mà cảnh và tình ở đây nhập vào làm một Con người Thu Bồn là sự kết hợp của những gì tưởng chừng khó kết hợp, vừa hào sảng vừa nhiệt tình,

Trang 23

vừa đa tình vừa thật tính, anh có cái chất của người rất Quảng Nam nên tình yêu cũng rất tinh tế, nhịp nhàng.

Thơ kết hợp với hiện thực vì trong đó chất chứa tình cảm của một người luôn nghĩ tới tình yêu, đa tình đa sầu đa cảm như vậy nên Thu Bồn đã chỉ có thể “Tạm biệt Huế với em

là tiễn biệt” Hình ảnh của người đi và người

ở lại, người ra đi vì một lý do khách quan nào

đó còn người ở lại trong hoài cảm “minh mang” chứ không là “mênh mông”, “tiễn biệt” chứ không là “ly biệt”, “tạm biệt”,

“vĩnh biệt” - một vị từ thật đắt chỉ có Thu Bồn vì yêu quá mới có cái dùng từ vi diệu như thế Chỉ “một lần đến” vậy mà “ngàn lần nhớ trong mơ” So sánh như thế không gì là khập khiễng vì “Em rất thực nắng thì mờ ảo

Xin đừng lầm em với cố đô”

Cố đô Huế là vẻ đẹp của “lăng tẩm” trầm lặng và là của thiên nhiên ban tặng cho đất thần kinh nhưng với em là vẻ đẹp của “áo trắng” thướt tha cầu Tràng Tiền trong cái gió lộng tư bề Cổ kính như Huế nhưng với em thì truyền thống trong cách tân hiện đại để có yêu, có nhớ có nên duyên

vợ tình chồng thì âu đó cũng là quy luật tự nhiên vậy Thế nhưng lòng thi

sĩ đã ngà ngà say men hồng đào xứ Quảng mà lảo đảo chếnh choáng hơi men tình Câu ca dao xưa nói rất thật ở trong tình cảm nhà thơ lúc

này: “Học trò ở Quảng ra thi

Thấy cô gái Huế chân đi không đành!” thật đúng quá với Thu Bồn.

Tôi là người con của xứ Huế, mặc dầu vì hoàn cảnh mà đã gần cái tuổi bamươi nhưng chưa một lần được về quê cha đất mẹ để cảm cái tĩnh

mịch của Huế mộng Huế mơ, nên khi đọc bài thơ này tôi thật sự xúc độngkhông phải vì ngôn từ hoa mỹ mà vì lòng người Huế cứ ám ảnh tôi nhớ

đến Ba Mạ với giọng Rất Huế nơi quê nhà Con người Huế, cảnh Huế

được con mắt rất tinh của thi sĩ Thu Bồn chộp lại thật đẹp trong huyền ảo bảng lãng hơi sương của “12 nhịp Tràng Tiền”, Sông Hương làm nên Huế bằng lòng sông của phá Tam Giang hợp lưu lại:

“Con sông dùng dằng con sông chảy ngược

Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”

Nhà thơ Thu Bồn và vợ là

nghệ sĩ Lý Bạch Huệ

Trang 24

Từ láy “dùng dằng” của con sông là sự mềm yếu nhưng rất mạnh mẽ “giữmình” của cô gái Huế để khi về thi sĩ chỉ dám “hôn thầm lặng” rồi “hóa đá” Xưa nay chỉ có biểu tượng “Hòn vọng phu” chỉ thiếu phụ chờ chồng chinh chiến trở về mà ôm con hóa đá Nay Thu Bồn vì yêu mà “hóa đá bên kia” - ở Ngũ Hành Sơn-quê hương thi nhân chỉ cách quê em-Huế mộtdãy đèo Hải Vân.

Như nhà thơ Chế Lan Viên thừa nhận: “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương” với Thu Bồn quả chẳng ngoa chút nào

5.Vào chùa - Đồng Đức Bốn.

Vào chùa

Đang trưa ăn mày vào chùa

Sư ra cho một lá bùa rồi đi

Lá bùa chẳng biết làm gì

Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày.

Tiểu sử Đồng Đức Bốn

Đồng Đức Bốn(30 tháng 3, 1948 - 14 tháng 2, 2006) được sinh ra trong

một gia đình lao động nghèo ở ngoại ô Hải Phòng Năm 1966, ông gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong Sau đó, ông làm thợ cơ khí (bậc

6 trên 7) tại Xí nghiệp Cơ giới của Tổng Công ty Xây dựng Bạch Đằng (Hải Phòng), Xí nghiệp Cơ khí 20-7 rồi Công ty Xuất nhập khẩu gia cầm Hải phòng Ông được làm đại diện cho công ty này tại Hà nội và bắt đầu sáng tác thơ vào cuối những năm 1980

Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Đồng Đức Bốn mất ngày 14 tháng 2 năm 2006 tại nhà riêng ở thôn Song mai, xã An hồng, huyện An Hải, Thành phố Hải phòng khi ông 58 tuổi bởi bệnh ung thư phổi

Các tác phẩm

Con ngựa trắng và rừng quả đắng NXB Văn học, 1992

Chăn trâu đốt lửa NXB Lao động, 1993

Trở về với mẹ ta thôi NXB Hội nhà văn, 2000

Cuối cùng vẫn còn dòng sông NXB Hội nhà văn, 2000

Trang 25

Chuông chùa kêu trong mưa 2002

Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc NXB Hội nhà văn 2006 (tập thơ cuối

Một sải xuồng bơi

Một nọc ong châm góp làm sự nghiệp

Gốc tre xanh thắng trận cả ba đời

Ba mươi triệu tấm lòng xông ra tuyến lửa

Vạch lối điều quân

Vai chảy xe thồ

Trồng cây xanh che chở

Mỗi bước quân đi

Đánh trận trường kỳ

Đêm trước nấp trong lùm bắn tỉa

Sớm sau dàn trận chính qui

Đến trận bão hiệp đồng cả nước

Mỗi sư đoàn mang gió lốc bay đi

Đất giải phóng thênh thang

Sẽ cho ta dàn đội ngũ - sư đoàn

Phía trước gọi ta

Những Điện Biên vòng đai thép tung ra làm chiến dịch

Trang 26

Đòn gánh hậu phương vượt đèo đi phản kích

Hành quân

Hành quân

Trùng điệp những sư đoàn

Đi lên phía Bắc

Tràn về hướng Nam

Những vị tướng lại cầm quân đi đánh giặc

Trải bản đồ

Còn nguyên

Vạch chỉ đỏ thắt quanh hầu giặc Pháp

Bài học chiến tranh nhân dân

Doi cát Cửu Long xanh

Sư đoàn Châu Thổ

Giữa bãi sú, rừng tràm

Vụt đứng dậy sư đoàn Nam Bộ

Sư đoàn Tây Nguyên

Từ hầm chông bẫy đá cung tên

Này đây Cực Nam Phan Rang - Phan Thiết

Này đây Quảng Ngãi - Phú Yên

Trên nguồn xa Ô Lâu - Thạch Hãn

Ngày đăng: 08/09/2013, 21:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w