100 BÀI THƠ HAY NHẤT VIỆT NAM THẾ KỶ XXĐược phát động từ đầu năm 2005, cuộc thi Chọn những bài thơ Việt Namhay nhất thế kỷ 20 do Trung tâm văn hóa doanh nhân và Nhà xuất bảnGiáo Dục phối
Trang 1100 BÀI THƠ HAY NHẤT VIỆT NAM THẾ KỶ XX
Được phát động từ đầu năm 2005, cuộc thi Chọn những bài thơ Việt Namhay nhất thế kỷ 20 do Trung tâm văn hóa doanh nhân và Nhà xuất bảnGiáo Dục phối hợp tổ chức đã lựa ra được 100 thi phẩm xuất sắc và công
bố trong Đêm Nguyên tiêu của Ngày thơ Việt Nam lần thứ 5
100 bài thơ, chia đều cho 100 tác giả, không một ai được vinh dự góp mặtvới hơn một sáng tác Hiện tượng này khiến không ít độc giả ngậm ngùi
tiếc nuối khi Xuân Diệu có Nguyệt cầm nhưng không có Đây mùa thu tới hay Vội vàng Hoàng Cầm có Bên kia sông Đuống nhưng không có
Lá diêu bông Nguyễn Duy có Đò lèn nhưng lại vắng Tre Việt Nam hay Hơi ấm ổ rơm
Ngoài ra sự vắng mặt của nhiều bài thơ nổi tiếng trong danh sách nàykhông khỏi khiến người yêu thơ phải nuối tiếc
Phong trào Thơ Mới góp mặt trong danh sách với số lượng tác giả, tácphẩm lớn nhất Tiếp đó là những sáng tác có ảnh hưởng sâu nặng đến suynghĩ và hành động của bao thế hệ độc giả qua hai cuộc kháng chiếnchống Mỹ và chống Pháp
Nhà văn Lê Lựu, Giám đốc Trung tâm Văn hóa Doanh nhân, cho biết:
"Chúng tôi nhận được rất nhiều bài viết công phu, thể hiện tình yêu vàthái độ trân trọng với thơ ca Có những độc giả viết đến hàng chục trangbình chọn và đưa ra nhiều lý lẽ bảo vệ cho sự lựa chọn của mình"
100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ 20 đã được Nhà xuất bản GiáoDục in thành sách và phát hành rộng rãi
Danh sách 100 bài thơ hay nhất
Ngoài Nguyên Tiêu, 99 bài còn lại được sắp xếp theo tên tác giả dựa vào
bảng chữ cái
1) Nguyên Tiêu - Hồ Chí Minh.
2) Ngày Hòa bình đầu tiên - Phùng Khắc Bắc.
3) Những bóng người trên sân ga - Nguyễn Bính.
4) Tạm biệt Huế - Thu Bồn.
5) Vào chùa - Đồng Đức Bốn.
Trang 26) Sư đoàn - Phạm Ngọc Cảnh.
7) Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc - Văn Cao.
8) Núi Đôi - Vũ Cao.
9) Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm.
10) Tràng Giang - Huy Cận.
11) Dọn về làng - Nông Quốc Chấn.
12) Quê hương - Nguyễn Bá Chung.
13) Say đi em - Vũ Hoàng Chương.
14) Miền Trung - Hoàng Trần Cương.
15) Đường về quê mẹ - Đoàn Văn Cừ.
16) Anh đừng khen em - Lâm Thị Mỹ Dạ.
17) Nguyệt cầm - Xuân Diệu.
18) Cô bộ đội ấy đã đi rồi - Phạm Tiến Duật.
19) Tây tiến - Quang Dũng.
20) Lên Côn Sơn - Khương Hữu Dụng.
21) Đò lèn - Nguyễn Duy.
22) Chiều - Hồ Dzếnh.
23) Thăm mả cũ bên đường - Tản Đà.
24) Cha tôi - Lê Đạt.
25) Mẹ và quả - Nguyễn Khoa Điềm.
26) Núi mường Hung dòng sông Mã - Cầm Giang.
27) Mắt buồn - Bùi Giáng.
28) Hai sắc hoa tigôn - T.T.KH.
Trang 329) Đọc thơ Ức Trai - Sóng Hồng.
30) Bài thơ tình ở Hàng Châu - Tế Hanh.
31) Trở về quê nội - Ca Lê Hiến.
32) Đêm mưa - Hoàn.
33) Những đứa trẻ chơi trước cửa đền - Thi Hoàng.
34) Cửu Long giang ta ơi - Nguyên Hồng.
35) Đêm nay Bác không ngủ - Minh Huệ.
36) Nỗi niềm Thị Nở - Quang Huy.
37) Đường khuya trở bước - Đinh Hùng.
38) Người về - Hoàng Hưng.
39) Đồng chí - Chính Hữu.
40) Khi con tu hú - Tố Hữu.
41) Lên Cấm sơn - Thôi Hữu.
42) Lời nói dối nhân ái - Trang Thế Hy.
43) Gánh nước đêm - Á Nam Trần Tuấn Khải.
44) Tỳ bà - Bích Khê.
45) Gửi bác Trần Nhuận Minh - Trần Đăng Khoa.
46) Thu điếu - Nguyễn Khuyến.
47) Bến Mi Lăng - Yến Lan.
48) Tháp Chàm - Văn Lê.
49) Ông đồ - Vũ Đình Liên.
50) Đèo cả - Hữu Loan.
51) Viếng bạn - Hoàng Lộc.
Trang 452) Tiếng thu - Lưu Trọng Lư.
53) Nhớ rừng - Thế Lữ.
54) Một vị tướng về hưu - Nguyễn Đức Mậu.
55) Những mùa trăng mong chờ - Lê Thị Mây.
56) Dặn con - Trần Nhuận Minh.
57) Hội Lim - Vũ Đình Minh.
58) Khóc người vợ hiền - Tú Mỡ.
59) Cuộc chia ly màu đỏ - Nguyễn Mỹ.
60) Quê hương - Giang Nam.
61) Thị Màu - Anh Ngọc.
62) Nhớ - Hồng Nguyên.
63) Trời và đất - Phan Thị Thanh Nhàn
64) Người đàn bà ngồi đan - Ý Nhi.
65) Nhớ máu - Trần Mai Ninh.
66) Mẹ - Nguyễn Ngọc Oánh.
67) Bông và mây - Ngô Văn Phú.
68) Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương - Việt Phương 69) Đợi - Vũ Quần Phương.
Trang 575) Bài thơ của một người yêu nước mình - Trần Vàng Sao.
76) Người đẹp - Lò Ngân Sủn.
77) Đồng dao cho người lớn - Nguyễn Trọng Tạo.
78) Tống biệt hành - Thâm Tâm.
79) Dấu chân qua trảng cỏ - Thanh Thảo.
80) Đất nước - Nguyễn Đình Thi.
81) Những người đàn bà gánh nước sông - Nguyễn Quang Thiều.
82) Nghe tiếng cuốc kêu - Hữu Thỉnh.
83) Bao giờ trở lại - Hoàng Trung Thông.
84) Bờ sông vẫn gió - Trúc Thông.
85) Bến đò ngày mưa - Anh Thơ.
86) Thăm lúa - Trần Hữu Thung.
87) Cổ lũy cô thôn - Phạm Thiên Thư.
88) Nói sao cho vợi - Thu Trang.
89) Mưa đêm lều vó - Trần Huyền Trân.
90) Bên mộ cụ Nguyễn Du - Vương Trọng.
91) Nhớ Huế quê tôi - Thanh Tịnh.
92) Màu thời gian - Đoàn Phú Tứ.
93) Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử.
94) Nhớ vợ - Cầm Vĩnh Ui.
95) Em tắm - Bạc Văn Ùi.
96) Một ngày ta ngoái lại - Đinh Thị Thu Vân.
97) Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng - Chế Lan Viên.
Trang 698) Bếp lửa - Bằng Việt.
99) Vườn trong phố - Lưu Quang Vũ.
100) Thương vợ - Trần Tế Xương.
PHẦN I: TỪ bài 1 – 5 và tiểu sử các tác giả
1 Nguyên Tiêu - Hồ Chí Minh.
Nguyên Tiêu
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.
1948
Dịch nghĩa:
Đêm rằm tháng riêng
Đêm nay, rằm tháng riêng, trăng vừa tròn,
Nước sông xuân tiếp liền với màu trời xanh
Giữa nơi khói sóng thăm thẳm, bàn bạc việc quân,
Nửa đêm trở về, ánh trăng đầy thuyền
1948
Dịch thơ:
Rằm tháng riêng
Rằm xuân lồng lộng trăng soi,
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền
XUÂN THỦY dịch
Trang 7Tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969)
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình trí thức
yêu nước, nguồn gốc nông dân ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường chống ách thống trị nặng nề củathực dân phong kiến Hoàn cảnh xã hội và giáo dục gia đình đã ảnh hưởn sâu sắc đến Hồ Chủ tịch ngay từthời niên thiếu
Với tinh thần yêu nước nồng nàn, với sự sáng suốt về chính trị, Người đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyênnhân thành bại của các phong trào yêu nước hồi bấy giờ và quyết tâm đi tìm con đường đúng đắn để cứu dân, cứu nước
Tháng 6/1911, Người ra nước ngoài, đi đến nước Pháp và nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ Người hòa mình với những
côngnhân và những người dân thuộc địa, vừa lao động để sống, vừa học tập, nghiên cứu các học thuyết cách mạng Năm 1917, thắng lợi vang dội
của cách mạng tháng Mười Nga đã đưa Hồ Chủ tịch đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Ra sức nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, Người
đã nhận rõ đường lối duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội Cùng năm ấy, Người thành lập Hội những người Việt Nam yêu nước để tập hợp Việt Kiều ở Pháp Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội pháp và hoạt động trong phong trào công nhân Pháp Đầu năm đó, Người gửi đến Hội nghị Véc-xây (Pháp) "Bản yêusách của nhân dân Việt Nam", đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do và bình đẳng của dân tộc Việt Nam
Tháng 12/1920, trong Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp, Người
bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản và tham gia thành lập ĐảngCộng sản Pháp Sự kiện trên đây đánh dấu bước ngoặt trong đời hoạt động cách mạng của Người, bước ngoa chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản
Năm 1921, Người tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa
và năm 1922 xuất bản báo "Người cùng khổ" ở Pháp Tháng 6/1923, Người từ Pháp đi Liên Xô, nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tham gia công tác của Quốc
tế cộng sản Cùng năm đó, Người được bầu vào Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân Năm 1924, người dự Đại hội lần thứ 5 của Quốc tế cộng sản vàđược cử làm Ủy viên Bộ phương Đông, phụ trách Cục phương Nam, hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng và phong trào Cộng sản ở
Trang 8các nước Đông - Nam châu Á Năm 1925, Người thành lập Hội Liên hiệpcác dân tộc bị áp bức ở Á Đông
Tháng 6/1925, Người tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chíHội, mà hạt nhân là Cộng sản Đoàn, đồng thời ra báo Thanh niên và mở lớp huấn luyện đào tạo hàng trăm cán bộ đưa về nước hoạt động
Ngày 3/2/1930, Người triệu tập hội nghị hợp nhất tại Cửu Long (Hương Cảng) để thống nhất các nhóm cộng sản trong nước thành Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong thời gian từ 1930 đến 1940, Người ở nước ngoài tham gia công tác của Quốc tế Cộng sản, đồng thời theo dõi sát phong trào cách mạng trong nước và có những chị thị quý báu cho Ban chấp hành Trung ương Đảng ta
Năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài Người về nước triệu tâp hội nghị n thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng, quyết định đường lối đánh Pháp, đuổi Nhật, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên là Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), gấp rút xây dựng lực lượng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, chuẩn
bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước
Ngày 22/12/1944, Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay và xây dựng căn cứ địa cách mạng
Tháng 8/1945, trong không khí sôi sục cách mạng của thời kỳ tiền khởi nghĩa, Người cùng Trung ương triệu tập đại hội quốc dân ở Tân Trào Đạihội đã cử Người làm chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dânchủ Cộng hòa Người đã phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Ngày 2/9/1945, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước nhân dân cả nước và nhân dân toàn thế giới thành lập nước Việt Nam dânchủ cộng hòa, Nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á
Trong những ngày đầu cách mạng, nước ta có nhiều khó khăn chồng chất
và bị bao vây bốn phía Nạn đói do phát xít Nhật - Pháp gây ra đã giết hạihơn hai triệu người Việt Nam Tháng 9/1945 câu kết với các đế quốc Mỹ,Anh và bọn phản động Quốc dân Đảng Trung Quốc, thực dân Pháp trở lạixâm lược nước ta một lần nữa, âm mưu xóa bỏ mọi thành quả của Cách mạng tháng Tám
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân ra vừa đánh trả bọn thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam, vừa đối phó với bọn phản động Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc
Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 được ký kết giữa Việt Nam Dân chủ Cộnghòa và Pháp Quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi miền Bắc Việt Nam Quânđội Pháp mở rộng đánh chiếm miền Nam, kéo ra miền Bắc và lấn dần
Trang 9từng bước ở miền Bắc, âm mưu tieến tới xóa bỏ Nhà nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa Trước tình hình ấy, tháng 12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến và cùng Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài chống thực dân Pháp đến thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ (1954)
Tháng 7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết Miền Bắc Việt Nam được giải phóng Nhưng một nửa nước ở miền Nam bị đế quốc Mỹ biến thành thuộc địa kiểu mới của chúng Người cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: cáchmạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam
Tháng 9/1960, đại hội lần thứ ba của Đảng đã họp, thông qua nghị quyết về hai nhiệm vụ chiến lược và bầu đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng Dưới sự lãnh đạo của Người và của Ban chấp hành Trung ương đảng, nhân dân ta vừa đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc kháng chiếng chống Mỹ, cứu nước để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà và đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội
Ngày 2/9/1969, Người từ trần, hưởng thọ 79 tuổi
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của mộtngười cộng sản vĩ đại, một anh
hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc
tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và
hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân
dân, vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc
lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và
công lý trên thế giới
Cuộc họp lần thứ 24, năm 1987 tổ chức
giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp
quốc UNESCO ra nghị quyết về kỷ niệm
100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh
"Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và là một nhà văn hóa lớn" (HỒ CHÍ MINH VIETNAMESE HERO OF NATIONAL LIBERATION AND GREAT MAN OF CULTURE) vào năm 1990
Bác Hồ với Thanh niên,thanh niên với Bác Hồ
Trang 102 Ngày Hòa bình đầu tiên - Phùng Khắc Bắc.
Ngày Hòa bình đầu tiên
Anh về lại ngôi nhà mình
Sau mười năm chiến tranh.
Mẹ đón anh buổi bình minh nhập nhoạng,
Cơn mưa đón anh buổi hừng đông chạng vạng,
Mưa… Mưa… Mưa…
Mưa ngoài trời
Khắp nơi,
Mưa ngoài sân,
Nhưng cũng mưa cả trong nhà…
Sau lời mẹ là lời mưa reo ca…
Nhà dột.
Chỗ nằm chỉ còn đủ độ dài giữa hai chiếc cột
Chiều rộng bằng khuôn chiếc tăng.
Trang 11Vẫn chỗ mưa mẹ đứng
Mẹ trao cho anh chiếc đèn và bảo
Đừng để ngọn lửa rụng!
Mẹ xếp những thùng, chậu, nồi, xoong…
Khúc nhạc mưa nhà dột tấu lên
Ru êm cánh võng.
Người lính nằm im,
Nghe âm thanh chiến tranh trong người mình cất giọng
Trong đêm hoà bình đầu tiên.
II
Không có trái bom nào rơi đúng nhà mẹ,
Không có viên đạn nào bắn thủng mái nhà mẹ
Chỉ có đứa con trai đi xa
Chỉ có sự chờ đợi nặng nề giọt xuống
Đã xuyên thủng mái nhà thành những lỗ to lỗ nhỏ khác nhau
Nắng mưa lọt vào sau
Trang 12Mười năm, cũng chỉ là thoáng qua,
Vì tuổi mẹ sáu bẩy lần hơn,
Mẹ vẫn nói đời mình như nắng trận mưa cơn…
Mái rạ của mẹ cũng không thủng lỗ chỗ
Nếu con chỉ đi ra đồng, ra chợ
Chứ không phải chiến tranh.
Có phải những viên đạn trong vô hình ý nghĩ
Bắn lúc đêm khuya vào đứa con thơ bé
Đã để những lỗ thủng lốm đốm trên màu tóc mẹ
Như nững hạt nắng hạt mưagiọt sót vào đây,
Để ai ai cũng phải nhìn và vội ngoảnh đi ngay…
Và đêm nào mẹ cũng khấn, để phập phồng một lần tin, một lần vui, Nhưng tai ác hơn, mái nhà cứ thủng.
Chẳng có na-pan, lân tinh, phốt-pho
Chỉ có mưa nắng,
Sự xa vắng, Khiến mái rạ mục mủn, bạc như màu tóc bạc,
Đôi sẻ tự tình bị hẫng hốt hoảng vù lên, bụi mù như tro bay…
Trang 13Lần đầu tiên giật mình…
Những hạt bụi nhảy múa rung rinh,
Những con đường sang lên như nắng
Và mỗi người là hạt bụi lung linh.
Mẹ vẫn lên nhà xuống bếp một mình,
Chiến thắng của mẹ là anh
Niềm vui của mẹ là anh.
Nỗi buồn của anh không phải trong chiến tranh…
Njhững sợi nắng xuyên qua nhà mình
Trang 14Hai bàn tay.
Mẹ giục:
- Ăn cơm, con!
Hoà bình trong canh cua, mồng tơi, cà
Nơi sinh: Thạch Thất - Hà Tây
Thể loại: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết
Các tác phẩm:
Một chấm xanh (1992) >> Chi tiết
Chiều xuân nắng hanh (1997)
Nhưng đích thực là tự do
Bởi khó khăn thay, trong cuộc đời này
Từ khi sinh ra nhân loại
Ai cũng đi tìm điều ấy
Lẽ rằng: khi ta sinh raCái tự do đầu tiên của ta là tiếng khócNhung lót ấm, chăn êm, tiếng à ơi vô nghĩa đã cám dỗ để cầm tù
Ta nín thinh - ấy là khắc giây ta đã biến thành người
Và cũng từ khắc giây ấy ủ ươm mầm ao ướcRồi suốt đời chưa bao giờ có được
Trang 15Hết sợi dây này, đến sợi dây khác, thay nhau trói buộc
Và vì vậy mà mong ước cứ đầy thêm
Và dù nhỏ nhất, làm ra cuộc sống Người
Chính điều này làm nên ĐờiNhưng cuối cùng lần thứ hai tự do lại đếnLúc này thì ta nhận được ra nhưng nó chỉchợt hiện và chính ta cũng tắt trước nó
Đứng trước biển
Ta như bị tan biến ra và bay lãng đãng qua bờ qua bến
Nhưng không, biển mênh mông
và biển cũng đẹp vô cùngBiển không bằng một nhánh suối nhỏ, một dòng sông
Bởi biển không hề cạn, vì chỉ nhận
mà chẳng cho ai dòng chảyBiển nói rằng: biển còn biết chảy vào đâuBởi vậy suốt tháng, suốt năm, phải vật lộn với những nghĩ suy trên những
ngọn sóng bạc đầuNước đấy, nước vô tận mà đời nghèo lênh đênh cứ khát
Ta mới hiểu tự do khó thật
Nhưng vẫn có
Và có hai con đường đi tới nóCon đường đi vào cõi ChúaCon đường đi trong nhân gian
Ta chọn con đường thứ hai
Dù gian nan
Dù chỉ một lầnMột lần thôi cũng đủ
Dù một giờ, một phút, một lời hay một chữ
Nhưng đích thực là tự do
12-1984
Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Giáo dục, 2005
Trang 163.Những bóng người trên sân ga - Nguyễn Bính.
Những bóng người trên sân ga
Những cuộc chia lìa khởi từ đây
Cây đàn sum họp đứt từng dây
Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc
Lần lượt theo nhau suốt tháng ngày
Có lần tôi thấy hai cô gái
Sát má vào nhau khóc sụt sùi
Hai bóng chung lưng thành một bóng
- "Đường về nhà chị chắc xa xôi?"
Có lần tôi thấy một người yêu
Tiễn một người yêu một buổi chiều
ở một ga nào xa vắng lắm
Họ cầm tay họ bóng xiêu xiêu
Hai người bạn cũ tiễn đưa nhau
Kẻ ở sân toa kẻ dưới tàu
Họ giục nhau về ba bốn bận
Bóng nhòa trong bóng tối từ lâu
Có lần tôi thấy vợ chồng ai
Thèn thẹn chia tay bóng chạy dài
Chị mở khăn dầu anh thắt lại
- Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!
Trang 17Có lần tôi thấy một bà già
Đưa tiễn con đi trấn ải xa
Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng
Lưng còng đổ bóng xuống sân ga
Có lần tôi thấy một người đi
Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly
Những chiếc khăn màu thổn thức bay
Những bàn tay vẫy những bàn tay
Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt
Buồn ở đâu hơn ở chốn này
Tôi đã từng chờ những chuyến xe
Đã từng đưa đón kẻ đi về
Sao nhà ga ấy sân ga ấy
Chỉ để cho lòng dấu biệt ly
Hà Nội 1937
Tiểu sử Nguyễn Bính
Nguyễn Bính sinh vào năm 1918 với tên thật Nguyễn Trọng Bính tại
xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Hà Nam Ninh (nay là tỉnhNam Định).[2]
Theo tài liệu được Hội Nhà Văn ở Hà Nội công bố về tiểu sử của ông: thuở nhỏ Nguyễn Bính không được đi học ở nhà trường mà chỉ được học ở nhà với cha là ông đồ nhoNguyễn Đạo Bình và
Trang 18đồng thời cũng được người cậu ruột là Bùi Trinh Khiêm dạy kèm Ông
mồ côi mẹ rất sớm, cha đi bước nữa, gia đình túng quẫn, nên khi lên 10 tuổi đã phải theo anh ruột là Nguyễn Mạnh Phác ra Hà Nội sinh sống Thời gian này ông được người anh dạy học ở nhà Năm 13 tuổi ông đã bắt đầu làm thơ và năm 1937 được giải khuyến khích về thơ của nhóm Tự
lực văn đoàn với tập thơ Tâm hồn tôi Những năm đầu thập niên 1940,
Nguyễn Bính nhiều lần lưu lạc vào miền Nam Lúc này ông đổi tên
là Nguyễn Bính Thuyết Năm 1943, Nguyễn Bính lại đi vào miền Nam
lần thứ ba và đã gặp Đông Hồ, Kiên Giang Có lúc ông cư ngụ trong nhà
Kiên Giang Đó là thời ông viết những bài Hành Phương Nam, Tặng Kiên Giang, Từ Độ Về Đây Chính vì vậy ông được gọi là "thi sỹ giang
hồ"
Từ độ về đây sống rất nghèo
Bạn bè chỉ có gió trăng theo
Những thằng bất nghĩa xin đừng tới
Hãy để thềm ta xanh sắc rêu.
(Từ Độ Về Đây - 1943)
Năm 1947, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở miền Nam Đến năm 1954, khi Hiệp định Genève chia đôi đất nước, Nguyễn
Bính tập kết về Bắc năm 1955 và được bố trí phục vụ trong Hội Nhà Văn
ở Hà Nội một thời gian
Năm 1956, ông được giao nhiệm vụ phụ trách tờ Trăm Hoa (nguyên văn trong tài liệu của Hội Nhà Văn) và tham gia vào phong trào Nhân văn - Giai phẩm
Đến năm 1958, bị buộc chuyển về tỉnh nhà Nam Định, làm việc tại Ty Văn hoá Nam Định cho đến khi mất
Nguyễn Bính mất sáng ngày 20 tháng 1 năm 1966, tức ngày 29 tháng chạp âm lịch xuân Ất Tị, tại nhà một người bạn ở huyện Lý Nhân tỉnh HàNam Khi đó không một người vợ con ruột thịt nào của ông có mặt.[3]
Nguyễn Bính được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học
Các tác phẩm
Trong suốt 30 năm, Nguyễn Bính đã sáng tác nhiều thể loại như thơ, kịch,truyện thơ Ông sáng tác rất mạnh, viết rất đều và sống hết mình cho sự nghiệp thi ca Ông được đông đảo độc giả công nhận như một trong các nhà thơ xuất sắc nhất của thi ca Việt Nam hiện đại.: Một số tác phẩm:
Trang 19 Qua Nhà (Yêu đương 1936)
Những bóng người trên sân ga (Thơ 1937)
Cô Hái Mơ (Thơ 1939)
Tương tư
Chân quê (Thơ 1940)
Lỡ Bước Sang Ngang (Thơ 1940)
Tâm Hồn Tôi (Thơ 1940)
Hương Cố Nhân (Thơ 1941)
Một Nghìn Cửa Sổ (Thơ 1941)
Người Con Gái Ở Lầu Hoa (Thơ 1942)
Mười Hai Bến Nước (Thơ 1942)
Mây Tần (Thơ 1942)
Bóng Giai Nhân (Kịch Thơ 1942)
Truyện Tỳ Bà (Truyện Thơ 1942)
Ông Lão Mài Gươm (Thơ 1947)
Đồng Tháp Mười (Thơ 1955)
Trả Ta Về (Thơ 1955)
Gửi Người Vợ Miền Nam (Thơ 1955)
Trong Bóng Cờ Bay (Truyện Thơ 1957)
Nước Giếng Thơi (Thơ 1957)
Tiếng Trống Đêm Xuân (Truyện Thơ 1958)
Tình Nghĩa Đôi Ta (Thơ 1960)
Cô Son (Chèo cổ 1961)
Đêm Sao Sáng (Thơ 1962)
Người Lái Đò Sông Vỹ (Chèo 1964)
Ngoài những tác phẩm kể trên, còn một số bài thơ viết trong
năm 1964, 1965 và 1966 chưa kịp xuất bản
Đánh giá
Các tác phẩm của Nguyễn Bính có thể chia làm hai dòng "lãng mạn" và
"cách mạng" mà dòng nào cũng có số lượng đồ sộ nhưng khi nói về Nguyễn Bính là nói về nhà thơ lãng mạn của làng quê Việt nam
Trong khi hầu hết các thi sĩ trong phong trào Thơ mới chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây, Nguyễn Bính lại gắn bó và hấp thụ tinh hoa ca dao, dân ca, truyện thơ dân gian cả về nội dung lẫn hình thức Bài thơ
"Chân quê" chính là tuyên ngôn của thơ Nguyễn Bính
Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa
Trang 20Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh Hoa chanh nở giữa vườn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều
Thơ ông biểu hiện cảnh quê, thắm được tình quê, hồn quê nước Việt với một sắc thái lãng mạn Người ta gặp trong thơ Nguyễn Bính những hình ảnh bình dị, thân quen: hàng cau, giàn trầu, rặng mùng tơi, cây bưởi, thônĐoài, thôn Đông Tâm sự của người con gái trong Lỡ bước sang
ngang của ông cũng là tâm sự của rất nhiều phụ nữ Việt nam thời kỳ đó Hình ảnh những cô thôn nữ trong trắng, những chàng trai quê chất phác luôn được Nguyễn Bính mô tả trong tình yêu lãng mạn nhưng đều dang
dở, chua xót đã đi vào lòng độc giả nhiều thế hệ Việt nam Nguyễn Bính
sử dụng rất nhuần nhuyễn thể thơ lục bát, vì vậy thơ ông càng dễ phổ cập
Những Bóng Người Trên Sân Ga
Bài thơ được sáng tác vào năm 1937 bởi nhà thơ Nguyễn Bính và được công bố chọn vào 100 bài thơ xuất sắc nhất Việt Nam thế kỷ 20 bởi Trung tâm văn hóa doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo Dục trong Đêm Nguyên tiêu của Ngày thơ Việt Nam lần thứ 5
Qua bài thơ, Nguyễn Bính đã khắc họa hình ảnh những cuộc chia tay của những con người với những số phận và tâm tư khác nhau một cách rất rõ nét nhưng cũng rất đỗi bình dân và gần gũi:
4.Tạm biệt Huế - Thu Bồn.
Tạm biệt Huế
“Bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ
Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu
Những lăng tẩm như hoàng hôn
Chống lại ngày ngày quên lãng
Mặt trời vàng và mắt em nâu
Xin chào Huế một lần anh đến
Để ngàn lần anh nhớ trong mơ
Trang 21Em rất thực nắng thì mờ ảo
Xin đừng lầm em với cố đô
Áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy
Nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền
Nón rất Huế mà đời không phải thế
Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng
Nhịp cầu cong và con đường thẳng
Một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu
Con sông dùng dằng con sông chảy ngược
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu
Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt
Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya
Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng
Anh trở về hoá đá phía bên kia”.
(Huế, 1980)
Tiểu sử Thu Bồn
Nhà thơ Thu Bồn, tên thật là Hà Đức Trọng (sinh ngày 1 tháng
12 năm 1935 tại Quảng Nam, mất ngày 17 tháng 6 năm 2003), là một nhàthơ, nhà văn Việt nam
Thu Bồn sinh tại xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, vào
bộ đội năm mười một tuổi và là thiếu sinh quân ở đơn vị biệt động chiến đấu Trong thời gian chiến tranh Việt nam, ông làm phóng viên chiến
trường Liên khu V sau đó về làm việc tại Tạp chí Văn nghệ quân
đội thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam Thu Bồn là
ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ miền Trung Trung Bộ và ủy viên
Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV Ngoài bút danh đặt theo
tên dòng sông Thu Bồn quê hương, ông còn có các bút danh khác là Hà Ðức Trọng, Bờ Lốc.
Trang 22Ngoài thơ, Thu Bồn còn viết tiểu thuyết, nhưng ông được biết đến nhiều
với những bài trường ca, trong đó Bài ca chim Chơ Rao vẫn được coi là
thành công có tính định hướng cho phong cách tiêu biểu của ông và
“không những là tác phẩm từ miền Nam gửi ra khá sớm, mà còn là bản trường ca đầu tiên của văn học giải phóng” Đây là khúc ca ca ngợi lòng yêu tự do, ý chí bất khuất của những con người Tây Nguyên trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ được giảng dạy ở chương trình giáo dục phổ thông của Việt nam
Các tác phẩm chính
Bài ca chim Chơ Rao (trường ca, 1962),
Tre xanh (thơ, 1965),
Mặt đất không quên (thơ, 1970),
Những đám mây mầu cánh vạc (tiểu thuyết 2 tập, 1975);
Oran 76 ngọn (trường ca, 1979),
Người vắt sữa bầu trời (trường ca, 1985)
Thông điệp mùa xuân (trường ca, 1985)
Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên (thơ, 1992)
Tôi nhớ mưa nguồn (thơ, 1999)
Trường ca tuyển tập (1999)
Gỡi lời con đến cùng cha
Quê hương mặt trời vàng
Các giải thưởng
Giải văn học Nguyễn Đình Chiểu
Giải thưởng văn học quốc tế Lotus của Hội Nhà văn Á Phi (1973)
Giải thưởng báo Hà Nội Mới (1969)
Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001
Bài thơ này được Thu Bồn viết sau chuyến đi Huế (đã được nhạc sĩ Nhạc Xuân An phổ nhạc) bằng giọng địa phương truyền cảm “rượu hồng đào chưa nhấm đã say”
Với chỉ chừng hai mươi câu và một trăm sáu mươi âm tiết, thi sĩ đã là một họa sĩ phác họa cả bức tranh thủy mặc về Huế vừa hữu tình chất chứavừa hữu duyên mà mở đầu bài thơ thi sĩ đã có cái cớ “Bởi vì em dắt anh”
mà cảnh và tình ở đây nhập vào làm một Con người Thu Bồn là sự kết hợp của những gì tưởng chừng khó kết hợp, vừa hào sảng vừa nhiệt tình,
Trang 23vừa đa tình vừa thật tính, anh có cái chất của người rất Quảng Nam nên tình yêu cũng rất tinh tế, nhịp nhàng.
Thơ kết hợp với hiện thực vì trong đó chất chứa tình cảm của một người luôn nghĩ tới tình yêu, đa tình đa sầu đa cảm như vậy nên Thu Bồn đã chỉ có thể “Tạm biệt Huế với em
là tiễn biệt” Hình ảnh của người đi và người
ở lại, người ra đi vì một lý do khách quan nào
đó còn người ở lại trong hoài cảm “minh mang” chứ không là “mênh mông”, “tiễn biệt” chứ không là “ly biệt”, “tạm biệt”,
“vĩnh biệt” - một vị từ thật đắt chỉ có Thu Bồn vì yêu quá mới có cái dùng từ vi diệu như thế Chỉ “một lần đến” vậy mà “ngàn lần nhớ trong mơ” So sánh như thế không gì là khập khiễng vì “Em rất thực nắng thì mờ ảo
Xin đừng lầm em với cố đô”
Cố đô Huế là vẻ đẹp của “lăng tẩm” trầm lặng và là của thiên nhiên ban tặng cho đất thần kinh nhưng với em là vẻ đẹp của “áo trắng” thướt tha cầu Tràng Tiền trong cái gió lộng tư bề Cổ kính như Huế nhưng với em thì truyền thống trong cách tân hiện đại để có yêu, có nhớ có nên duyên
vợ tình chồng thì âu đó cũng là quy luật tự nhiên vậy Thế nhưng lòng thi
sĩ đã ngà ngà say men hồng đào xứ Quảng mà lảo đảo chếnh choáng hơi men tình Câu ca dao xưa nói rất thật ở trong tình cảm nhà thơ lúc
này: “Học trò ở Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế chân đi không đành!” thật đúng quá với Thu Bồn.
Tôi là người con của xứ Huế, mặc dầu vì hoàn cảnh mà đã gần cái tuổi bamươi nhưng chưa một lần được về quê cha đất mẹ để cảm cái tĩnh
mịch của Huế mộng Huế mơ, nên khi đọc bài thơ này tôi thật sự xúc độngkhông phải vì ngôn từ hoa mỹ mà vì lòng người Huế cứ ám ảnh tôi nhớ
đến Ba Mạ với giọng Rất Huế nơi quê nhà Con người Huế, cảnh Huế
được con mắt rất tinh của thi sĩ Thu Bồn chộp lại thật đẹp trong huyền ảo bảng lãng hơi sương của “12 nhịp Tràng Tiền”, Sông Hương làm nên Huế bằng lòng sông của phá Tam Giang hợp lưu lại:
“Con sông dùng dằng con sông chảy ngược
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”
Nhà thơ Thu Bồn và vợ là
nghệ sĩ Lý Bạch Huệ
Trang 24Từ láy “dùng dằng” của con sông là sự mềm yếu nhưng rất mạnh mẽ “giữmình” của cô gái Huế để khi về thi sĩ chỉ dám “hôn thầm lặng” rồi “hóa đá” Xưa nay chỉ có biểu tượng “Hòn vọng phu” chỉ thiếu phụ chờ chồng chinh chiến trở về mà ôm con hóa đá Nay Thu Bồn vì yêu mà “hóa đá bên kia” - ở Ngũ Hành Sơn-quê hương thi nhân chỉ cách quê em-Huế mộtdãy đèo Hải Vân.
Như nhà thơ Chế Lan Viên thừa nhận: “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương” với Thu Bồn quả chẳng ngoa chút nào
5.Vào chùa - Đồng Đức Bốn.
Vào chùa
Đang trưa ăn mày vào chùa
Sư ra cho một lá bùa rồi đi
Lá bùa chẳng biết làm gì
Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày.
Tiểu sử Đồng Đức Bốn
Đồng Đức Bốn(30 tháng 3, 1948 - 14 tháng 2, 2006) được sinh ra trong
một gia đình lao động nghèo ở ngoại ô Hải Phòng Năm 1966, ông gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong Sau đó, ông làm thợ cơ khí (bậc
6 trên 7) tại Xí nghiệp Cơ giới của Tổng Công ty Xây dựng Bạch Đằng (Hải Phòng), Xí nghiệp Cơ khí 20-7 rồi Công ty Xuất nhập khẩu gia cầm Hải phòng Ông được làm đại diện cho công ty này tại Hà nội và bắt đầu sáng tác thơ vào cuối những năm 1980
Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Đồng Đức Bốn mất ngày 14 tháng 2 năm 2006 tại nhà riêng ở thôn Song mai, xã An hồng, huyện An Hải, Thành phố Hải phòng khi ông 58 tuổi bởi bệnh ung thư phổi
Các tác phẩm
Con ngựa trắng và rừng quả đắng NXB Văn học, 1992
Chăn trâu đốt lửa NXB Lao động, 1993
Trở về với mẹ ta thôi NXB Hội nhà văn, 2000
Cuối cùng vẫn còn dòng sông NXB Hội nhà văn, 2000
Trang 25 Chuông chùa kêu trong mưa 2002
Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc NXB Hội nhà văn 2006 (tập thơ cuối
Một sải xuồng bơi
Một nọc ong châm góp làm sự nghiệp
Gốc tre xanh thắng trận cả ba đời
Ba mươi triệu tấm lòng xông ra tuyến lửa
Vạch lối điều quân
Vai chảy xe thồ
Trồng cây xanh che chở
Mỗi bước quân đi
Đánh trận trường kỳ
Đêm trước nấp trong lùm bắn tỉa
Sớm sau dàn trận chính qui
Đến trận bão hiệp đồng cả nước
Mỗi sư đoàn mang gió lốc bay đi
Đất giải phóng thênh thang
Sẽ cho ta dàn đội ngũ - sư đoàn
Phía trước gọi ta
Những Điện Biên vòng đai thép tung ra làm chiến dịch
Trang 26Đòn gánh hậu phương vượt đèo đi phản kích
Hành quân
Hành quân
Trùng điệp những sư đoàn
Đi lên phía Bắc
Tràn về hướng Nam
Những vị tướng lại cầm quân đi đánh giặc
Trải bản đồ
Còn nguyên
Vạch chỉ đỏ thắt quanh hầu giặc Pháp
Bài học chiến tranh nhân dân
Doi cát Cửu Long xanh
Sư đoàn Châu Thổ
Giữa bãi sú, rừng tràm
Vụt đứng dậy sư đoàn Nam Bộ
Sư đoàn Tây Nguyên
Từ hầm chông bẫy đá cung tên
Này đây Cực Nam Phan Rang - Phan Thiết
Này đây Quảng Ngãi - Phú Yên
Trên nguồn xa Ô Lâu - Thạch Hãn