1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÌNH THƠ TỪ 100 BÀI THƠ HAY THẾ KỶ XX - TẬP II

209 705 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 209
Dung lượng 649 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

– Cây đàn yêu đương làm bằng thơ Dây đàn yêu đương run trong mơ … – Tôi qua tim nàng vay du dương Tôi mang lên lầu lên cung Thương Tôi không bao giờ thôi yêu nàng Tình tang tôi nghe như

Trang 1

BÌNH THƠ TỪ 100 BÀI THƠ HAY THẾ KỶ XX - TẬP II

Quê: Quảng Ngãi

Tác phẩm thơ đã in: Tinh huyết, Thơ Bích Khê

Tì Bà

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mền Trăng đan qua cành muôn tay êm Mây nhung pha màu thu trên trời Sương lam phơi màu thu muôn nơi

Vàng sao nằm im trên hoa gầy Tương tư người xưa thôi qua đây Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề Hoa vừa đưa hương gây đê mê

Cây đàn yêu đương làm bằng thơ Dây đàn yêu đương run trong mơ Hồn về trên môi kêu: Em ơi

Trang 2

Thuyền hồn không đi lên chơi vơi

Tôi qua tim nàng vay du dương Tôi mang lên lầu lên cung Thương Tôi không bao giờ thôi yêu nàng Tình tang tôi nghe nhu tình lang

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu Sao tôi không màng kêu: Em yêu Trăng nay không nàng như trăng thiu Đêm nay không nàng như đêm hiu

Buồn lưu cây đàn tìm hơi xuân Buồn sang cây tùng thăm đông quân Ô! Hay buồn tương cây ngô đồng Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông.

Lời bình

Tạo nên khúc Tì bà bằng ngôn ngữ thơ, Bích Khê có hai sởhữu:

Trang 3

Thứ nhất là một mối tình run rẩy với giai nhân “Ôi! Nàng nămxưa quên lời thề” Tất cả những thiết tha, đắm say, mơ mộng dànhcho người đẹp giờ đây dồn hết cho âm nhạc, dâng lên cao nhất từđoạn ba tới đoạn năm, người đọc gặp ở đây tình – nhạc, nhạc – tìnhhoà lẫn, hiện hình trong cùng một lúc xúc cảm, câu chữ, hình ảnh,

âm điệu… Khó mà tách bóc trước sau những yếu tố trên trongnhững cặp đôi hay đến chót vót

– Cây đàn yêu đương làm bằng thơ Dây đàn yêu đương run trong mơ …

– Tôi qua tim nàng vay du dương Tôi mang lên lầu lên cung Thương Tôi không bao giờ thôi yêu nàng Tình tang tôi nghe như tình lang

… – Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi

Nhưng điệu Tì bà phải dần dần hạ xuống bởi niềm say đắmmiên man của chàng thi sĩ chỉ là đơn độc

Trăng nay không nàng như trăng thiu Đêm nay không nàng như đêm hiu

Không phải sở hữu người tình mà sở hữu một mối tình không,người thi sĩ đã lấy mối đau đớn hi sinh kia làm “vốn” tạo nên khúc Tì

bà thơ truyền đời Nảy sinh từ cao thượng ấy, Bích Khê đã mang tớicho thơ Việt những cấy ghép mới đầy cách tân so với thơ mới đươngthời: trăng thiu, đêm hiu Hành xử táo bạo “tiên phong” ấy vẫn cứ là

Trang 4

một kêu gọi không bao giờ lùi bước trước sáng tạo thơ cho tới hômnay và mãi mãi.

Sở hữu thứ hai với tác giả Tì bà là thiên nhiên mùa thu tuyệtvời Vừa hỗ trợ, làm mồi dẫn, vừa là lối thoát cho trái tim đau đớn.Ngay vào bài đã song song có mặt cùng với nàng là mùa thu huyềndiệu Vô cùng tinh tế, ý nhị, vừa kín đáo lại vừa mênh mang:

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mền Trăng đan qua cành muôn tay êm Mây nhung pha màu thu trên trời Sương lam phơi màu thu muôn nơi

Khúc cuối bản Tì bà, giải thoát cho nỗi vô vọng về người đẹp,

đã thánh thót những dây đàn hoà nhập vào mùa thu trùm phủ khắptrời đất, buồn nhưng đẹp đến vô bờ:

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông

Không phải tắt âm với lá rụng với tuyệt vọng mà mở ra, dậylên men sống của sắc đẹp mùa thu… Cây đàn tì bà – trái tim ngườinghệ sĩ – thi sĩ trong bao khắc khoải vẫn dâng hiến cho đời vẻ đẹpbất tuyệt

Trong lá thư gửi Hàn Mặc Tử, Bích Khê công bố một quyếtđịnh: trong khoảng thời gian ba đến sáu tháng hoặc sẽ bẻ bút, hoặc

sẽ trở nên một thi sĩ phi thường Tập thơ Tinh huyết chính là sảnphẩm phi thường ấy, trong đó cùng với một số bài thơ “trổ hoàinghi” (Điểm lạ trổ hoài nghi – Bích Khê), có Tì bà Dụng ý nghệthuật xây dựng một áng thơ gồm toàn những từ ở thanh điệu bằngngang (bằng cao) và thanh điệu bằng thấp (bằng có dấu huyền),thật dễ nhận ra Nhưng một tay thợ chữ khéo cũng có thể gắng gỏi

Trang 5

làm được chúng ta phục cảm tài năng một thi sĩ với không ít khámphá ngôn ngữ thơ trong Tì bà Những lửng lơ quấn quýt (đoạn 1,đoạn 2), những dâng cao tha thiết (đoạn 3, đoạn 4, đoạn 5), vẻmỏng gầy thất vọng (đoạn 6), sự lan tỏa hòa đồng (đoạn 7), thanhbằng chảy suốt bài thơ đã đắc lực góp vào thể hiện những cung bậctình cảm đan xen ấy Trong âm nhạc, sự láy lặp từ và nhịp rất quantrọng để tạo giai điệu Bích Khê nắm vững đặc điểm nghệ thuật đó

để sáng tác một bài thơ biểu hiện một bản nhạc, chứ không phảilàm lời, làm ca từ cho một nhạc sĩ phổ nhạc Tài năng chính ở chủđộng đầy tự tin ấy Đây là một văn bản thơ hẳn hoi, hoàn chỉnh Chỉ

có thơ mới tạo được thứ nhạc này:

– Tôi qua tim nàng vay du dương – Tình tang tôi nghe như tình lang

Lợi thế lặp lại, láy lại từ ngữ cấu tạo song song trong hai câu,hoặc ngay trong một câu để tạo giai điệu dằn vặt hoặc mê đắmcuốn đi đã bộc lộ tài năng kiến trúc ngôn ngữ khó trộn lẫn của BíchKhê Một người bạn vừa tặng tôi một tập thơ mới hiện đại Tôi thíchbởi thơ này gần gũi với nhịp điệu những ngày tôi đang sống Trongmấy ngày chịu ám ảnh của âm nhạc Tì bà được viết cách đây quánửa thế kỉ, tự nhiên thưởng thức của tôi cứ bị vòng trở lại…

TRÚC THÔNG

2 TRẦN ĐĂNG KHOA

Sinh: 1958 Quê: Hải Dương

Hiện sống và viết tại Hà Nội

Tác phẩm thơ đã in: Từ góc sân nhà em, Góc sân và khoảngtrời, Khúc hát người anh hùng (trường ca), Bên cửa sổ máybay, Thơ Trần Đăng Khoa

Trang 6

Gửi Bác Trần Nhuận Minh

Bỏ làng ra thành phố

Hai anh em thợ cày

Thân cũng như hoa cỏ

Hồn gửi vào gió mây

Người bảo bác theo Đỗ

Em phải học Lí thôi

Bác đã bay dưới đất

Em đành đi trên giời

Bác âm thầm chìm nổi

Cùng kiếp người lang thang

Em lông nhông bầu bạn Với kiến đen chó vàng

Bao nhiêu là giun dế

Trang 7

Khi buồn thì hát ca

Lúc lui thì im lặng

Em quấy bầu trăng gió

Bác gánh bao nỗi người

Trả niềm vui cho cỏ

Trả nỗi buồn cho cây

Lại áo tơi nón lá

Ta về với luống cày

Trang 8

Trần Đăng Khoa là em ruột Trần Nhuận Minh Thuở chín –mười tuổi, chú bé Khoa ở xã Quốc Tuấn huyện Nam Sách, tỉnh HảiDương làm thơ nổi tiếng như một thần đồng thì anh Trần NhuậnMinh của chú dạy học và lầm lụi làm thơ về than, về mỏ ở thị xãHòn Gai Anh Minh được về hậu vận Bây giờ thì cả hai anh em, kẻtrước người sau, đều đã được Giải thưởng Nhà nước về thơ Bài thơnày như một trích ngang lí lịch nghệ thuật của hai anh em do chú

em láu lỉnh Trần Đăng Khoa tự khai

Mở đầu tự nhận: anh em mồ xuất thân thợ cày, bỏ làng raphố Cái nguồn gốc xuất thân ấy tạo thuận lợi cho tác giả dùnggiọng thơ nửa khôn nửa dại, nghe chất phác thật thà mà ranh masắc sảo Cái biến báo lấp lửng đùa đùa vốn là khẩu khí thường ngày

của Khoa vào bài thơ tự trào này hóa ra đắc địa Thân cũng như hoa

cỏ – Hồn gửi vào gió mây Hai câu thơ thâu tóm thân và phận, nói

ra bằng giọng khiêm nhường thân như cỏ mà nghĩa lí lại sang trọng,

hồn ôm trời Bác theo chân ông Đỗ, em học trò ông Lí Theo và học

là khiêm nhường lắm lắm Nhưng ông Đỗ là ông thánh thơ Đỗ Phủ

và ông Lí là ông tiên thơ Lí Bạch Hai ông khổng lồ của thơ Đường.Một ông hiện thực thâm trầm, một ông lãng mạn phóng khoáng.Ông hiện thực bao quát việc dưới đất, ông lãng mạn mê say việctrên trời Bác Minh nhà chú Khoa thuộc phía dưới đất Thơ TrầnNhuận Minh trong mươi năm cuối thế kỉ XX quả có bước tiến vượtbậc trong việc dựng chân dung xã hội và chân dung nhân vật, khắchọa khá tài tình một thực trạng hiện thực nhiều nghịch lí, nhiều xótthương Tác giả phân công ông anh dưới đất Nhưng dưới đất màbay, bay dưới đất Còn mình thì trên giời Nhưng trên giời mà lại đi

đi trên giời Bảo Khoa nói thế là để tôn trọng anh và tự giễu cái may

về “hộ khẩu” của mình cũng đúng mà bảo là Khoa coi trên giời cũng

như dưới đất, thì cũng không sai Nhất là cái chữ đành, Em đành đi

Trang 9

trên giời Thiết gì giời Đâu thì cũng là chỗ đặt chân Bạn đọc khó

tính bảo ông này kiêu ngầm: cho hắn lên giời mà hắn cũng chánchết Có lần tôi còn nghe một bạn thơ bình luận vui, vui mà cũngkhiếp: “Anh hắn chiếm dưới đất, còn hắn: trên giời – thế thì thiên

hạ hết chỗ” Cũng là suy diễn Trên trời dưới đất là thoát thai từkhái niệm lãng mạn và hiện thực thôi Khoa có nói gì đến độc chiếmkhông gian đâu

Về các nhân vật của thơ Trần Nhuận Minh, tác giả nói đúng:Bác âm thầm chìm nổi – Cùng kiếp người lang thang Nhân vật thơcủa Trần Nhuận Minh trong giai đoạn thành công nhất của ông lànhững người cùng khổ, gánh chịu nhiều bất công Cái tình của TrầnNhuận Minh đối với họ sâu đậm, ông chìm nổi với họ Khoa viết thế

là hiểu lòng anh, là biểu dương anh Còn Khoa, so sánh với anh, thìthơ thẩn chỉ là một thứ lông nhông Em lông nhông bầu bạn – Vớikiến đen chó vàng Kiến, chó, giun, dế… quả là các “nhân vật”thường gặp trong thơ chú bé thần đồng Trần Đăng Khoa dạo ấy

Bài thơ có kết cấu song song, đoạn nói anh so sánh liền vớiđoạn nói em Tài năng ông em chín sớm, quá sớm, thành một hiệntượng độc đáo, chưa có tiền lệ Tài năng ông anh lại chín muộn Màthơ thì đang nói ở đoạn đầu đời Trần Đăng Khoa ý tứ, khi nói về sựnghiệp của anh, giọng thơ ông trân trọng, cách nhìn thân kính, nhận

ra nỗi vui buồn kín đáo của anh trong niềm cảm thông xa vắng:

Bác làm bông lau ngàn Thả hồn vào hoang vắng Khi buồn thì hát ca

Lúc vui thì im lặng

Còn khi nói về mình, ông xuê xoa tếu táo, thoáng chút giễucợt, cố xóa đi cái ấn tượng “thần đồng” mà người đời gán cho mình

Trang 10

Bao nhiêu là giun dế

Đã khiêng vác em lên Tên tuổi em xủng xoảng Những mõ ran trống rền…

Cũng có người cho là Khoa tự kiêu, coi thiên hạ hâm mộ thơmình như giun dế Trong đời, tôi không thấy thế, mà trong các câuthơ này cũng không có ý ấy Đoạn này tác giả Trần Đăng Khoa đangnói tới những nhân vật trong thơ của “bác Minh” và của mình TrầnNhuận Minh viết về thợ mỏ, thơ ông gánh nông nỗi con người nơi bờlau bãi gió Còn thơ Khoa thì nhung nhăng chuyện con giun đào đất,cây dưa đủng đỉnh, con chó sợ tiếng bom, con mèo chơi tam cúc,

ông trăng thì như quả bóng thằng nào đá lên trời… Khoa thấy thơ

anh mình mang nghĩa lớn, mà phận anh (khi ấy) thì đơn độc Cònmình trăng gió đâu đâu, chẳng làm no làm ấm được ai mà tên tuổilại xủng xoảng Lúc bé chắc cũng thích Bây giờ hiểu việc đời thấycũng hão huyền, nhí nhố, ồn ào Lòng người thơ muốn yên tĩnh lại.Vật của cỏ thì trả cho cỏ, buồn của cây thì trả cho cây mà quay vềnghe thật lấy lòng mình Ngược với hai câu đầu của bài thơ, giờ đâyKhoa rủ anh bỏ phố về làng, về lại nơi bắt đầu, áo tơi nón lá, nhưngcõi lòng thanh nhẹ thung thăng Ý thơ nhuốm vị tiêu dao Lão Trang.Khoa viết bài thơ này ở tuổi bốn mươi Nguyện vọng “về hưu” sớmquá! Tôi không tin Có lẽ do cái thế tư duy của thơ đẩy đến tình thế

ấy Thơ nói, chứ chưa phải Khoa nói Thực tế, lúc này Khoa đang mởmột hướng mới cho ngòi bút, ấy là văn xuôi Văn xuôi Khoa vuihóm, mà lại sâu sắc thâm trầm Và Trần Nhuận Minh khai sinh mạchthơ hiện thực đầy sức nặng, rất được công chúng tin cậy Ông đượcbầu làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Ninh Làm việc năng nổ lắm.Không có chuyện về làng đâu Dù bây giờ ra đồng anh em họ không

Trang 11

cưỡi trâu mà cưỡi thơ như hai ông tiên ấy Họ cũng chả về Khoahay nói trạng, cũng là cách ướm thử lòng mình vào lại cõi hàn vinhư một rèn luyện, một nhắc nhở: Đừng có hoắng! Thế thôi!

Ý thơ Đất trời thì chật hẹp – Làng quê thì mênh mông ngỡ như

nói ngược, nhưng chính là đúc kết một chiêm nghiệm, thầm lặnghiểu tấm lòng thơm thảo hồn nhiên của người dân quê Đến đây thìkhông thể nào nói Trần Đăng Khoa khinh bạc độc giả khi đọc câu

thơ Bao nhiêu là giun dế – Đã khiêng vác em lên.

Đặc sắc của bài thơ này là tình chân thực, giọng bình đạm, chothấy tình anh em thương trọng nhau thấm thía Còn muốn tìm bàiđộc đáo, tiêu biểu của đời thơ Trần Đăng Khoa thì vẫn phải tìm ở

giai đoạn Góc sân và khoảng trời thơ ấu.

13–9–2007

VŨ QUẦN PHƯƠNG

3 NGUYỄN KHUYẾN

Sinh: (1835 – 1909) Quê: Hà Nam

Còn được gọi là Tam nguyên Yên Đổ

Thu điếu

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt, Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Tựa gối buông cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Trang 12

Trước hết hãy xét các chi tiết hiện thực được dùng làm nguyênliệu cho thơ Một cái ao, đủ rộng để người câu cá có thể dùngthuyền, dù là con thuyền nhỏ, một lối ngõ trúc đủ dài để lượn quanh

co Hai mươi năm đổ lại đây, giá đất lên cao, ao chuôm ở nông thôn

bị lấp đi nhiều Mấy cái ao rộng trước từ đường Nguyễn Khuyến ởthôn Bùi đã được xếp loại di tích văn hoá mới còn nguyên vẹn chokhách về thăm dễ hình dung cảnh trí bài thơ này Nhưng các ngõ thìtrúc không còn mà cũng không còn được quanh co nữa, tốn đất, lạikhó cho xe máy đi nhanh Nói thế để thấy thơ phong cảnh quêhương làng nước nhà mình của Nguyễn Khuyến hay của một ai hậuthế như Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Bàng Bá Lân… đã dần

dà trở thành hiện vật hình ảnh trong bảo tàng tâm hồn của chúng tarồi Mỗi lần đọc là một lần ta sống lại cảnh xưa và nhập vào hồn cũ

Bài thơ làm theo luật Đường, tiếng rằng tám câu, nhưng bốncâu giữa thu lại chỉ là hai cặp Có mở ra mà ôm cảnh cũng chẳngđược bao nhiêu Nhà thơ buộc phải dùng thủ pháp chấm phá, điểmvài nét mà tạo thần thái cho cảnh sắc, đánh thức vào tưởng tượngcủa người đọc Những bạn đọc trẻ hôm nay không kịp biết nôngthôn xưa chắc sức cảm thông lưu luyến với bài thơ này cũng có

Trang 13

phần trở ngại Không biết ngành điện ảnh có lưu giữ được nhữnghình ảnh quê hương ta của thời xa cũ ấy không.

Thơ nói chuyện câu cá, nên mở bài Nguyễn Khuyến vào ngaycái ao và con thuyền câu nhỏ Hai giác quan được huy động ngaytrong câu thơ đầu: lạnh lẽo và trong veo, gợi hơi thu xứ Bắc Conthuyền câu trong ao vốn nhỏ, nhưng trạng từ tẻo teo lại làm cho nónhỏ thêm Trời thu cao và rộng nên con thuyền hoá nhỏ hơn, cáingõ trúc cũng vì thế mà quanh co hơn Tả dưới đất mà cho cảmnhận trên trời Đấy là chỗ tinh tế có sẵn trong hồn Nguyễn Khuyến,không phải do khôn ngoan của bút pháp mà nghĩ ra đâu, nên giọngthơ thanh thoát thoải mái, không định mà thành

Ở trên tôi có nói bốn câu giữa thành hai cặp, ấy là hai câu thực

ba bốn và hai câu luận năm sáu Dưới bút Nguyễn Khuyến, bốn câunày đều là thực cả, không luận chi hết Hai câu đối nhau, lại cùng tảcảnh dễ thành áp đặt, công thức kiểu con chó đi ra thì con mèo phải

đi vô, như hồi nào các nhà Thơ mới chế giễu thơ cổ điển NguyễnKhuyến tài hoa, ông đối lời, nhưng ý thơ thì lại đi liền trong một vế

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Đối rất chỉnh từng loại từ, nhưng câu dưới mở không gian rộnghơn, động hơn, tốc độ hơn, khẽ đưa vèo Tránh được đơn điệu tronglặp ý, lại tạo sinh động cho cảnh Nhưng cặp đối sau đó, tác giảkhông lập lại dạng thức này Ông giữ nguyên nhịp độ chuyền ýtrong hai câu như nhau, cả hai đều là cảnh tĩnh, nhưng hướng mộtcảnh theo chiều cao, một cảnh theo chiều rộng; Tầng mây lơ lửngtrời xanh ngắt gợi một chiều cao sâu thẳm ở trên đầu Ngõ trúcquanh co khách vắng teo Con ngõ như hẹp lại và dài ra, lại vắng

Trang 14

người đi, nên mở một chiều ngang cũng sâu hút, tịch mịch Khônggian lặng lại, bất động, chuẩn bị sự bất động của con người ở ý kết.

Con người, cố nhiên là ông câu cá, ở đây là chính tác giả Nếu

sa vào cảnh nữa thì lạc đề, phải trở lại chuyện câu cá Người câu mànhư không câu, có giật, có lôi gì đâu, cứ tựa gối buông cần, tự lúcnào rồi vẫn im như tượng Không cả chút nhấp nháy trên phao

Không hiểu sao ba chữ đ trong cá đâu đớp động lại gợi một sự

nghiêng tai lắng nghe mà không thấy tiếng Nhưng không phải sựnghiêng tai của ông câu Sự nghiêng tai của người đọc Ông câutrầm tư quá Không hiểu ông câu cá hay câu tâm hồn mình

Bài thơ tả ít mà gợi được thần thái phong cảnh mùa thu xứBắc Bút pháp kĩ càng mà lại thoải mái, tự nhiên Đấy cũng là đặcđiểm của tài thơ Nguyễn Khuyến Nhưng đẹp, tinh thì vẫn chỉ là một

bài thơ phong cảnh, kiểu Bức tranh quê của nữ sĩ Anh Thơ Người,

ông câu, cũng là một yếu tố của cảnh Bạn đọc hôm nay khi sửdụng một bài thơ thèm được sở hữu nhiều hơn thế Có lẽ đấy là lí do

để sau Nguyễn Khuyến, thơ nước ta phải chuyển sang hình thức mớisao cho chất chứa được nhiều hơn việc của lòng người

Trang 15

Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách

Ông lái buồn để gió lén mơn râu

Ông không muốn run người ra tiếng địch Chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao

Vì đìu hiu, đìu hiu, trời tĩnh mịch

Trời gõ vàng, trời thiếu những gì sao

Trôi quanh thuyền, những lá vàng quá lạnh

Tơ vương trời, nhưng chỉ rải trăng… trăng Chiều ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh

Để đêm buồn vây chủ bến Mi Lăng

Nhưng đêm kia đến một chàng kị mã

Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu li

Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả

Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi

Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách

Đế thuyền hồn bơi khỏi bến Mi Lăng

Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách

Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng

Trang 16

Bến Mi Lăng còn lạnh, bến Mi Lăng Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng.

Lời bình

Thuở Yến Lan viết Bến Mi Lăng ông đang ở Trường thơ loạn(thơ điên) cùng Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử mà tuyên ngôn là lờitựa tập thơ Điêu tàn Nhưng Yến Lan không “điên cuồng” như HànMặc Tử, Chế Lan Viên mà “Yến Lan đi quá xa” trong miền mơ mộng,như Hoài Thanh nhận xét Bài thơ Bến Mi Lăng chính là “Cả trờithực, trời mộng vẫn nao nao theo hồn ta”, theo với cái say trăngtrên Bến Mi Lăng của Yến Lan

Bài thơ mở ra với cái vô sự của tất cả, cả cảnh vật và conngười đều vô sự “Bến Mi Lăng nằm không”, một cái bến cô liêu,một không gian tịch liêu; một con thuyền “đợi khách”, con thuyềncũng nằm im trên bến vì không có khách sang sông Vắng khách,ông lái chẳng chở đò đã đành, mà cũng “chẳng buông câu” kiếmdăm ba con cá ăn, hay để tiêu sầu Ông lái đò không uống rượu vì

“rượu hết rồi”; ông lái đò không đọc sách để “Trăng thì đầy rơi vàngtrên mặt sách” Ông lái đò không thổi sáo, không “run người ratiếng địch” không nhờ tiếng sáo chở hồn “lên tắm bến trăng cao”.ông lái tôn trọng cái “đìu hiu” của đất, cái “tĩnh mịch” của trời, cứ đểcho tất cả trời đất vạn vật trong trạng thái tự nhiên, như nhiên Trờiđêm ấy “võ vàng” như gầy hơn, tiều tụy hơn vì trăng tỏ nhưng sao

mờ “trời thiếu những vì sao” Không gian có gió, nhưng gió quá nhẹ,gió mơ hồ chỉ đủ để khẽ lay động mấy sợi râu, gợi thêm chút buồncho ông lái đò: “Ông lái buồn để gió lén mơn râu” Dòng chảy dướibến cũng chỉ là một dòng quẩn đưa những xác lá vàng “trôi quanhthuyền”, chẳng cuốn lá đi xa “Những lá vàng quá lạnh” vì chúng đã

là những xác lá chết, đã lìa cành quẩn theo dòng nước lạnh “Chiều”

Trang 17

của Yến Lan không giống “chiều” của Hồ Dzếnh “Chiều” Hồ Dzếnhnhư một tình nhân trong phút chia tay lưu luyến, bịn rịn cứ muốnníu kẻo “ngày” lại: “Chiều chậm đưa chân ngày” Còn “chiều” củaYến Lan là thứ “chiều nghi ngút”, một thứ chiều vừa đơn côi vừa tủibuồn, nó “dài trôi về nẻo quạnh”, để nhanh chóng bàn giao cho

“đêm” quản lí toàn bộ không gian bến Mi Lăng: “Để đêm buồn vâyphủ bến Mi Lăng” Yến Lan đã công phu chuẩn bị đến như thế đểđắm mình trong đêm trăng bến Mi Lăng, ru hồn với trăng và bịtrăng hút hồn

Đây không phải là “nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự” (Trăngnhàn hạ soi bóng người nhàn hạ) của Trần Nhân Tông khi ông vềchơi ở Hành cung Thiên Trường; mà cũng không phải cái thứ môtipông lão chài hóa đá trong Vọng Trường Dụng của Vương Xương Linhđời Đường bên Trung Quốc, đừng nhọc lòng đi tìm mối liên hệ xa xôinhư thế làm gì Đây hẳn hoi là cảm xúc, cảm nhận của một hồn thơlãng mạn mơ mộng bậc nhất, “đi quá xa” trong miền mộng mơ củaThơ mới đương thời

Hoài Thanh đã rất tinh tế và nhạy cảm khi khái quát cái chấtcủa các thi sĩ Bình Định là “cái vầng trăng vẫn thường ám ảnh” hồnthơ họ Nếu có mối liên hệ nào của Yến Lan với Hàn Mặc Tử trongTrường thơ loạn thì đó chính là cái bến sông trăng và con thuyềnhồn, con thuyền chở trăng về với người, chở hồn người lên với trăngnhư thiết lập một giao thông huyết mạch cho THƠ Nếu thiếuTRĂNG thì THƠ không chảy trong huyết quản của thi sĩ Trăng làkhoảng vọng Mĩ Nhân của Hàn Mặc Tử: “Trăng nằm sóng soãi trêncành liễu – Đợi gió đông về để lả lơi” (Bẽn lẽn) Nhưng trăng củaYến Lan lại khác: “Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách”, trăng rắcbụi vàng lên nẻo đường dương thế khiến cho chàng kị mã đến bến

Mi Lăng một đêm trăng phải… “gọi đò, gọi đò như hối hả – Sợ trăng

Trang 18

vàng rơi khuất lối chưa đi” mà có thể lạc đường Áo chàng kị mã cómàu “ngọc lưu li” xanh biếc đã “nhúng đầy trăng” Trăng dát vànglên cành cây ngọn lá “Tiếng gọi đò” được nhắc đến năm lần rung lêngiữa hư không của đêm trăng vàng bến Mi Lăng chẳng lay độngđược ai, chỉ làm “run rẩy cả ngành trăng”:

Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng.

Trăng Mi Lăng là những sợi tơ trời quấn quýt lấy hồn người:

Tơ vương trời, nhưng chỉ rải trăng… trăng

Cái đêm trăng vàng đầy tơ vương Mi Lăng đã làm một điều tộilỗi: nó quyện hồn Yến Lan vào hồn ông lái đò rồi cả hai khua nhẹmái chèo “Để thuyền hồn bơi khỏi bến Mi Lăng”, “Chở mãi hồn lêntắm bến trăng cao”

Say trăng đến hồn lìa khỏi xác, say trăng đến chết thì là thứsay cao nhất rồi Nhưng say trăng là say Cái Đẹp, là say Mộng.Thiếu trăng, thiếu cái đẹp, thiếu mộng thì lấy gì cho máu chảy trongtim, trong huyết quản của thi sĩ?

Thi sĩ tôn thờ Cái Đẹp suốt đời đi tìm cái đẹp, gắn bó phần hồntinh túy với trăng, hiện thân của cái đẹp, đến chết vẫn vương sợi tơtrời Khi đã nâng hồn lên tầng của cái đẹp vĩnh hằng thì sẽ bay sạchmùi độ nhật kiếm cơm của ông lái đò, mùi tanh của con cá câu trênbến Mi Lăng, bay sạch men rượu dễ làm ta không tỉnh táo, sẽ khôngcòn phải nghe tiếng hối thúc của chàng kị mã hối hả cưỡi ngựa qua

đò đi tìm hư danh trên những nẻo đường trần thế Hồn lãng mạncủa Yến Lan chính thức nằm trong Trường thơ loạn cùng Chế LanViên là ở ý nghĩa này Nó tạo ra “cái không khí lạ lạ nhưng nhẹnhàng dễ khiến người ta thích” (Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nanh

Trang 19

Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài

“Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay”

Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê triết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm;

Mực đọng trong nghiên sầu…

Ông đồ vẫn ngồi đấy Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy, Ngoài giời mưa bụi bay.

Trang 20

Năm nay đào lại nở, Không thấy ông đồ xưa.

Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?

Những lời khen thật hào phóng, nhưng nghĩ kĩ đó chỉ là lờikhen của những người ngoài giới bút nghiên Đi viết câu đối thuê,bản thân việc ấy đã là nỗi lận đận, là bước thất thế của người theonghiệp khoa bảng Đỗ cao thành quan nghè, quan thám, đỗ thấp thìcũng ông cử, ông tú, chứ ông đồ là chưa đỗ đạt gì, công chưa thành,danh chưa toại, đành về quê dạy học, bốc thuốc, hay xem lí số ở nơi

đô hội như có lần Tản Đà đã làm Ngày Tết, mài mực bán chữ ngoàivỉa hè chắc cũng là việc bất đắc dĩ của Nho gia Chữ thì cho chứ ailại bán Bán chữ là cái cực của kẻ sĩ ở mọi thời Bà con yêu quý vàcũng thán phục cái thứ chữ mà bà con không biết, hay chỉ võ vẽ,nên mới khen lao đến vậy Lời khen này không mang lại vinh quangcho ông đồ, có thể ông còn tủi nữa, nhưng nó an ủi ông nhiều, nó làcái tình của người đời vào hồi vận mạt của ông Tác giả giới thiệu:cùng với hoa đào, mỗi năm mới có một lần chứ có nhiều nhặn gì

Trang 21

đâu, giấy đỏ mực tàu, chữ nghĩa thánh hiền bày trên hè phố Đừngnghĩ đến chuyện khoa bảng, hãy nghĩ đến cương vị người bán, thìđây là hai đoạn thơ vui vì nó nói được sự đắt hàng, ông đồ còn sốngđược, có thể tồn tại trong cái xã hội đang biến động này Nhưngcuộc đời đã không như thế mãi, cái ý thích của người ta cũng thayđổi theo thời cuộc Lớp người mới lớn không có liên hệ gì mà quyếnluyến cái thứ chữ tượng hình kia Cái tài viết chân, thảo, triện, lệcủa ông đồ chữ tốt kia, họ không cần biết đến:

Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm;

Mực đọng trong nghiên sầu…

Ông đồ vẫn ngồi đấy, Qua đường không ai hay,

Lá vàng rơi trên giấy, Ngoài giời mưa bụi bay.

Ông đồ rơi vào tình cảnh một nghệ sĩ hết công chúng, một côgái hết nhan sắc Còn duyên kẻ đón người đưa – Hết duyên đi sớm

về trưa một mình Ông đồ vẫn ngồi đấy mà không ai hay Cái hiệnthực ngoài đời là thế và chỉ có thế, nó là sự ế hàng Nhưng ở thơ,cùng với cái hiện thực ấy còn là nỗi lòng tác giả nên giấy đỏ nhưnhạt đi và nghiên mực hóa sầu tủi Hay nhất là cộng hưởng vào nỗisầu thảm này là cảnh mưa phùn gió bấc Hiện thực trong thơ là hiệnthực của nỗi lòng, nỗi lòng đang vui như những năm ông đồ “đắtkhách” nào có thấy gió mưa Gió thổi lá bay, lá vàng cuối mùa thurơi trên mặt giấy nó rơi và nằm tại đấy vì mặt giấy chưa được dùng

Trang 22

đến, chẳng có nhu cầu gì phải nhặt cái lá ấy đi Cái lá bất động trêncái chợ không phải của nó cho thấy cả một dáng bó gối bất độngcủa ông đồ ngồi nhìn mưa bụi bay Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ranhư vẽ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hộiqua mắt của ông đồ Tác giả đã có những chi tiết thật đắt: nơi ông

đồ là bút mực, nơi trời đất là gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ không

ai hay Thể thơ năm chữ vốn có sức biểu hiện những chuyện dâu bể,hoài niệm, đã tỏ ra rất đắc địa, nhịp điệu khơi gợi một nỗi buồn nhẹ

mà thấm Màn mưa bụi khép lại đoạn thơ thật ảm đạm, lạnh, buồn,vắng Như vậy cũng chỉ với tám câu, bốn mươi chữ, đủ nói hếtnhững bước chót của một thời tàn Sự đối chiếu chi tiết ở đoạn nàyvới đoạn trên: mực với mực, giấy với giấy, người với người, càngcho ta cái ấn tượng thảng thốt, xót xa của sự biến thiên

Có một khoảng thời gian trôi qua, khoảng trống của đoạn thơtrước khi vào bốn câu kết:

Năm nay đào lại nở, Không thấy ông đồ xưa.

Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?

Hãy trở lại câu thơ đầu bài Mỗi năm hoa đào nở để thấy quy

luật cũ không còn đúng nữa Ông đồ đã kiên nhẫn vẫn ngồi đấy,nhưng năm nay ông không còn kiên nhẫn được nữa: Không thấyông đồ xưa Bóng dáng ông đâu phải bóng dáng của một người, củamột nghề, mà là bóng dáng của cả một thời đại, bóng dáng kí ứccủa chính tâm hồn chúng ta Đến bây giờ chúng ta mới thấy luyếntiếc, nhưng quá muộn rồi Chúng ta hỏi nhau hay tự hỏi mình? Hỏihay khấn khứa tưởng niệm, hay ân hận sám hối Hai câu thơ hàmsúc nhất của bài, chúng ta đọc ở đấy số phận của ông đồ và nhất là

Trang 23

đọc được thái độ, tình cảm của cả một lớp người đối với những gìthuộc về dân tộc Về ngữ pháp câu thơ này rất lạ, nhưng không ai

thấy cộm: Những người muôn năm cũ Muôn năm, thật ra chỉ là vài

ba năm, nhưng nói muôn năm mới đúng, thời ông đồ đã xa lắc rồi,

đã lẫn vào với những bút, những nghiên rất xa trong lịch sử Chữ

muôn năm cũ của câu trên dội xuống chữ bây giờ của câu dưới càng

gợi bâng khuâng luyến nhớ Câu thơ không phải là nỗi đau nức nở,

nó chỉ như một tiếng thở dài cảm thương, nuối tiếc khôn nguôi

VŨ QUẦN PHƯƠNG

6 HỮU LOAN

Sinh: 1916 Quê: Thanh Hóa

Hiện sống và viết tại Thanh Hóa

Tác phẩm thơ đã in: Màu tím hoa sim

người

ngựa

mỏi

Trang 24

lạc giữa núi

Sau chân

lối vàng

xanh tuôn Dưới cây

bên suối độc

Cheo leo chòi canh

như biên cương

Trang 25

Xâm lăng!

Súng thèm

gươm khát…” – Ai ngân lung lay

đêm quê nhà! Nhớ lần theo Đèo Cả Hậu phương từ rất xa

Ăn với nhau bữa

Trang 26

heo rừng

công thui

chấm muối Trên sạp cây rừng

ngủ chung

nửa tối Biệt nhau

đèo heo

canh gà Râu ngược

chào nhau

bên dốc núi Giặc từ Vũng Rô

Trang 27

khô Sau mỗi lần thắng

Những người trấn Đèo Cả

Về bên suối đánh cờ Người hái cam rừng

ăn nheo nhắt Người vá áo

thiếu kim

mài sắt Người đập mảnh chai

vểnh cằm

cạo râu Suối mang bóng người

Hãy trích mười câu đầu khá tiêu biểu cho sáu mươi câu thơ cảbài Chúng ta nhận thấy:

Trang 28

Mỗi dòng thơ đều ít chữ (từ):

– Hai từ (Đèo Cả! – Đèo Cả!)

– Ba từ (Núi cao ngút! – sầu đại dương!)

– Bốn từ (Dặm về heo hút – Đá Bia mù sương)

– Và ít nhất: Một từ (người

ngựa

mỏi)(thương

ai

lên

đường)Người – ngựa – mỏi thực chất là một ý thơ biểu hiện dưới hìnhthức một câu thơ có ba từ Nhưng ngắt ra theo lối leo thang thành

Trang 29

Không thể hời hợt và vội vàng cho đây là một kiểu “rách việc”,một lối lập dị, một hình thức chơi trội Đèo Cả là một bài thơ nổitiếng cùng với Màu tím hoa sim của Hữu Loan Nó đứng cạnh, tương

tự một lối viết với Tình sông núi và Nhớ máu của Trần Mai Ninh, Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên, Không nói của Nguyễn Đình Thi… Duy Đèo Cả xuất hiện sớm nhất trong hình thức

diễn đạt ngắt nhịp, cắt chữ, chuyển dòng đậm đặc chất mới mẻ củangôn ngữ thơ đã bước sang một thời kì mới Nói như trên để khẳngđịnh: đã xuất hiện một hiện tượng biến động ngôn ngữ thơ, nó trởthành phổ biến, hàng loạt Nhưng dĩ nhiên, theo quy luật sáng tạovăn học, hiện tượng đặc trưng ấy chỉ nổi bật, tập trung ở những tácphẩm xuất sắc của những tác giả tài năng nhất Chúng ta còn có TốHữu, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Hoàng Trung Thông,… và một số thi

sĩ khác nữa, trong thơ họ cũng có những biến động ngôn ngữ củamột thời kì mới, nhưng lại theo lối kiểu khác Hôm nay, ở đây, taxem xét một dạng biến động ngôn ngữ thơ qua cách ngắt nhịp, cắtchữ, chuyển dòng ở một dạng bài thơ mà tiêu biểu là bài Đèo Cả.Bây giờ hãy thử giải đáp:

Về đối tượng khách quan của thơ Tức là thi liệu hiện thực.

Cách mạng bùng nổ, một biến động xã hội cực lớn phá tan dòngchảy đều đều nhạt tẻ cuộc sống trước đây Tiếp đến cuộc khángchiến chống kẻ thù xâm lược trở lại, toàn bộ cuộc sống xã hội vàmỗi con người căng trần, xung sát, đảo lộn Mọi cung bậc tình cảmđều mãnh liệt, vọt lên độ căng cao Yêu nước, căm thù giặc trởthành một thứ men rượu cháy lên trong mạch máu toàn dân tộc.Chúng ta muốn đi tới một khái quát về một nhịp điệu mới của cuộcsống, của con người Việt Nam Thô trần, gân guốc, mau thoắt, hànhđộng thay thế cho suy tư, trầm ngâm

… Rau khe

Trang 30

trăm năm xa Máu thiêng

ngủ chung

nửa tối Biệt nhau

đèo heo

canh gà Râu ngược

chào nhau

Trang 31

bên dốc núi…

Những cuộc chia tay, chia li vì nhiệm vụ lớn đánh giặc diễn ranhư cơm bữa, vẫn đầy tình cảm đồng đội, đồng chí, nhưng nhanhmạnh, có gì như dứt khoát, vẻ ngoài hơi lạnh Khác với những thanthở lê thê mủi lòng trong thời kì lãng mạn thơ mới Chưa nói nhữngcảnh huống ác liệt khác Chỉ riêng diễn tả chia tay chia li hôm naycũng cần một nhịp mới, những chữ gọn, trần trụi, những dòng đổchữ mau hơn

Về chủ thể thi sĩ Đa số họ tham gia những chuyển động lớn xã

hội trước hết trong vai trò công dân tích cực Trực tiếp là bộ độiđánh giặc, hoặc làm báo, bám sát bộ đội, dân công, hoặc ở trongcác ngành nghề kháng chiến khác Nhà văn, nhà thơ cùng đều đầuquân hoặc lăn lộn trong các công tác kháng chiến Hữu Loan từng làChủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa địa phương, sau đó vào bộ đội, đã từ đạiđội trưởng lên tới cấp tiểu đoàn, đánh giặc ở mặt trận gian lao nhất

là Bình–Trị–Thiên và Trung Trung Bộ trong đó có Đèo Cả

Sau mỗi lần thắng Những người trấn Đèo Cả

Về bên suối đánh cờ Người hái cam rừng

ăn nheo mắt Người vá áo

thiếu kim

mài sắt Người đập mảnh chai

vểnh cằm

Trang 32

cạo râu Suối mang bóng người

Suối mang bóng người

Về ý thức chủ động sáng tạo của người nghệ sĩ của ngôn ngữ.

Dù khách thể thời đại biến động thế nào, mà chủ thể nhà thơ củaông ta đóng kín, trơn quen trong lối ứng xử thơ theo nếp cũ, thì vẫnkhông thể tạo nên một biến động đáng kể nào về ngôn ngữ thơ.Hữu Loan thuộc số những thi sĩ trẻ thời ấy, có tri thức học vấn thơ

Trang 33

ca đông tây cũng như thơ ca dân tộc, cùng với những chiêm nghiệmcuộc sống, đã bừng thức những chiêm nghiệm nghệ thuật mới mẻ.Ông và các đồng nghiệp trẻ của mình chắc chắn đã không chịu đựngđược làn sương mờ mờ giăng trùm lên nhịp điệu lối thơ ngày trước.Không thích của các nhà thơ đàn anh dù tài năng đến mấy trướcđây, những chữ hoặc được tỉa tót, hoặc được trang hoàng, cứ như

ve vuốt lỗ tai hoặc mơn man lên quả tim thổn thức Không thíchnhững dòng thơ kéo lê dù năm chữ, bảy chữ hay đa số tám chữ Cácthi sĩ trẻ và mới này thích biết mấy tung ra những từ, nói theo mộtnhà thơ Tây Ban Nha, là “những từ cởi trần”

Người vá áo

thiếu kim

mài sắt Người đập mảnh chai

vểnh cằm

cạo râu

Không một ngượng ngập, mà đầy hứng thú khi dùng các động

từ “mài”, “vểnh”, “cạo” trong văn cảnh những câu thơ trên

thương

ai

Trang 34

đường

Sướng làm sao, vì mới nghệ thuật làm sao, từng từ tách, leothang kia cùng với cả khối bốn chữ leo thang ấy, đã hình dung thậtchuẩn hình ảnh cứ xa, khuất dần của người dù cho xuống hay đanglên Đèo Cả hiểm trở Nhưng đâu có khô cứng, mà ngụ trong nhịp

ấy, cùng nhịp ấy, ở cùng từ, từng nấc thang chữ là những nhịp rungkín đáo, kìm nén của quả tim người trong gian lao chiến trận

***

Tôi muốn tạo ra trong thơ tôi một nhịp điệu mới, nhịp điệunhững bàn chân biểu tình của nhân dân Đức, nhà viết kịch và nhàthơ cực kì xuất sắc Béc–tôn Biết đã nói đại ý thế thời kì thập kỉ bốnmươi ở thế kỉ trước Câu nói, lối nói thẳng thắn, đầy sức bật đã minhchứng thật rõ tính khách quan và chủ quan trong sáng tạo nghệthuật nói chung và thơ ca nói riêng Ta có thể chiếu ý đó vào trườnghợp nhà thơ Hữu Loan với bài Đèo Cả đặt trong không gian và thờigian sau Cách mạng tháng Tám ở nước ta Và cả trong thơ ca nước

ta khoảng thời gian thật là tinh khôi, đầy hấp dẫn và thách thức vớisáng tạo nghệ thuật lúc đó

Người ta bảo chỉ có thể cao hơn khi đứng trên vai người khổng

lồ Sáng tạo nghệ thuật, mặc dù mang dấu ấn rất cá nhân, vẫn ởtrong dòng chảy không ngừng của nghệ thuật dân tộc và thế giới

Về thơ, lối cắt chữ, ngắt nhịp, chuyển dòng, công mở đầu thuộc nhà

thơ Nga khổng lồ Mai–a–cốp–xki từ thời chủ soái Trường phái vị lai,

càng phát triển mạnh sau Cách mạng tháng Mười với những trường

ca nổi tiếng Tốt lắm!, Vla–đi–mia I–lích Lê–nin Nhà thơ Hữu Loan

rất trẻ và rất mới của chúng ta ngay từ 1946 trong mù mịt khói lửachiến tranh, phải đâu được ngồi trong thư viện nghiền ngẫm Mai–a–

Trang 35

cốp–xki Bản thân cuộc sống đất nước và cá nhân ông cùng vớibừng ngộ của một nhỡn lực thi ca chói sáng cách tân, Hữu Loan đãcống hiến cho thi đàn Việt Nam hiện đại, qua bài Đèo Cả, một ứng

xử ngôn ngữ nghệ thuật mới, thật trong Ứng xử ấy tiếp tục đượckhẳng định, yêu quý tới nay đã vượt sang thế kỉ XXI

TRÚC THÔNG

7 HOÀNG LỘC

Sinh: (1920 – 1949) Quê: Hải Dương

Viếng bạn

Hôm qua còn theo anh

Đi ra đường quốc lộ Hôm nay đã chặt cành Đắp cho người dưới mộ

Đứa nào bắn anh đó?

Trang 36

Khóc anh không nước mắt

Mà lòng đau như thắt Gọi anh chẳng thành lời

Mà hàm răng dính chặt

Ở đây không gỗ ván Vùi anh trong tấm chăn Của đồng bào Cửa Ngăn Tặng tôi ngày phân tán

Mai mốt bên cửa rừng Anh có nghe súng nổ

Là chúng tôi đang cố Tiêu diệt kẻ thù chung.

Lời bình

Thảng thốt mà lặng thầm như nuốt vào câm lặng – bởi, chỉmới hôm qua thôi “còn theo anh – Đi ra đường quốc lộ” Thế mà,

“Hôm nay đã chặt cành – Đắp cho người dưới mộ” Đường đột quá

Vì thế, cũng tiếc thương quá! Nỗi niềm bằng hữu như đang quyệnchặt với thời gian, không gian của thứ thông–tin–tâm–tình đớn đau

và lặng lẽ Hôm qua là còn; Hôm nay đã mất Hoá ra, sự sinh tậncủa con người thật quá đỗi mong manh

Khổ thơ mở đầu của Viếng bạn vì thế dường như còn ẩn chứa

một điều gì trầm lặng, u uất Và, trong từng lời, từng chữ ngỡ như

Trang 37

khe khẽ cất lên những tiếng khấn thầm từ tâm tư sâu thẳm củangười còn sống:

Hôm nay đã chặt cành Đắp cho người dưới mộ

Nỗi buồn đau còn đấy mà uất hận lại dâng trong lòng ngườiđồng đội khi buồn đau chuyển thành cuộc truy tìm thủ phạm:

Đứa nào bắn anh đó?

Trong nỗi đau thương, mất mát từ một người lại thắp sáng lênnhận thức chiến đấu của một thế hệ những người ra trận trong cuộcchiến tranh giữ nước

“Yêu với căm, hai đợt sóng ào ào” – nhà thơ Xuân Diệu đã từng diễn tả như vậy Trong Viếng bạn của Hoàng Lộc, hai đợt sóng

Trang 38

yêu căm thật dữ dội, thật mạnh mẽ, nhưng là nhưng đợt sóng lặnvào trong Vì thế, nó trở thành nội lực tinh thần thật kì lạ:

Khóc anh không nước mắt

Mà lòng đau như thắt Gọi anh chàng thành lời

Mà hàm răng dính chặt

Sự tương phản giữa những cái không có, những điều khôngthấy (“Khóc anh không nước mắt gọi anh chẳng thành lời”) vớinhững điều hiện hữu, có thật trong nỗi đau quặn thắt, khuất lấp nơiđáy hồn người bạn, người đồng chí (“Mà lòng đau như thắt”, “Màhàm răng dính chặt”) khiến cho cách diễn đạt tâm tư trong thơ củaHoàng Lộc thành thực mà chấn động, giản dị mà thấm sâu

Cuộc chiến tranh Vệ quốc chống thực dân Pháp của dân tộcViệt Nam là cuộc chiến tranh của toàn dân Tiếng khóc viếng bạn,viếng người đồng đội vì thế không dừng lại nỗi đau riêng trong tìnhbằng hữu mà ấm áp tình thương của đồng bào, đồng loại:

Ở đây không gỗ ván Vùi anh trong tấm chăn Của đồng bào Cửa Ngăn Tặng tôi ngày phân tán

Tình thương nối rộng tình thương Sự hi sinh của người đồngđội vì thế như cũng bớt đi phần lạnh lẽo Để rồi, những tiếng cuốicủa lời Viếng bạn chợt bùng lên ước nguyện trả thù, ước nguyệnhành động:

Mai mốt bên cửa rừng Anh có nghe súng nổ

Trang 39

Là chúng tôi đang cố Tiêu diệt kẻ thù chung.

Trong lời nguyện ước chiến đấu ấy là sự gửi gắm niềm tin giản

dị, bình tâm khi hướng tới một thời gian gần, một không gian cụ thể(Mai mốt bên cửa rừng); là lời hứa thầm thiết tha với người đãkhuất (Anh có nghe súng nổ); là quân lệnh (Tiêu diệt kẻ thù chung)của những người bạn, những người đồng chí trong cuộc chiến đấugìn giữ và bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc Bài thơ Viếng bạncủa Hoàng Lộc vì thế là tiếng khóc và cũng là lời ca cửa một thờigian lao mà hùng tráng

TRẦN TRUNG

8 LƯU TRỌNG LƯ

Sinh: (1912 – 1991) Quê: Quảng Bình

Tác phẩm thơ đã in: Tiếng thu, Toả sáng đôi bờ, Người con gáisông Gianh, Từ đất này

Em không nghe rừng thu

Trang 40

Lá thu kêu xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô?

Lời bình

Tiếng thu là bài thơ hay nhất trong đời thơ Lưu Trọng Lư, cũng

là bài thơ thơ nhất của thi ca Việt Nam hiện đại Tôi nói Tiếng thu làbài thơ thơ nhất, vì ngoài thơ ra, nó không có gì bấu víu

Toàn bài vẻn vẹn chỉ có 9 câu, chia làm ba đoạn, mỗi đoạn lại

so le, các ý trong bài thơ rời rạc, khấp khểnh, chẳng ý nào ăn nhậpvới ý nào Nếu cứ theo cách hiểu máy móc của những người quenthói bắt bẻ, cứ đè thơ ra mà tìm tư tưởng, tìm ý nghĩa thì đây là bàithơ “đầu Ngô minh Sở” Đã thế, tác giả còn tỏ ra vụng về Tì vết của

sự thô vụng ấy nằm trong hai câu chẳng thơ tí nào, nó như câu vănxuôi bình giảng văn học của học sinh phổ thông:

Hình ảnh kẻ chinh phu Trong lòng người cô phụ?

Ấy vậy mà khi gộp tất cả lại, nằm trong một tổng thể, bài thơhay đến lạ lùng Người ta không còn thấy dấu vết thô vụng đâu nữa.Đây là điều duy nhất xảy ra ở văn học Việt Nam và cũng chỉ xảy ra

có một lần ở bài thơ này Cái hay của bài thơ không nằm ở câu chữ

Nó hoàn toàn siêu thoát, là cái hồn phảng phất đâu đó đằng saunhững con chữ rất sáng tỏ mà lại vời vợi mông lung kia Người ta chỉcảm thấy được, chứ không thể nói ra được một cách rạch ròi Đây làbức tranh thiên nhiên được vẽ bằng hồn, bằng cả điệu nhạc rấtriêng của tâm hồn thi sĩ Bởi thế, người đọc cũng phải dùng hồn đểchiêm ngưỡng nó, chứ không thể ngắm nó bằng lí trí tỉnh táo Đãkhông ít nhà phê bình nghiên cứu mang lí trí ra để làm con dao cùn

Ngày đăng: 10/04/2017, 13:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w