1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Kĩ thuật cấp cứu chuyển thương

41 2,2K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Biết làm được các kĩ thuật cầm máu tạm thời, cố định tạm thời xương gãy, hô hấp nhân tạo và vận chuyển người bị thương, bị nạn.- Có tinh thần, thái độ tích cực luyện tập nghiêm túc, vậ

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG

Bài giảng

KĨ THUẬT CẤP CỨU CHUYỂN THƯƠNG

(Dùng cho giảng dạy lớp 11)

THI XÃ QUẢNG TRỊ 07.2011

Trang 2

- Biết làm được các kĩ thuật cầm máu tạm thời, cố định tạm thời xương gãy, hô hấp nhân tạo và vận chuyển người bị thương, bị nạn.

- Có tinh thần, thái độ tích cực luyện tập nghiêm túc, vận dụng linh hoạt vào trong thực tế cuộc sống

II NỘI DUNG VÀ THỜI GIAN:

1 Nội dung: Gồm các nội dung sau:

Trang 3

12-07- Nguyễn Cửu

Phần thực hành:

- Quan sát GV thực hiện động tác mẫu

- Luyện tập các kĩ thuật dưới sự hướng dẫn của giáo viên

2 Thời gian: (4 tiết)

- Lý thuyết 1 tiết

- Thực hành 3 tiết

Phần lý thuyết:

- Cầm máu tạm thời

- Cố định tạm thời xương gãy

- Hô hấp nhân tạo

- Kĩ thuật chuyển thương

Trang 4

12-07- Nguyễn Cửu

III TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP:

1 Tổ chức: - Lấy đội hình lớp học để giảng dạy

- Lấy cá nhân và tổ để tập luyện

2 Phương pháp:- Thuyết trình kết hợp với làm mẫu phân tích động tác, phương pháp trực quan,

Trang 5

2 Nguyên tắc cầm máu tạm thời:

- Phải khẩn trương nhanh chống làm ngừng chảy máu. Vì mỗi gây phút chậm trể là thêm một khối lượng máu mất

đi Trong những tổn thương động mạch lớn, máu phụt thành tia mạnh lại càng phải thật khẩn trương, vì chậm trể dù chỉ trong một gây phút cũng dễ có nguy cơ đưa đến người bị thương bị choáng hoặc chết do mất máu

Mục đích, nguyên tắc, phân biệt các loại chảy máu, các biện pháp cầm

máu tạm thời?

Trang 6

12-07- Nguyễn Cửu

- Phải xử trí đúng chỉ định theo tính chất của vết thương Các biện pháp cầm máu tạm thời tùy thuộc vào tính chất chảy máu, cần phải xử trí đúng chỉ định theo yêu cầu của từng vết thương, không tiến hành một cách thiếu thận trọng, nhất là khi quyết định đặt ga rô

- Phải đúng qui trình kĩ thuật: các biện pháp cầm máu tạm thời đều có qui trình kĩ thuật nhất đinh Tiến hành cầm máu đúng kĩ thuật mới đem lại hiệu quả cao

3 Phân biệt các loại chảy máu:

Căn cứ vào mạch máu bị tổn thương để phân chia 3 loại chảy máu:

a Chảy máu mao mạch: Mạch máu rất nhỏ Máu đổ thẩm lượng máu chảy rất ít, vết thương có thể tự cầm máu sau một thời gian ngắn, chừng vài phút như trong các trường hợp sứt chân, sứt tay

Trang 7

12-07- Nguyễn Cửu

b Chảy máu tỉnh mạch vừa và nhỏ:

- Máu chảy ri rỉ tại chổ bị thương, màu đỏ thẩm, không

thành tia mạnh, vì áp lực trong tỉnh mạch yếu Chảy máu tỉnh mạch thường không gây nguy hiểm, máu cục có thể hình thành nhanh chống và bít các tỉnh mạch bị tổn thương lại, trừ trường hợp tổn thương những tĩnh mạch lớn như (tĩnh mạch chủ, tỉnh mạch cảnh, tỉnh mạch dưới đòn ) vẫn gây chảy máu ồ ạt, nguy hiểm

c Chảy máu động mạch:

- Máu động mạch là máu từ tim đi nuôi cơ thể có chứa nhiều ôxy nên màu đỏ tươi, máu chảy vọt thành tia hoặc trào qua miệng vết thương ra ngoài như mạch nước đùn

từ đáy giếng lên Lượng máu chảy có thể vừa, lớn hoặc rất lớn tùy theo loại động mạch bị tổn thương

Trang 8

- Ấn động mạch không giữ được lâu vì mỏi tay người ấn, do đó chỉ là biện pháp tức thời, sau đó phải thay thế bằng biên pháp khác

- Việc cầm máu tạm thời khi người bị thương

chảy máu động mạch là rất quan trọng, phải rất

khẩn trương và đúng kĩ thuật

Trang 9

12-07-Hình 1: Các điểm chính ấn động mạch Nguyễn Cửu

Trang 11

12-07- Nguyễn Cửu

- Ấn động mạch dưới đòn ở hỏm xương đòn

(hình:1b)

Hình 1b

Trang 12

12-07- Nguyễn Cửu

b Gấp chi tối đa:

Là biện pháp cầm máu đơn giản và rất tốt mà mỗi người có thể tự làm ngay sau khi bị thương, khi chi bị gấp mạnh,các mạch máu cũng bị gấp

và bị đè ép bởi các khối cơ bao quanh làm cho máu ngừng chảy ngay lập tức

- Nhược điểm gấp mạnh dễ mỏi, không áp dụng được lâu

- chú ý: khi xương gãy không sử dụng biện pháp này

*Các trường hợp gấp chi tối đa:

Trang 13

12-07- Nguyễn Cửu

- Gấp cẳng tay vào cánh tay (hình 2a):

Hình 2a

Trang 14

12-07- Nguyễn Cửu

- Gấp tay vào người có con chèn (hình 2b):

Hình 2b

Trang 15

12-07- Nguyễn Cửu

- Gấp cẳng chân vào đùi (hình 2c):

Hình 2c

Trang 16

12-07- Nguyễn Cửu

- Gấp đùi vào thân (Hình 2d):

Hình 2d

Trang 17

12-07- Nguyễn Cửu

băng siết tương đối chặt, đè ép mạnh vào các

bộ phận bị tổn thương Băng ép chặt làm cho

các mạch máu bị ép kính hoặc thu nhỏ lại tạo

điều kiện thuận lợi cho việc hình thành máu

Trang 18

12-07- Nguyễn Cửu

d Băng chèn:

- Cũng là kiểu ấn động mạch, nhưng không phải bằng ngón tay, mà bằng một vật cứng tròn, nhẵn không sắc cạnh Con chèn được đặt trên đường đi của động mạch, giữa vết thương và tim, càng sát vết thương càng tốt, sau đó băng càng

cố định con chèn bằng nhiều vòng băng siết tương đôi chặt theo kiểu vòng xoắn hoặc số 8

* Cách làm con chèn:

- Dùng một đoạn cành cây nhỏ, cắt cho tương đối nhẵn, đường kính khoảng 2cm, dài khoảng 3-dài4cm

- Lấy lọ pênixilin nhỏ hoặc nút chai, mảnh gáo dừa

- Dùng cuộn băng nhỏ được quấn chặt làm con chèn

Trang 19

12-07- Nguyễn Cửu

* Băng chèn có ưu điểm là cầm máu tốt các vết

thương có tổn thương động mạch, vì con chen chỉ ép vào động mạch chính nên máu có thể lưu

thông qua động mạch nhỏ, phần dưới băng chèn vẫn được nuôi dưỡng

Hình3 (băng chèn)

Trang 20

* Chỉ định đặt ga rô (Hình 4): chỉ được phép làm

trong các trường hợp sau đây:

- Vết thương ở chi chảy máu ồ ạt, phun thành tia hoặc trào xối qua vết thương

- Chi bị cắt cụt tự nhiên

- Vết thương phân mềm hoặc gảy xương có kèm

theo tổn thương các động mạch lớn

- Bị rắn độc cắn

Trang 21

12-07- Nguyễn Cửu

* Nguyên tắc ga rô: -phải đặt ga rô phía trên vết thương và để lộ ra ngoài để dễ nhận ra, tuyệt đối không che lấp ga rô Trên đương vận chuyển cứ 1 giờ phài nới ga rô 1 lần, không để ga rô lâu quá 3-4 giờ.

- Người bị đặt ga rô phải được nhanh chống chuyển về các tuyến cứu chữa

- Có phiếu ghi rỏ: họ tên, địa chỉ người bị ga rô, thời gian bắt đầu ga rô, thời gian nới ga rô 1, 2 lần…

- Có kí hiệu băng đỏ cài vào bên trái túi áo nạn nhân

Hình 4

Trang 22

12-07- Nguyễn Cửu

II CỐ ĐỊNH TAM THỜI XƯƠNG GÃY:

1 Tổn thương gãy xương:

- Xương bị gảy rạn, gãy chưa rời hẵn, gãy thành

hai hay nhiều mãnh hoặc có thể mất từng đoạn

xương

- Dưới dạng gãy xương kính và gãy xương hở

Tổn thương xương rất phức tạp như:

- Da, cơ bị dập nát nhiều, đôi khi kèm theo mạch máu, thần kinh xung quanh cũng bị tổn thương

- Rất dễ gây choáng do đau đớn, mất máu và

nhiễm trùng do môi trường xung quanh

Đặc điểm, mục đích, nguyên tác,kĩ thuật cố định tạm thời xương

gãy.

Trang 23

12-07- Nguyễn Cửu

2 Mục đích

- Làm giảm đau đớn, cầm máu tại vết thương

- Giữ cho xương gãy tương đối yên tỉnh, đảm bảo

an toàn trong quá trình vận chuyển người bị thương về các tuyến cứu chữa

- Phòng ngừa các tai biên

3 Nguyên tắc cố định tạm thời xương gãy

- Nẹp phải cố định được cả khớp trên và khớp dưới ổ gãy Với các xương lớn như xương đùi, cột sông phải cố định từ 3 khớp trở lên

- Không đặt nẹp sát cứng vào chi, phải đệm, lót băng bông mỡ, gạ hoặc vải mền, tại những chổ tiếp xúc để không gây thêm các tổn thương khác Khi cố định không cần cởi quần, áo của người bị thương vì quần, áo có tác dụng tăng cường đệm lót cho nẹp

Trang 24

4 Kĩ thuật cố định tạm thời gảy xương:

a Các loại nẹp thường dùng cố định tạm thời xương gãy

- Nẹp tre, nẹp gỗ: Là loại nẹp dùng phổ biến và

thuận lới nhất nẹp tre làm dễ, dễ kiếm nhưng phải tuân theo qui cách sau

+ Chiều rộng của nẹp: 5-6cm

+ Chiều dày của nẹp: 05,-0,8cm

+ chiều dài nẹp: tùy thuộc và từng chi gãy

Trang 25

12-07- Nguyễn Cửu

- Nẹp Crame:

Là loại nẹp thép hình bậc thang loại này có thể

sử dụng rộng rải và thuận tiện để cố định tạm thời vết thương gãy xương, vì có thể uốn được theo chổ cần đặt nẹp có thể nối 2 nẹp với nhau

Trang 26

12-07- Nguyễn Cửu

- Cố định tạm thời xương bàn tay gãy, khớp cổ

tay (hình 4a) dùng 1 nẹp tre hoặc nẹp crame

Hình 4a

Trang 27

12-07- Nguyễn Cửu

- Cố định tạm thời xương cẳng tay gãy (hình 4b)

dùng 2 nẹp tre hoặc nẹp crame

Hình 4b

Trang 28

12-07- Nguyễn Cửu

- Cố định tạm thời xương cánh tay gãy (hình

4c) dùng 2 nẹp tre hoặc nẹp crame

hình 4c

Trang 29

12-07- Nguyễn Cửu

- Cố định tạp thời xương gẳng chân gãy (Hình

4d) dùng 2 nẹp tre hoặc nẹp crame

Hình 4d

Trang 30

12-07- Nguyễn Cửu

- Cố đinh tạm thời xương đùi gãy (hình 4e) dùng

3 nẹp tre hoặc nẹp crame

Hình 4e

Trang 31

1 Nguyên nhân gây ngạt thở:

- Do bị chìm trong nước: Chỉ sau 2-3 phút sẽ bị ngạt thở

- Do bị vùi lấp như sập hầm, đất cát vùi lấp khi bom nổ, nhất là khi ngực bị đè ép, mũi miệng bị đất cát nhét kín, có thể bị ngạt thở nhanh chống

- Do địch sử dụng các loại chất độc

Trang 32

12-07- Nguyễn Cửu

- Do ở lâu trong các hầm kính chật hẹp, ngủ trong nhà kín: vào mùa rét đóng kín cửa và có đốt lò sưởi, có thể bị ngạt thở do thiếu ôxy và hít phải khí độc CO-2

- Ngạt thở do tắc đường hô hấp: như bị thắt cổ,

bị bóp cổ do đờm giải hoặc máu ở những vết thương hàm, mặt gây tắc thở

2 Cách nhận biết người bị ngạt thở:

Cơ quan hô hấp ngừng hoạt động, người bị nạn năm yên, bất tỉnh, không cử động, sắc mặt trắng nhợt hoặc tím tái, các chi giá lạnh, tim ngừng đập, mạch sơ không thấy, đặt chiếc long gà hoặc miếng giấy mỏng trước mủi không thấy chuyển động

Trang 33

12-07- Nguyễn Cửu

3 Cách xử trí:

Yêu cầu: Khẩn trương, kiên trì và thành thạo kỹ

thuật

a những điểm phải làm ngay:

- Loại bỏ nguyên nhân gây ngạt thở như bới đất cát cho người bị vùi lấp, vớt người chết đuối, đưa người bị trúng độc ra khỏi vùng có khí độc, ra khỏi buồng kính (Phải có phương tiện bảo vệ cho người cấp cứu)

- Khai thông đường hô hấp trên bằng cách:

+ Lau chùi đất, cát, máu hoặc đờm , khi cần hút trực tiếp bằng miệng cho sạch đờm, dãi

+ Nới tháo bỏ quần, áo, các dây nịt, thắt lưng, dây thắt cổ để người bị nạn có thể tự thở được

- Làm hô hấp nhân tạo:

+ Kiểm tra kỉ người bị nạn để phát hiện sớm dấu hiệu ngừng thở, tim ngừng đập

Trang 34

12-07- Nguyễn Cửu

b Các phương pháp hô hấp nhân tạo:

- Phương pháp thổi ngạt và ép tim ngoài lồng

ngực: Là phương pháp dễ làm, đem lại hiệu quả

cao

+ Thổi ngạt (hình: 5a)

Hình 5a

Trang 35

12-07- Nguyễn Cửu

+ Ép tim ngoài lòng ngực (hình : 5b)

Hình 5b

Trang 37

12-07- Nguyễn Cửu

c Những điểm chú ý khi hô hấp nhân tạo:

- Làm càng sớm càng tốt, kiên trì đến khi người

bị nạn tự thở được

- Làm đúng nguyên tắc, lực đủ mạnh, giữ nhịp

độ đều đặn mới thực sự hữu hiệu

- Làm tại chỗ thông thoáng, nhưng cũng không được làm ở nơi giá lạnh

- Không làm hô hấp nhân tạo cho người bị nhiễm chất độc hóa học, bị sức ép, bị thương ở ngực, gãy xương sườn và tổn thương cột sống

- Tuyệt đối không chuyễn người bị ngạt thở về các tuyến khi hô hấp tự nhiên chưa hồi phục

Trang 38

12-07- Nguyễn Cửu

IV KĨ THUẬT CHUYỂN THƯƠNG:

- Chuyển thương là nhanh chóng đưa người bị thương, bị nạn đến nơi an toàn hoặc về các tuyến để kịp thời cứu chữa Phương pháp chuyển thương phải thích hợp với yêu cầu của từng vết thương mới đảm bảo an toàn cho người bị thương, bị nạn

Trang 39

12-07- Nguyễn Cửu

- Bế nạn nhân ( Hình : 6 )

Hình 6

Trang 40

12-07- Nguyễn Cửu

- Vác trên vai (hình 7 ): Áp dụng vận chuyển người bị thương nhẹ vào chân, không tự đi được

Hình 7

Ngày đăng: 19/10/2014, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thành  nhanh  chống  và  bít  các  tỉnh  mạch  bị  tổn  thương lại, trừ trường hợp tổn thương những tĩnh mạch - Kĩ thuật cấp cứu chuyển thương
nh thành nhanh chống và bít các tỉnh mạch bị tổn thương lại, trừ trường hợp tổn thương những tĩnh mạch (Trang 7)
12-07- Hình 1: Các điểm chính ấn động mạch  Nguyễn Cửu - Kĩ thuật cấp cứu chuyển thương
12 07- Hình 1: Các điểm chính ấn động mạch Nguyễn Cửu (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w