1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN mon lich su

30 220 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 49,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI Một số phương pháp nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong giờ dạy lịch sử Đề tài thuộc lĩnh vực bộ môn lịch sử Giáo viên thực hiện : Lê

Trang 1

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI

Một số phương pháp nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong giờ dạy lịch sử

(Đề tài thuộc lĩnh vực bộ môn lịch sử )

Giáo viên thực hiện : Lê Quang Thắng Giáo Viên Tổ Khoa học Xã Hội Trường THCS Đồng Tâm – Mỹ Đức - Hà Nội

Đồng Tâm, tháng 5 năm 2011

ĐỒNG TÂM

MỸ ĐỨC - HÀ NỘI

Trang 2

PHÒNG GD & ĐT MỸ ĐỨC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Đơn vị công tác : Trường THCS Đồng Tâm - Mỹ Đức - TP Hà Nội.

Quê quán : Phúc Lâm – Mỹ Đức – Hà Nội

Trình độ chuyên môn : Đại học.

Hệ đào tạo : Từ xa.

Bộ môn giảng dạy : Lịch Sử

Khen thưởng : Chiến sĩ thi đua cấp huyện

ĐỒNG TÂM

MỸ ĐỨC- HÀ NỘI

Trang 4

Bên cạnh đó một số em học sinh còn cho rằng đây là một môn học phụ nêncác em chưa có ý thức để học tập tốt bộ môn Hơn nữa một số giáo viên chưatạo ra được cảm xúc, rung động cho học sinh trước những sự kiện, hiện tượnglịch sử Vì vậy tác dụng giáo dục của bộ môn bị hạn chế

Từ kết quả này lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp thôi thúc tôi phảilàm thế nào để nâng cao chất lượng học tập cho học sinh, việc làm đầu tiên lànâng cao chất lượng giờ dạy trên lớp vì lịch sử là môn học rất thiết thực đối vớimỗi người và xã hội Nó góp phần giáo dục đạo đức và nhận thức cho học sinh,hình thành nhân cách con người Dạy lịch sử, học sinh tìm hiểu quá khứ, biếttôn trọng quá khứ để có thái độ đúng đắn với cuộc sống hiện tại và tương lai

1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

Trong bối cảnh sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ hiệnnay của xu thế toàn cầu hoá, các nước trên thế giới và Việt Nam đều hướng đếnviệc cải cách giáo dục để thích ứng với hoàn cảnh mới

Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX của Đảngcũng nêu rõ “ Để

đáp ứng êu cầu về con người và nguồn lực là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiên đại hoá, cần tạo chuyển biến

cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo Đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm ngoại khoá, làm chủ kiến thức tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay”.

Quán triệt đường lối đổi mới của Đảng, nghành giáo dục và đào tạo xácđịnh nhiệm vụ trọng tâmlà tiến hành đổi mới phương pháp dạy học Trong đó,chủ trương đổi mới phương pháp dạy học được ghi trong Luật giáo dục năm

Trang 5

2005 : “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác,

chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh ”.

Qua quá trình giảng dạy môn lịch sử ở trường THCS Đông Tâm, tôi nhậnthấy tôi nhận thấy đây là một vấn đề bổ ích về lí luận cũng như thực tiễn Nó có

ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao chất lượng bộ môn, bởi vì học sinh THCSnhận thức và khả năng tư duy có hơn so với các em ở bậc tiểu học song vẫn cònnhiều hạn chế so với các em lớp trên Vì thế người giáo viên phải khơi dậy tínhtích cực, sự chủ động trong học tập cũng như các hoạt động khác không nhữnglàm cho các em thu nhận được một lượng tri thức tốt nhất cho bản thân mà cònlàm cơ sở vững chắc dể các em bước vào THPT Đó là các lớp mà các em phải

có năng lực tư duy và ý thức tự tìm hiểu

Chúng ta biết,việc dạy học được tiến hành trong một quá trình thống nhất,gồm hai khâu có tác dụng bổ sung qua lại cho nhau: Giảng dạy và học tập Dĩnhiên, cả hai khâu này đều là một quá trình nhận thức, phải tuân theo nhữngquy luật nhận thức Nhận thức trong dạy học được thể hiện trong hoạt động củagiáo viên và học sinh đối với việc truyền thụ và tiếp thu một nội dung khoa họcđược quy định trong chương trìnhđối với những phương pháp dạy học thíchhợp, những phương tiện hình thức cần thiết để đạt được kết quả nhất định đề ra

2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

đổi mới giáo dục cũng như thực tiễn dạy học bộ môn, sách giáo khoa lịc sửTHCS được biên soạn gồm hai kênh kiến thức: Kênh hình và kênh chữ Haikênh này hỗ trợ cho nhau nhằm giúp học sinh nắm vững các tri thức lịch sử

hợp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh” Để đổi mới phương pháp dạy

học, phát huy tính tích cực của học sinh, cần có những điều kiện nhất định vềgiáo viên và đồ dùng dạy học Bên cạnh đó, việc học Lịch sử của học sinh phảigắn liền với các hoạt động ngoài giờ : tham quan bảo tàng lịch sử, di tích … đểđược tận mắt nhìn thấy, sờ thấy hiện vật ở các mức độ khác nhau Từ đó các em

sẽ hiểu được và nắm vững sâu hơn kiến thức lịch sử đã học trong chương trình,sách giáo khoa Tuy nhiên vì điều kiên nhà trường và điại phương chưa chophép nên cũng hạn chế nhiều đến hiệu quả cũng như niềm say mê học tập củahọc sinh đối với bộ môn Lịch sử

Sách giáo khoa Lịch sử hiện nay được biên soạn không chỉ là tài liệugiảng dạy của giáo viên mà còn là tài liệu học tập ở lớp, ở nhà của học sinh theophương pháp mới Đó là, học sinh không phải thuộc lòng sách giáo khoa dưới

sự tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên Từ đó các em tự hình thành chomình những tri thức mới về lịch sử Do đó, những thông tin trong sách giáo

Trang 6

khoa một mặt được trình bày dưới dạng nêu vấn đè để học sinh suy nghĩ Mặtkhác, kèm theo những thông tin là những câu hỏi, bài tập yêu cầu học sinh thựchiện các họat động khác nhau Kênh trong sách giáo khoa không những minhhoạ, làm cơ sở cho việc tạo biểu tượng lịch sử mà còn là nguồn cung cấp kiếnthức cho học sinh.

Việc đổi mới nội dung chương trình và phương pháp biên soạn sách giáokhoa lịch sử như vậy, đòi hỏi giáo viên kết hợp với học sinh đổi mới phươngpháp dạy và học Trong đó giáo viên với tư cách là người tổ chức, hướng dẫn,phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh trong quá trình học tập

3 Thời gian thực hiện

- Thời gian thực hiện là 9 tháng ( từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 5 năm 2011)

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

I THỰC TRẠNG.

Mặc dù bộ môn lịch sử đóng một vai trò quan trọng nhưng ở cấp THCS,trong thực tế, hầu hết học sinh chưa ham học, chưa thực sự yêu thích bộ mônlịch sử, chỉ đối phó tức thời, không chú ý và xem đó như một môn phụ, đã córất nhiều em không thích học môn này Hơn nữa năng lực tiếp thu của các emcũng còn hạn chế, điều kiện học tập còn chưa đáp ứng được với yêu cầu nộidung và đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay

Qua điều tra đầu năm tại lớp 9A , Lớp 7 A khi chưa áp dụng đề tài nàyvào giảng dạy, tôi thu được kết quả như sau:

Kết quả

Lớp

Tổng số học sinh

bình

Dưới trung Bình

* Về phía giáo viên :

- Đại đa số giáo viên đều cố gắng thay đổi phương pháp giảng dạy của mìnhtheo hướng phát huy tính tích cực của học sinh thông qua các phương pháp dạyhọc như phương pháp trực quan, phương pháp giải quyết vấn đề,phương pháp

Trang 7

trường hợp(phương pháp tình huống ),phương pháp vấn đáp thông qua sự trìnhbày sinh động giàu hình ảnh của giáo viên trong tường thuật, miêu tả, kểchuyện, hoặc nêu đặc điểm của nhân vật lịch sử

- Giáo viên đã tích cực hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm, hổ trợ kiến thức cho nhau và thông qua hoạt động này những bạn yếu kém được hoạt động một cách tích cực dưới sự hướng dẫn của giáo viên và các bạn học sinh khá giỏi và học sinh nắm chắc kiến thức và hiểu sâu hơn về bản chất của sự kiện, hiện tượnglịch sử

- Trong quá trình giảng dạy đã kết hợp nhuần nhuyễn các đồ dùng dạy học, khai thác một cách triệt để các đồ dùng và phương tiên dạy học như tranh ảnh, bản đồ, sa bàn, mô hình, phim đèn chiếu, phim vi déo và từng bước ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp trong dạy học lịch sử

* Về phía học sinh :

- Học sinh đa số chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ trả lời các câu hỏi mà giáo viên đặt ra như các em đã chuẩn bị bài mới ở nhà, trả lời các câu hỏi cuối mục trong bài cho nên khi học các em luôn chú ý để nắm chắc bài hơn

- Đa số học sinh đều tích cực thảo luận nhóm và đã đưa lại hiêụ quả cao trong quá trình lĩnh hội kiến thức

- Học sinh yếu kém đã và đang cố gắng nắm bắt các kiến thức trọng tâm cơ bản thông qua các hoạt động học như thảo luận nhóm, vấn đáp, đọc sách giáo khoa các em đã mạnh dạn khi trả lời các câu hỏi hay ghi nhớ các sự kiện, nhân vật, một quá trình cách mạng trong việc chiếm lĩnh kiến thức của mình

2 Hạn chế :

* Về phía giáo viên :

- Vẫn còn một số ít giáo viên chưa thực sự thay đổi hoàn toàn phương pháp dạy học cho phù hợp với từng tiết dạy, chưa tích cực hoá hoạt động của học sinhtạo điều kiện cho các em suy nghĩ , chiếm lĩnh và nắm vững kiến thức như vẫn còn sử dụng phương pháp dạy học “thầy nói, trò nghe ”, “thầy đọc, trò chép

” Do đó nhiều học sinh chưa nắm vững được kiến thức mà chỉ học thuộc một cách máy móc, trả lời câu hỏi thì nhìn vào sách giáo khoa hoàn toàn

- Đa số giáo viên chưa nêu câu hỏi nhận thức đầu giờ học tức là sau khi kiểmtra bài cũ giáo viên vào bài luôn mà không giới thiệu bài qua việc nêu câu hỏi nhận thức, điều này làm giảm bớt sự tập trung, chú ý bài học của học sinh ngay

từ hoạt động đầu tiên

- Một số câu hỏi giáo viên đặt ra hơi khó ,học sinh không trả lơì được nhưng lại không có hệ thống câu hỏi gợi mở nên nhiều khi phải trả lời thay cho học sinh Vấn đề này được thể hiện rất rõ trong hoạt động thảo luận nhóm, giáo viên chỉ biết nêu ra câu hỏi nhưng lại không hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi đó như thế nào vì không có hệ thống câu hỏi gợi mở vấn đề

- Một số tiết học giáo viên chỉ nêu vài ba câu hỏi và huy động một số học sinh khá, giỏi trả lời, chưa có câu hỏi giành cho đối tượng học sinh yếu kém Chonên đối tượng học sinh yếu kém ít được chú ý và không được tham gia hoạt

Trang 8

động, điều này làm cho các em thêm tự ti về năng lực của mình và các em cảm thấy chán nản môn học của mình.

* Về phía học sinh :

- Học sinh thường trả lời câu hỏi giáo viên đặt ra thông qua việc nhìn sách giáo khoa và nhắc lại, chưa có sự độc lập tư duy Một số học sinh còn đọc nguyên xi sách giáo khoa để trả lời câu hỏi

-Học sinh còn lười học và chưa có sự say mê môn học, một số bộ phận học sinh không chuẩn bị bài mới ở nhà, không làm bài tập đầy đủ , trên lớp các em thiếu tập trung suy nghĩ Cho nên việc ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử còn yếu

- Học sinh chỉ có trả lời được những câu hỏi dễ, đơn giản (như trình bày), còn một số câu hỏi tổng hợp, phân tích, giải thích, so sánh thì học sinh còn rất lúng túng khi trả lời hoặc trả lời thì mang tính chất chung chung

Theo tôi, những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng trên là:

- Các em chưa thấy được tầm quan trọng của bộ môn, chưa yêu thích bộ mônlịch sử

- Các em chưa tìm thấy hứng thú trong các giờ học lịch sử

- Các em thấy khó nhớ, khó học và chán nản

- Để dẫn tới thực trạng trên một phần là do giáo viên chưa thực sự đầu tư chogiờ dạy, chưa bắt kịp với đổi mới phương pháp giảng dạy nên chưa tạo đượcnhững tiết học lôi cuốn học sinh

III GIẢI PHÁP.

Xuất phát từ thực tế bộ môn và qúa trình giảng dạy của mình tôi thấy giáoviên cần đầu tư cho bài giảng, tạo được những giờ học lôi cuốn học sinh Cónhư vậy học sinh mới yêu thích bộ môn và sẽ nâng cao được chất lượng dạyhọc bộ môn lịch sử trong nhà trường

Trong khuôn khổ của một bài kinh nghiệm, tôi xin trình bày những côngviệc bản thân tôi đã tiến hành trong quá trình giảng dạy của bản thân:

Giáo viên đóng vai trò chủ đạo trong việc hướng dẫn để học sinh phát huykhả năng tích cực của mình Bên cạnh đó, nếu kết hợp với công nghệ thông tin

sẽ nâng cao hiệu quả hơn

‾ Theo báo cáo của trung tâm nghiên cứu kĩ thuật máy tính của Mĩ vào năm 1993 (tạm dịch): “ Con người lưu lại trong bộ nhớ được khoảng 20% những

gì họ thấy và khoảng 30% những gì họ nghe Nhưng họ nhớ 50% những gì họ thấy và nghe Và con số này có thể lên đến 80% nếu họ thấy và nghe sự vật, hiện tượng một cách đồng thời” Trên lịch sử của những số liệu này và quá trìnhgiảng dạy thực tế ở trường phổ thông có thể thấy việc dạy học lịch sử chỉ với những phương tiện truyền thông như bảng đen, lời nói của thầy cô giáo và một

ít phương tiện dạy hoc mang tính tĩnh (như bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ…) chắc chắn mức độ ghi nhớ sẽ không cao, mức độ ghi nhớ của học sinh cũng thấp và nhanh quên Trong khi đó nếu học sinh được xem phim tư liệu, bản đồ, sơ đồ

Trang 9

động (được thực tế theo lôgíc sự kiện) tranh ảnh với màu sắc sinh động, kết hợp với lời nói giáo viên thì khả năng ghi nhớ của các em sẽ tăng lên Không những thế, nếu làm được điều này chúng ta sẽ tạo nên được bầu không khí học tập sinh động, khơi gợi hứng thú học tập cho các em, đồng thời khắc sâu những kiến thức mà các em tiếp thu được Rõ ràng sự kết hợp phương pháp truyền thống vớicông nghệ thông tin sẽ giúp cho hoc sinh tiếp thu thông tin nhanh, chính xác và nhớ lâu hơn

Phương pháp dạy học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ những phương pháp dạy học truyền thống, mà là kế thừa, phát triển những mặt tích cực của hệ thống phương pháp dạy học truyền thống, đồng thời cần phải học hỏi và vận dụng những phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực, khắc phục những vấn đề mà phương pháp dạy học cũ còn nhiều vấn đề chưa phù hợp

1.Nghiên cứu cấu trúc chương trình sách giáo khoa:

Trong trường THCS, học sinh được học bộ môn lịch sử từ lớp 6 đến lớp

9 Trước hết bản thân tôi phải nắm vững cấu trúc chương trình sách giáo khoacủa từng lớp học:

Lớp 6: + Lịch sử thế giới cổ đại

+ Lịch sử Việt Nam từ buổi đầu lịch sử đến đầu thế kỉ X

+ Lịch sử địa phương

Lớp 7: + Lịch sử thế giới trung đại

+ Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX

Lớp 9: + Lịch sử thế giới hiện đại(từ 1945 đến nay)

+ Lịch sử Việt Nam từ 1918 đến nay

+ Lịch sử địa phương

Trong khi giảng dạy, tôi hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức đã học,

để xây dựng và tiếp thu kiến thức mới Nắm vững cấu trúc chương trình giúptôi liên hệ, mở rộng và nâng cao kiến thức làm cho bài giảng phong phú hơn

2 Xác định đúng dạng bài.

Việc xác định dạng bài là điều quan trọng để dạy đúng phương phápđặc trưng của bộ môn và đúng với phương pháp của từng loại bài dạy Đối vớimôn lịch sử có các dạng bài sau:

- Bài cung cấp kiến thức mới

- Bài ôn tập, sơ kết, tổng kết

- Bài kiểm tra kiến thức

- Bài hỗn hợp

- Bài học tại thực địa

Trang 10

3 Chủ động kiến thức:

Kiến thức của giáo viên là yếu tố tiên quyết trong việc nâng caochất lượng học tập của học sinh Nhận thức được điều đó nên bản thân tôi tíchcực tìm hiểu và học hỏi, biến kiến thức của SGK, tài liệu tham khảo thànhkiến thức của mình, chủ động kiến thức khi lên lớp truyền thụ cho học sinh, từ

đó tôi đã tạo cho học sinh một niềm tin về kiến thức ở giáo viên

4 Khai thác sách giáo khoa:

Bài soạn và bài giảng của giáo viên không ghi lại một cách y nguyên

xi sách giáo khoa Phần cơ bản nhất là phần có trong cả bài giảng của giáo viên

và cả trong sách giáo khoa Bên cạnh đó phải có phần kiến thức bổ sung màgiáo viên đưa ngoài vào; phần kíên thức có trong sách giáo khoa mà không cótrong bài giảng, giáo viên phải tinh giản bằng bản lĩnh của mình

Để làm được như vậy, tôi đọc kĩ bài để tìm hiểu nôị dung, xác định kiếnthức cơ bản, trọng tâm của một bài, một phần, một mục Tôi xác định sự kiệnquan trọng nhất để nhấn mạnh, phân tích và hướng dẫn học sinh tìm hiểu các sựkiện khác Trong một tiết học tôi chọn và dạy từ 8 đến 10 đơn vị kiến thức (tuỳtừng khối lớp) để học sinh lĩnh hội Không ôm đồm dẫn tới loãng kiến thức

5 Soạn bài:

Soạn bài là công việc quan trọng trước khi lên lớp của bất kì giáo viên

bộ môn nào Bản thân tôi xác định việc soạn bài chu đáo quyết định một phầnthành công của giờ dạy Khi soạn bài, tôi xác định trọng tâm của bài dạy và sắpxếp các kiến thức của bài thành một hệ thống đảm bảo tính không gian và thờigian của sự kiện lịch sử, tính khoa học của nội dung bài học và vừa sức đối vớihọc sinh, trình bày vấn đề ngắn gọn, rõ ràng Xây dựng hệ thống câu hỏi khoahọc theo hệ thống kiến thức của bài Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, phù hợpvới 4 đối tượng học sinh (Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu) để huy động nhiều họcsinh làm việc trên lớp Hệ thống câu hỏi phải phát huy được tư duy của họcsinh, có câu câu hỏi gợi mở, câu hỏi phát hiện, câu hỏi phát triển Đồng thời tôi

dự kiến thời gian cho từng mục tuỳ theo trọng tâm của bài

6 Chuẩn bị đồ dùng:

Dạy lịch sử không thể thiếu đồ dùng dạy học Đồ dùng trực quankhông chỉ là phương pháp mà còn là một nguyên tắc dạy học lịch sử Đồ dùngtrực quan góp phần tái hiện lịch sử, tạo biểu tượng cụ thể hoá các sự kiện lịch

sử Đồ dùng giúp học sinh nắm bắt được kiến thức lịch sử, phát triển khả năngquan sát, tư duy của học sinh, giáo dục tư tưởng, thẩm mĩ, hiểu được cái đẹpqua các thời đại Tuỳ theo dạng bài để tôi chuẩn bị đồ dùng cho phù hợp

7 Lên lớp:

Để giờ học lôi cuốn học sinh, giáo viên phải biết cách tổ chức, dẫn dắt vừatạo không khí thoải mái vừa hướng dẫn các em chiếm lĩnh nội dung kiến thứccủa bài học

B1: Quan sát lớp học, nắm sĩ số học sinh, tạo tâm thế cho giờ học

B2: Kiểm tra bài cũ

Câu hỏi bài cũ phải hướng vào kiến thức trọng tâm của bài, giúp cho họcsinh nhớ lại, khắc sâu một lần nữa để vận dụng khi giải quyết bài mới Tuy

Trang 11

nhiên câu hỏi bài cũ không nhất thiết phải kiểm tra kiến thức của bài ngay trước

đó Để phục vụ cho bài học mới có thể tôi đưa ra câu hỏi mà học sinh đã học ởlớp dưới Câu hỏi phải rõ ràng phù hợp với 4 đối tượng học sinh (Giỏi, khá,trung bình, yếu)

Trước hết tôi yêu cầu học sinh gấp sách vở lại, sau đó nêu câu hỏi cho cảlớp suy nghĩ Tôi gọi một em lên trả lời, yêu cầu cả lớp lắng nghe bạn trả lời.Sau khi học sinh trả lời xong, tôi gọi một em khác nhận xét, cuối cùng tôi nhậnxét và cho điểm Kiểm tra xong bài cũ, tôi đặt vấn đề vào bài mới

* Lưu ý: Bài ôn tập, tổng kết không cần kiểm tra bài cũ mà có thểlồng vào bài dạy luôn

B3: Giảng bài mới: Tôi xin trình bày hai dạng bài thường sử dụngtrong nhà trường:

* Bài cung cấp kiến thức mới: Đây là dạng bài dạy học chủ yếunhằm cung cấp cho học sinh kiến thức, kĩ năng, cảm xúc và tư duy lịch sử Nóđược xây dựng trong sự kết hợp giữa việc trình bày của giáo viên với hỏi vả trảlời giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với nhau và hoạt động độc lập củahọc sinh với các nguồn kiến thức

cũng khó nhất của hoạt động giảng dạy Trước hết tôi cho học sinh làm việc vớithông tin trong sách giáo khoa, sau đó nêu câu hỏi để học sinh suy nghĩ, tìmhiểu và trả lời Từ đó tôi dẫn dắt học sinh đi đến nhận thức kíên thức cơ bản củabài học Để tái hiện lại lịch sử, tôi không chỉ sử dụng sách giáo khoa mà còntham khảo nhiều nguồn tư liệu khác nhau Trong bài giảng tôi kết hợp giữa lờinói với vịêc sử dụng đồ dùng trực quan tranh ảnh, bản đồ, lược đồ, sơ đồ giúphọc sinh nắm được kiến thức mới Sử dụng bảng cũng là khâu quan trọng Tôichia bảng làm ba phần, hai phần dùng để trình bày kiến thức cơ bản của bài họcmột cách ngắn gọn nhất, một phần dùng để viết nháp những gì cần minh hoạcho bài dạy

* Bài ôn tập, sơ kết, tổng kết: Đối với bài này, giáo viên không cungcấp kiến thức mới mà hướng dẫn học sinh nhớ lại những kiến thức đã học từ đósữa chữa và bổ sung những hiểu biết sai của học sinh, khái quát hoá và rút ranhững kết luận để học sinh nhận thức sâu sắc và toàn diện Giáo viên phải có sựsáng tạo trong phương pháp để dẫn dắt, tổ chức giờ học, nếu không dễ dẫn đến

“dạy lại”

Trước hết tôi kiểm tra việc chuẩn bị ở nhà của học sinh, sau đó cho họcsinh nêu những vấn đề cơ bản của chương, những vấn đề cần phải sơ kết, tổngkết Nêu câu hỏi dưới dạng các bài tập, cho học sinh hoạt động nhóm để thu húthọc sinh tham gia trao đổi, từ đó tôi giúp học sinh nâng cao nhận thức về cáckhái niệm, các quy luận cơ bản Kết thúc bài học tôi nêu những kết luận chung

có tính khái quát theo giai đoạn, thời kì những vấn đề đã học

Lưu ý: Hiệu quả của bài ôn tập phụ thuộc vào các điều kiện:

+ Sự chuẩn bị của học sinh ở nhà

+ Tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh tại lớp

+ Lựa chọn đúng nội dung, khối lượng ôn tập

Trang 12

Vì vậy trước mỗi giờ ôn tập, sơ kết, tổng kết tôi hướng dẫn họcsinh về chuẩn bị ở nhà những nội dung chính cần ôn tập.

B4: Sau mỗi bài học, tôi rất chú trọng phần củng cố kiến thức Tôidành một khoảng thời gian nhất định cho phần củng cố để đọng lại kiến thứccho học sinh Có các hình thức củng cố sau: giáo viên sơ kết bài, giáo viên nêucâu hỏi cho học sinh trả lời những vấn đề cơ bản của bài học, yêu cầu học sinhtrình bày lại diễn biến của một trận đánh trên lược đồ, lập bảng thống kê các sựkiện chính,

8 Sử dụng trò chơi để tạo hứng thú cho HS trong những tiết dạy

Thiết nghĩ rằng trò chơi trong các giờ học Lịch sử không chỉ nhằm mụcđích giải trí cho học sinh mà còn tạo nên một không khí hăng say học tập Các

em phải có thể độc lập suy nghĩ tìm tòi hoặc phối hợp với các bạn trong nhóm

để có đáp án nhanh, chính xác Vì thế khi các em được học Lịch sử qua hìnhthức trò chơi sẽ thấy thoải mái hơn, hứng thú hơn, từ đó mà ghi nhớ tốt nhữngkiến thức cơ bản

* Từ những việc làm trên, tôi xin minh chứng bằng hai bài dạy

sau :

Tiết 53: I Khởi nghĩa nông dân Tây Sơn

- Anh em Nguyễn Nhạc lập căn cứ Tây Sơn và sự ủng hộ của đồng bàoTây Nguyên

Tôi xác định trọng tâm của bài là mục 2

Đồ dùng dạy học

- Máy chiếu Projectơ

- Lược đồ căn cứ của nghĩa quân Tây Sơn

- Tranh ảnh: Chân dung Nguyễn Nhạc, tượng đài Quang Trung

Tôi tiến hành bài giảng theo trình tự sau:

1) Ổn định lớp, nắm sĩ số học sinh

2) Bài cũ:

- Nêu tình hình kinh tế, đời sống của nhân dân Đàng Ngoài ở thế kỉ XVIII?

- Tình hình ấy dẫn tới hậu quả gì?

Sau khi học sinh trả lời, tôi cho học sinh nhận xét, góp ý, cuối cùng tôinhận xét, cho điểm và dẫn vào bài mới

3) Giới thiệu vào bài:

Có áp bức thì có đấu tranh, nhân dân Đàng Ngoài đã nổi dậy đấu tranhchống chính quyền Lê-Trịnh Vậy tình hình Đàng Trong nửa sau thế kỉ

Trang 13

XVIII như thế nào ? Vì sao có cuộc khởi nghĩa Tây Sơn? Bài học hôm naychúng ta sẽ tìm hiểu.

1 Xã hội Đàng Trong nửa sau thế kỉ XVIII.

GV chiếu lên màn hình những biểu hiện:

- Mua quan bán tước

- Quan lại, hào cường áp bức, bóc lột nhân dân, chiếm đoạt ruộng đất công, ănchơi xa xỉ

- Trương Phúc Loan thâu tóm quyền hành trong triều đình

- Thuế khoá nặng nề

Gv bổ sung một số thông tin: Cung điện đựơc xây dựng la liệt bên bờsông Phú Xuân, nuôi các đội ca kĩ phục vụ yến tiệc, Trương Phúc Loan xâydựng vây cánh, ăn ngụ lộc năm của nguồn, vàng bạc châu báu gấm vóc đầy nhà,trâu ngựa không biết bao nhiêu mà kể Ở Đàng Trong lúc bấy giờ có hàng trămthứ thuế mà trưng thu thì phiền nhiễu Quan lại lấy cớ dân phải bù tiền thuế chonhà nước rồi đem ruộng công bán cho nhau làm ruộng tư

H: Đời sống của nhân dân Đàng Trong lúc bấy giờ như thế nào ?

Hs tìm hiểu sgk trả lời:

* Đời sống của nhân dân cơ cực

Gv bổ sung một số thông tin: Nhân dân miền xuôi thì tô thuế nặng nề,nhân dân miền núi thì cống nạp sừng tê, ngà voi

H: Đời sống của nhân dân Đàng Trong và Đàng Ngoài lúc bấy giờ có

gì giống nhau?

Hs vận dụng kiến thức đã học để so sánh và rút ra nhận xét: đều bịphong kiến áp bức, đời sống cơ cực

H: Sự mục nát của chính quyền họ Nguyễn Đàng trong đã dẫn tới hậuquả gì?

Hs suy nghĩ trả lời: Nhân dân căm dận và nổi dậy đấu tranh

Gv dẫn dắt: Sự oán dận của các tầng lớp nhân dân ngày càng cao, họ đãvùng dậy đấu tranh Có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra: khởi nghĩa Lý Văn Quang

ở Gia Định, tiêu biểu là khởi nghĩa chàng Lía

* Khởi nghĩa chàng Lía ở Truông Mây(Bình Định)

H: Em biết gì về Chàng Lía?

Hs tìm hiểu và trả lời

Trang 14

Gv trình bày: Lía xuất thân trong một gia đình nghèo khổ, anh phải

đi ở cho địa chủ Là người khí khái, giỏi võ nghệ, mạnh khoẻ Nuôi sẵn chícăm thù, nạn đói xảy ra, anh trốn vào rừng tập hợp dân nghèo nổi dậy, lấyTruông Mây làm căn cứ Nghĩa quân đánh giết bọn cường hào lấy của cải phânphát cho dân nghèo Do hoàn cảnh lịch sử, khởi nghĩa bị dập tắt

Gv chiếu lên màn hình 4 câu thơ:

“ Ai vào Bình Định mà nghe, Nghe thơ chàng Lía, hát vè Quảng Nam.

Chiều chiều én liệng Truông Mây, Cảm thương chàng Lía bị vây trong thành.”

H: Em cảm nhận như thế nào về tình cảm của nhân dân đối với chàngLía?

Hs trình bày cảm nhận: hình ảnh chàng Lía mãi khắc sâu trong lòngnhân dân

H: Khởi nghĩa chàng Lía thất bại nhưng đã có ý nghĩa gì?

Câu hỏi này yêu cầu học sinh phải suy nghĩ để tìm câu trả lời

Gv: Thể hiện tinh thần đấu tranh của nhân dân chống chính quyền họNguyễn, báo trước cơn bão táp đấu tranh giai cấp sẽ giáng vào chính quyềnphong kiến

2 Khởi nghia Tây Sơn bùng nổ.

1 Hs đọc mục 2, cả lớp theo dõi

H: Khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra trong hoàn cảnh nào?

Hs liên hệ mục 1 để trả lời

H: Khởi nghĩa Tây Sơn do ai lãnh đạo ?

* Lãnh đạo: Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ

Gv bổ sung thông tin: ba anh em sinh ra và lớn lên ở ấp Kiên Thành Tổtiên của ba người vốn quê ở Nghệ An tên là Hồ Phi Khang bị quân chúa Nguyễnbắt làm tù binh năm 1655 đưa vào Tây Sơn khai hoang lập ấp Hồi nhỏ ba anh

em được học thầy giáo Hiến - một nho sĩ bất bình với quyền thần Trương PhúcLoan Nhờ đó được hiểu biết thêm về tình hình triều đình chúa Nguyễn NguyễnNhạc buôn trầu từ vùng núi về xuôi bán nên am hiểu điạ thế, chứng kíên nhiềucảnh thống khổ của nhân dân Năm 1771 nhân bị tên Đốc Trưng Đằng ức hiếp,Nguyễn Nhạc cùng hai em dựng cờ khởi nghĩa

H: Căn cứ ban đầu của nghĩa quân ở đâu ?

* Mùa xuân 1771: ba anh em dựng cờ khởi nghĩa ở Tây Sơn Thượng đạo.

Gv chiếu lên màn hình lược đồ khởi nghĩa

Trang 15

Lược đồ: Căn cứ địa của nghĩa quân Tây Sơn

I – KHỞI NGHĨA NÔNG DÂN TÂY SƠN

I – KHỞI NGHĨA NÔNG DÂN TÂY SƠN

Phục dựng hình ảnh Lực lượng nghĩa binh Tây Sơn

H: Tại sao Tây Sơn Thượng đạo được chọn làm căn cứ ?

Hs quan sát lược đồ và nhận xét : là vùng rừng núi rậm rạp rất thuận lợicho xây dựng căn cứ

H: Anh em Nguyễn Nhạc đã chuẩn bị khởi nghĩa như thế nào ?

Hs tìm hiểu trả lời: * Chuẩn bị: xây thành đắp luỹ, lập kho tàng, luyện tậpquân sĩ

Gv đọc bài hịch của nghĩa quân Tây Sơn:

“Giận quốc phó ra lòng bội bạn nên Tây Sơn xướng nghĩa cần vương.

Ngày đăng: 19/10/2014, 05:00

Xem thêm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w