báo cáo tốt nghiệp
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay ngày càng phát triển mạnh mẽ theo định hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa của Đảng và Nhà nước đề ra Đặc biệt sau sự kiện nước ta ra nhập tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO, nền kinh tế nước ta có sự chuyển biến rõ rệt Sự kiện này vừa là cơ hội vừa là thách thức lớn đối với nền kinh tế nước ta nói chung và các doanh nghiệp nói riêng Để vững bước trong con đường kinh doanh của mình các doanh nghiệp cần phải tự chủ về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh từ việc đầu tư, sử dụng vốn, tổ chức sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm, phải biết tận dụng năng lực, cơ hội lựa chọn cho mình một hướng đi đúng đắn Để có được điều đó,một trong những biện pháp là mỗi doanh nghiệp đều không ngừng hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm Việc tính chi phí và giá thành cho 1 sản phẩm là hết sức quan trọng đối với một doanh nghiệp sản xuất Doanh nghiệp phải tính sao cho chi phí là thấp nhất nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng sản phẩm là tốt nhất Điều này làm cho sức cạnh tranh của công ty cao hơn
Là một trong những phần hành quan trọng của công tác kế toán, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với chức năng giám sát và phản ánh trung thực, kịp thời các thông tin về chi phí sản xuất, tính đúng, tính đủ cho giá thành của 1 sản phẩm giúp cho nhà quản trị đưa ra được các phương án thích hợp và hiệu quả Vì vậy, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là khâu quan trọng của công tác kế toán Việc hoàn thiện công tác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một việc làm thực sự cần thiết và có ý nghĩa
Trong thời gian học tập tại trường cùng với thời gian thực tập tại công ty cổ phần Cát Lợi em nhận thấy sự khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn về kế toán tập hợp chi
phí và tính giá thành sản phẩm Vì vậy em quyết định chọn đề tài “Tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm” để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này.
2.Mục tiêu nghiên cứu
Trang 2Tìm hiểu về tình hình cơ bản và thực trạng công tác kế toán tại đơn vị thực tập
Đi sâu nghiên cứu công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm trên thực tế tại đơn vị thực tập.Từ đó, phân tích một số tác động của của công tác kế toán này và đề ra một số biện pháp tiết kiệm chi phí sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
3.Phương pháp nghiên cứu
• Quan sát, tham khảo ý kiến của đơn vị thực tập
• Thu thập thống kê số liệu cụ thể tại phòng kế toán của công ty
• Tham khảo những tài liệu liên quan tới đề tài nghiên cứu
• Tổng hợp ý kiến của giáo viên hướng dẫn
4.Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Thời gian thực tập tốt nghiệp từ 20/02/2012 đến 10/04/2012
Không gian: Tại công ty cổ phần Cát Lợi
Phạm vi: Các thông tin, số liệu kế toán sử dụng trong bản báo cáo được thu thập tại phòng tài chính – kế toán về tập hợp chi phí và tính giá thành
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận báo cáo gồm 4 chương:
Chương 1:Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.Chương 2:Giới thiệu chung về công ty cổ phần Cát Lợi
Chương 3:Thực trạng tổ chức công tác kế toán tâp hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Cát Lợi
Chương 4:Nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại công ty cổ phần Cát Lợi
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
Trang 31.1.Những vấn đề chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
1.1.1 Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất.
1.1.1.1 Khái niệm.
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao động sống (tiền lương và các khoản trích theo lương) và lao động vật hóa (nguyên vật, nhiên liệu, hao mòn tài sản cố định) phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công nghiệp
1.1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, có nội dung kinh tế, mục đích, công dụng khác nhau Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý người ta tiến hành phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo từng tiêu thức thích hợp
Phân loại chi phí là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng nhóm theo những đặc trưng nhất định Xét về mặt lý luận cũng như thực tế, có nhiều cách phân loại chi phí khác nhau Ta có thể tiến hành phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo một số tiêu thức phân loại chủ yếu sau:
a) Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế
Theo cách phân loại này, căn cứ vào nội dung kinh tế và tính chất của chi phí để chia ra thành các yếu tố chi phí Theo quy định hiện hành thì toàn bộ chi phí được chia thành các yếu tố sau:
♦Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính,
nguyên vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ,…sử dụng vào sản xuất kinh doanh
♦Chi phí nhân công: Bao gồm chi phí về tiền lương, phụ cấp phải trả và các
khoản trích BHXH, BHYT và KPCĐ, trích trước tiền lương nghỉ phép trên tiền lương của công nhân
♦Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ số tiền trích khấu hao trong kỳ
của các loại TSCĐ trong doanh nghiệp
Trang 4♦Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là các khoản chi về điện, nước, điện thoại, tiền
trả hao hồng cho đại lý, ủy thác và môi giới xuất – nhập khẩu, quảng cáo và các dịch vụ mua ngoài khác
♦Chi phí bằng tiền: Là toàn bộ các chi phí bằng tiền chi cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài các khoản chi phí đã kể trên
Cách phân loại này rất cần thiết cho công tác kế toán, nó có ưu điểm là cho biết được kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong kỳ để làm căn cứ để lập thuyết minh báo cáo tài chính
b) Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục tính giá thành.
Cơ sở của phương pháp này là dựa vào công dụng kinh tế của chi phí, địa điểm phát sinh cũng như mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng Theo quy định, giá trị toàn bộ của sản phẩm bao gồm các yếu tố sau:
♦Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm chi phí về các loại nguyên vật
liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu… sử dụng trực tiế vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện các công việc lao vụ, dịch vụ
♦Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền lương, phụ cấp phải trả
và các khoản trích BHXH, BHYT và KPCĐ, trích trước tiền lương nghỉ phép trên tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất theo quy định
♦Chi phí sản xuất chung: Là chi phí dung vào việc quản lý và phục vụ sản
xuất chung tại bộ phận sản xuất (phân xưởng, đội trại…) bao gồm:
Chi phí nhân viên phân xưởng
Chi phí vật liệu
Chi phí dụng cụ sản xuất
Chi phí khấu hao tài sản cố định
Chi phí dịch vụ mua ngoài
Chi phí bằng tiền khác
Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng kinh tế có tác dụng phục vụ cho việc quản lý chi phí theo định mức Đồng thời cách phân loại này là cơ sở cho
kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục, là căn
cứ để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và định mức cho kỳ sau
Trang 5c) Phân loại chi phí sản xuất theo sự biến động của chi phí.
Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất kinh doanh với khối lượng hoạt động, người ta chia chi phí làm 3 loại:
d) Phân loại chi phí sản xuất theo mối liên hệ với sản phẩm
♦Chi phí trực tiếp
♦Chi phí gián tiếp
Cách phân loại này có ý nghĩa thuần túy đối với kỹ thuật hạch toán Mức độ chính xác của chi phí gián tiếp tập hợp cho từng đối tượng phụ thuộc vào tính hợp lý và khoa học của tiêu chuẩn phân bổ chi phí
e) Phân loại chi phí sản xuất theo lĩnh vực hoạt động:
♦Chi phí của hoạt động chính: trong doanh nghiệp sản xuất bao gồm tất cả các
chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và quản lý doanh nghiệp
♦Chi phí hoạt động tài chính: gồm những chi phí liên quan đến các hoạt động
tư tài chính
♦Chi phí khác: Là những chi phí ngoài dự kiến
1.1.2 Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm
1.1.2.1 Khái niệm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất gắn liền với một khối lượng sản phẩm hoàn thành nhất định
Công thức chung để tính giá thành sản phẩm:
Giá thành đơn vị sản phẩm
Chi phí sản xuấtKết quả sản xuất
=
Trang 61.1.2.2 Phân loại giá thành
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hóa giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá thành sản phẩm, giá thành được phân lọai như sau:
a Phân loại giá thành theo thời điểm xác định
♦Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định mức
chi phí hiện hành và chỉ tính cho một sản phẩm Định mức chi phí được xác định trên cơ sở các định mức kinh tế kỹ thuật trong từng thời kỳ Giá thành định mức được xác định trước khi bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
♦Giá thành kế hoạch: Được tính toán trên cơ sở chi phí kế hoạch và số lượng
sản phẩm sản xuất kế hoạch Giá thành kế hoạch được tính toán trước khi bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ
♦Giá thành thực tế: Được tính toán và xác định trên cơ số liệu chi phí sản xuất
thực tế phát sinh và tập hợp được trong kỳ cũng như số lượng sản lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất và tiêu thụ trong kỳ
Cách phân lọai này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác định được các nguyên nhân vượt (hụt) định mức chi phí trong kỳ hạch toán, từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức cho phù hợp
b Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí
♦Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng): Là chỉ tiêu phản ánh tất cả những
chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất, bao gồm chi phí vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và CP sản xuất chung
♦Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ): Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản
chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (chi phí sản xuất, quản lý và bán hàng) Do vậy, giá thành tiêu thụ còn gọi là giá thành đầy đủ hay giá thành toàn bộ
1.1.3 Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
♦Lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành, kỳ tính giá thành phù hợp với đặc điểm doanh nghiệp
♦Mở đầy đủ các sổ, thẻ chi tiết để theo dõi, ghi nhận chi phí phát sinh kịp thời
Trang 7♦Xác định tiêu thức phân bổ chi phí phát sinh phù hợp và tiến hành lập các bảng phân bổ chi phí vào các đối tượng chịu chi phí.
♦Lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang phù hợp và tiến hành đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ
♦Lựa chọn phương pháp tính giá thành phù hợp
♦Hướng dẫn, kiểm tra các bộ phận có liên quan, tính toán phân loại chi phí phục
vụ việc tập hợp CPXS và tính giá thành sản phẩm nhanh chóng, khoa học
♦Lập báo cáo về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm đánh giá việc tuân thủ các định mức kinh tế kỹ thuật, việc thực hiện kế hoạch và dự toán CPSX, đề xuất các biện pháp tiết kiệm chi phí sản xuất để hạ giá thành sản phẩm
1.1.4 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu giống nhau về chất, đều là hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nhiệp bỏ ra trong quá trình sản xuất Nhưng, do bộ phận chi phí sản xuất các kỳ không đều nhau nên chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm lại khác nhau trên phương diện:
Như vậy chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hai mặt khác nhau của quá trình sản xuất và giá thành có mối quan hệ mật thiết với nhau Mặt khác, số liệu của
kế toán tập hợp chi phí là cơ sở để tính giá thành sản phẩm Vì vậy, tiết kiệm được chi phí sẽ hạ được giá thành
+
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
_
Trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ
_Chi phí loại trừ
Trang 81.2 Tổ chức công tác tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm
1.2.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành sản phẩm 1.2.1.1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí.
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi và giới hạn để tập hợp chi phí sản xuất theo các phạm vi và giới hạn nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra giám sát chi phí
và yêu cầu tính giá thành
Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên trong việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất Thực chất của việc xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là xác định nơi gây ra chi phí hoặc đối tượng chịu chi phí
Như vậy, xác định đối tượng chi phí sản xuất một cách khoa học, hợp lý là cơ sở
để tổ chức kế toán chi phí sản xuất, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu, ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết…
1.2.1.2 Đối tượng tính giá thành.
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công vụ, lao vụ mà doanh nghiệp
đã sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị
Việc xác định đối tượng tính giá thành cũng cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quản lý sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, khả năng, yêu cầu quản lý cũng như tính chất của từng lạo sản phẩm cụ thể
Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc thì từng sản phẩm được xác định
là đối tượng tính giá thành.Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng loạt thì từng lạo sản phẩm là đối tượng tính giá thành
1.2.2 Kỳ tính giá thành sản phẩm
Là khoản thời gian cần thiết phải tiến hành tổng hợp chi phí để tính tổng giá thành, giá thành đơn vị, kết quả hoàn thành Kỳ tính giá thành sản phẩm tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, kỹ thuật sản xuất và nhu cầu thông tin giá thành, kỳ tính giá thành có thể là tháng, quý, năm Tùy theo doanh nghiệp tổ chức đơn chiếc hay hàng loạt, chu kỳ sản xuất dài hay ngắn
1.2.3 Mối quan hệ giữ đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm.
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành giống nhau về bản chất, đều là những phạm vi, giới hạn nhất định để tập hợp chi phí sản xuất theo đó
Trang 9và cùng phục vụ cho công tác quản lý, phân tích, kiểm tra chi phí, giá thành sản phẩm Giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, viêc xác định hợp lý đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là tiền đề, điều kiện để tính gía thành theo đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp.
Trong thực tế, một đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất có thể trùng với một đối tượng tính giá thành phẩm hoặc một đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất bao gồm nhiều đối tượng tính giá thành sản phẩm và ngược lại
1.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.3.1 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên
1.3.1.1 Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu,…được xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm Các loại nguyên liệu này có thể xuất từ kho ra để sử dụng và cũng có thể mua về đưa vào sử dụng ngay hoặc do tự sản xuất ra và đưa vào sử dụng ngay
Trong quá trình hạch toán, nguyên vật liệu nào khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt như phân xưởng, loại sản phẩm, nhóm sản phẩm,… thì hạch toán trực tiếp cho đối tượng đó Trường hợp không thể hạch toán riêng được thì áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tượng có liên quan Tiêu thức phân bổ thường dùng là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ số, theo trọng lượng,số lượng, sản phẩm,… Tùy theo điều kiện cụ thể để phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chung hoặc tính toán phân
bổ riêng từng khoản mục chi phí cụ thể như: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực,…
Để tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng tài khoản 621 – “Chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp” và một số tài khoản có liên quan như TK111,
TK112, TK151, TK152, TK153,…Tài khoản 621 không có số dư cuối kỳ và được
mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí
Kết cấu:
Bên nợ: Giá trị thực tế nguyên vật liệu xuất dùng để trực tiếp để trực tiếp chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ
Trang 10 Bên có: giá trị thực tế của nguyên vật liệu không nhập lại kho Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cuối kỳ sang tài khoản tính giá thành
Sơ đồ 1.1 : Sơ đồ hạch toán CPNVLTT:
1.3.1.2 Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp(CPNCTT) là khoản phải trả cho nhân công trực tiếp sản xuất sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc, lao vụ ở các phân xưởng sản xuất như tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp có tính chất lượng
và các khoản BHXH, BHYT,KPCĐ do người sử dụng lao động chịu và được tính vào chi phí sản xuất theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất
Cũng như CPNVLTT, CPNCTT trong trường hợp không thể tổ chức hạch toán riêng theo từng đối tượng phải chịu chi phí thì phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp, để phân bổ chi phí đã phát sinh ra cho các đối tượng liên quan Khi tính toán phân bổ CPNCTT người ta thường phân bổ theo ừng khoản mục chi phí có mối quan hệ khác nhau với quá trình sản xuất dựa trên các tiêu thức phân bổ khác nhau
- Đối với tiền lương chính của công nhân sản xuất thì thường phân bổ theo tỷ lệ tiền lương định mức hoặc giờ công định mức
TK154TK152
Xuất kho nguyên vật liệu để
Nguyên vật liệu thừa nhập lại kho
X
Mua nguyên vật liệu xuất thẳng để sản xuất sản phẩm
TK152
Trang 11- Đối với tiền lương phụ của chi phí sản xuất thì thường phân bổ theo tỷ lệ tiền lương chính của công nhân sản xuất.
- Đối với khoản chi phí về BHXH, BHYT, KPCĐ thì cần tính theo tỷ lệ lương
Kế toán căn cứ vào bảng chấm công, phiếu xác nhận sản phẩm hoặc khối lượng công việc hoàn thành của bộ phận trực tiếp sản xuất để tính lương cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm trong tháng
Căn cứ vào các chứng từ trên, kế toán ghi vào sổ chi tiết tài khoản 622 - “Chi phí
nhân công trực tiếp”.
Kết cấu:
Bên nợ: chi phí nhân công trực tiếp phát sinh trong kỳ
Bên có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp sang tài khoản tính giá thành
TK 622 không có số dư
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ hạch toán CPNCTT
1.3.1.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung
Các khoản trích theo lương
công nhân trực tiếp sản xuất
Trích trước tiền lương nghỉ phép công nhân sản xuất
Trang 12- Chi phí sản xuất chung là những chi phí có liên quan đến việc tổ chức, quản lý và phục vụ sản xuất ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất… bao gồm:
- Chi phí nhân viên phân xưởng: gồm các khoản chi phí tiền lương, các khoản phụ cấp và các khoản trích theo lương… phải trả hoặc phải tính cho nhân viên phân xưởng
- Chi phí vật liệu: gồm những chi phí vật liệu dùng chung ở phân xưởng như: vật liệu dùng sửa chữa bảo dưỡng TSCĐ, CC-DC thuộc phân xưởng quản lý và sử dụng
- Chi phí dụng cụ sản xuất: như khuôn mẫu đúc, dụng cụ cầm tay…
- Chi phí khấu hao TSCĐ: gồm các chi phí khấu hao máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng…
- Chi phí dịch vụ mua ngoài như: điện nước…
- Các khoản chi phí bằng tiền khác: phản ánh chi phí bằng tiền ngoài các chi phí
dã kể trên như: chi phí hội nghị, tiếp khách…
CPSXC được tập hợp theo từng phân xưởng, bộ phận sản xuất Cuối kỳ CPSXC của phân xưởng, bộ phận nào sẽ được phân bổ cho những sản phẩm mà phân xưởng, bộ phận đó sản xuất ra Thường thì phân bổ tỷ lệ với tiền lương công nhân sản xuất
Kế toán căn cứ vào bảng chấm công, bảng thanh toán, hóa đơn mua vào, phiếu nhập xuất vật liệu, dụng cụ phục vụ sản xuất, trích bảng khấu hao TSCĐ để xác định chi phí sản xuất chung
Căn cứ vào các chứng từ trên, kế toán ghi vào sổ chi tiết tài khoản 627 –“ Chi phí
sản xuất chung”
Kết cấu:
Bên nợ: chi phí sản xuất chung thực tế trong kỳ
Bên có: các khoản phát sinh giảm chi phí trong kỳ kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tượng chịu chi phí
TK 627 không có số dư và được mở chi tiết cho từng đối tượng theo các yếu
tố chi phí và phản ánh trên các tiểu khoản
TK 6271: Chi phí nhân viên phân xưởng
TK 6272: Chi phí vật liệu
TK 6273: Chi phí dụng cụ sản xuất
Trang 13 TK 6274: Chi phí khấu hao TSCĐ
TK 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 6278: Chi phí bằng tiền khác
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ hạch toán CPSXC
1.3.2 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ
1.3.2.1 Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên liệu, vật liệu phản ánh trên tài khoản này được ghi một lần vào cuối
kỳ kế toán Cuối kỳ kế toán, Doanh nghiệp tiến hành kiểm kê và tiến hành xác định từng nguyên liệu, vật liệu tồn kho cuối kỳ Sau đó căn cứ vào kết quả kiểm kê cuối
kỳ trước, cuối kỳ này, nguyên liệu, vật liệu nhập trong kỳ để xác định giá trị nguyên liệu,vật liệu xuất kho trong kỳ theo công thức:
Trị giá nguyên vật liệu
xuất dùng trong kỳ =
Trị giá nguyên vật liệu tồn đầu kỳ +
Trị giá nguyên vật liệu nhập trong kỳ -
Trị giá nguyên vật liệu tồn cuối kỳ
Tài khoản sử dụng: TK621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”
TK142,152,153
Các khoản giảm chi phí sản xuất chung
Lương và các khoản trích theo
lương của nhân viên phân xưởng
X
Xuất vật liệu, công cụ dụng cụ
phục vụ phân xưởng sản xuất
TK214
Chi phí khấu hao tài sản cố định
ở phân xưởng sản xuất
TK331,335
Chi phí điện, nước, sửa chữa, thuê
ngoài,… ở phân xưởng sản xuất
TK154Kết chuyển chi phí
sản xuất chung TK627
Trang 14TK611 “Mua hàng trong kỳ”
Sơ đồ 1.4 Sơ đồ hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (KKĐK)
1.3.2.2 Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp
Về chi phí nhân công trực tiếp, tài khoản sử dụng và cách tập hợp chi phí trong kỳ giống như phương pháp kê khai thường xuyên Cuối kỳ, để tính giá thành sản phẩm, lao
vụ, dịch vụ, kế toán tiến hành kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào TK 631 theo từng đối tượng
Sơ đồ 1.5 Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp (KKĐK)
1.3.2.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung
TK631TK611
Xuất kho nguyên vật liệu để
Nguyên vật liệu thừa nhập lại kho
Trang 15Toàn bộ chi phí sản xuất chung được tập hợp vào TK627, tài khoản sử dụng và cách tập hợp chi phí trong kỳ tương tự như doanh nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên Cuối kỳ, để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, kế toán tiến hành kết chuyển chi phí sản xuất chung vào TK631 theo từng đối tượng.
Sơ đồ 1.6: Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung
1.3.3 Hạch toán quá trình tổng hợp các khoản mục chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất có quan hệ trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi phí Kế toán tập hợp chi phí sản xuất vào bên nợ TK154 (phương pháp kê khai thường xuyên) hoặc TK631 (phương pháp kiểm kê định kỳ) theo từng đối tượng sản phẩm để tính giá thành cho từng loại sản phẩm
Sơ đồ 1.7 Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
theo phương pháp kê khai thường xuyên (kiểm kê định kỳ)
TK142,152,153
Các khoản giảm chi phí sản xuất chung
Lương và các khoản trích theo
lương của nhân viên phân xưởng
Chi phí khấu hao tài sản cố định
ở phân xưởng sản xuất
TK331,335
Chi phí điện, nước, sửa chữa, thuê
ngoài,… ở phân xưởng sản xuất
TK631Kết chuyển chi phí
sản xuất chung TK627
Trang 161.4.1 Kế toán sản phẩm hỏng
Sản phẩm hỏng là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất hoặc đã sản xuất xong nhưng có sai phạm về mặt tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan đến chất lượng, mẫu mã, quy cách Những sai phạm này có thể do những nguyên nhân liên quan như trình độ lành nghề, chất lượng vật liệu, tình trạng trang bị kỹ thuật, việc chấp hành kỷ luật lao động, sự tác động của điều kiện tự nhiên,…Khi nói đến sản phẩm hỏng cần phân biệt 2 trường hợp: sản phẩm hỏng trong định mức cho phép và sản phẩm ngoài định mức( hoặc vượt định mức)
Sản phẩm hỏng trong định mức bao gồm những sản phẩm những sản phẩm hỏng nằm trong giới hạn cho phép xảy ra do đặc điểm và điều kiện sản xuất cũng như đặc điểm của bản thân sản phẩm được sản xuất Các khoản thiệt hại liên quan đến sản phẩm hỏng trong định mức như chi phí sửa chữa, trị giá của sản phẩm hỏng không sửa chữa được sau khi trừ phần phế liệu thu hồi… được tính vào giá thành của sản phẩm hoàn thành
Sản phẩm hỏng ngoài định mức bao gồm những sản phẩm hỏng vượt quá giới hạn cho phép do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan gây ra Đối với sản phẩm hỏng ngoài định mức thì các khoản thiệt hại về mặt chi phí liên quan đến nó không được tính vào giá thành sản phẩm mà xử lý tương ứng với những nguyên nhân gây ra
Đối với sản phẩm hỏng sửa chữa được
Trang 17Đối với sản phẩm hỏng nằm trong định mức, chi phí sửa chữa được hạch toán vào những khoản mục chi phí sản xuất sản phẩm phù hợp với nội dung từng khoản chi sửa chữa Cuối kỳ kết chuyển vào giá thành của sản phẩm hoàn hành trong kỳ.Đối với sản phẩm hỏng ngoài định mức thì theo dõi chi tiết chi phí sửa chữa để tổng hợp toàn bộ chi phí sửa chữa phát sinh, sau đó kết chuyển vào các đối tượng có liên quan.
Nội dung và trình tự hạch toán được thực hiện như sau:
1,Tập hợp chi phí sửa chữa phát sinh:
3, Căn cứ vào kết quả xử lý để phản ánh:
Nợ TK 154(sp đang chế tạo): Tính vào giá thành sản phẩm
Nợ TK 1388: Bắt bồi thường
Nợ TK 811: Tính vào chi phí khác
Có TK 154(sp hỏng): Chi phí sửa chữa
Đối với sản phẩm hỏng không sửa chữa được
Nội dung và trình tự hạch toán được thực hiện như sau:
1, Căn cứ vào giá của sản phẩm hỏng không sửa chữa được để ghi:
Nợ TK 154(sp hỏng)
Có TK 154(sp đang chế tạo): Phát hiện trong quá trình sản xuất
Có TK 155: Phiện trong kho thành phẩm
Trang 18Có TK 154(sp hỏng)
Căn cứ vào kết quả xử lý khoản thiệt hại để ghi:
Nợ TK 154(sp đang chế tạo): Tính vào giá thành sản phẩm
Nợ TK 1388: Bắt bồi thường
Nợ TK 811: Tính vào chi phí khác
Có TK 154(sp hỏng): Khoản thiệt hại về sản phẩm hỏng
1.4.2 Kế toán thiệt hại về ngừng sản xuất
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, có thể xảy ra những khoảng thời gian phải ngừng sản xuất do các nguyên nhân khách quan hay chủ quan gây ra như: thiết
bị sản xuất bị hư hỏng, thiếu nguyên liệu, thiếu năng lượng, thiên tai, hỏa hoạn,… thời gian ngừng sản xuất là thời gian không tạo ra sản phẩm nhưng vẫn phát sinh nhiều loại chi phí để bảo vệ tài sản, đảm bảo đời sống cho người lao động, duy trì các hoạt động quản lý,…Các khoản chi phí phát sinh trong thời gian ngừng sản xuất không tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm nên về nguyên tắc không thể tính trong giá thành sản xuất sản phẩm, mà đó là chi phí thời kỳ phải xử lý ngay trong kỳ
kế toán
Trường hợp ngừng sản xuất theo kế hoạch có tính chất tạm thời (do tính thời
vụ,do để bảo dưỡng, sửa chữa máy móc,…) và doanh nghiệp có lập dự toán chi phí của thời gian ngừng sản xuất thì kế toán căn cứ vào dự toán để trích trước tính vào chi phí sản xuất kinh doanh:
Cuối niên độ phải điều chỉnh số trích trước theo số thực tế phát sinh
♦Nếu số trích trước > số thực tế thì khoản chênh lệch sẽ ghi:
Nợ TK 335
Có TK 622, 627
♦Nếu số trích trước < số thực tế thì khoản chênh lệch sẽ được tính vào chi phí:
Nợ TK 622, 627
Trang 19Có TK 335
Trường hợp ngừng sản xuất phát sinh bất thường ngoài dự kiến:
1, Các khoản chi phí phát sinh trong thời gian ngừng sản xuất sẽ ghi:
1.5 Các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang
1.5.1 Phương pháp đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Phương pháp này phù hợp với những doanh nghiệp mà chi phí NVL chính chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm, thông thường là trên 70%
Theo phương pháp này, sản phẩm dở dang chỉ gồm chi phí NVL chính, các chi phí khác được tính hết cho sản phẩm hoàn thành Mức tiêu hao về NVL chính tính cho sản phẩm hoàn thành và sản phẩm dở dang là như nhau
kỳ
X
Số lượng sản phẩm
dở dang cuối kỳ
Số lượng thành phẩm +
Số lượng sản phẩm
dở dang
1.5.2 Phương pháp ước tính sản lượng tương đương
Đối tượng áp dụng: Doanh nghiệp có khối lượng sản phẩm làm dở lớn, chênh lệch sản phẩm dở dang giữa đầu kỳ với cuối kỳ nhiều, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn
Kế toán căn cứ vào số lượng và mức độ hoàn thành của những sản phẩm dở dang cuối kỳ so với sản phẩm đã hoàn thành là bao nhiêu phần trăm Sau đó dựa vào tỷ lệ phần trăm đó để quy đổi sản phẩm dở dang ra sản phẩm hoàn thành tương đương Tiến hành phân bổ từng loại chi phí sản phẩm cho sản phẩm dở dang để xác định trị giá của nó:
Chi phí nguyên vật liệu chính hoặc nguyên vật liệu trực tiếp được phân bổ đều cho các sản phẩm không phân biệt đã hoàn thành hay chưa hoàn thành
Trang 20Các chi phí chế biến khác bỏ dần vào sản xuất theo mức độ chế biến thì phân
bổ theo mức độ hoàn thành tương đương
Công thức tính trị giá sản phẩm dở dang:
Chi phí sản
xuất dở dang
cuối kỳ =
Chi phí SXKD dở dang đầu kỳ +
Chi phí SX phát sinh trong kỳ
X
Số lượng SPDD cuối
kỳ quy đổi thành SP hoàn thành
Số lượng SP hoàn thành +
Số lượng SPDD cuối
kỳ quy đổi thành SP hoàn thành
Số lượng SPDD cuối
kỳ quy đổi thành SP
hoàn thành =
Số lượng SPDD cuối kỳ +
Tỷ lệ hoàn thành được xác định
1.5.3 Phương pháp đánh giá 50% chi phí chế biến
Phương pháp này giống phương pháp ước lượng tương đương chỉ khác một điều là mức độ hoàn thành của những sản phẩm dở dang cuối kỳ được quy định ở cùng một mức độ như nhau là 50% so với sản phẩm đã hoàn thành
1.5.4 Phương pháp đánh giá theo giá thành định mức
Đối tượng áp dụng: các doanh nghiệp sản xuất thực hiện việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành theo phương pháp định mức
Phương pháp này căn cứ vào số lượng sản phẩm làm dở và chi phí sản xuất định mức cho một đơn vị sản phẩm ở từng phân xưởng, giai đoạn để tính ra sản phẩm dở dang cuối kỳ
x
Số lượng sản phẩm dở ( hoặc số lượng sản phẩm hoàn thành tương
đương đã quy đổi)
1.6 Các phương pháp tính giá thành sản phẩm
1.6.1 Phương pháp giản đơn
Phương pháp này chủ yếu được áp dụng cho những doanh nghiệp có quy trình sản xuất giản đơn, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành phù hợp với nhau Ngoài ra, phương pháp này còn áp dungjcho những doanh nghiệp có
Trang 21quy trình sản xuất phức tạp nhưng sản xuất khối lượng lớn và ít loại sản phẩm, hoặc
để tính toán giá thành của những công việc,kết quả của từng giai đoạn sản xuất
nhất định
Theo phương pháp này, giá thành sản phẩm được tính theo công thức sau:
1.6.2 Phương pháp hệ số
Áp dụng khi trong cùng một quy trình sản xuất nhưng tạo ra nhiều loại sản phẩm
khác nhau và giữa chúng có hệ số quy đổi (quy đổi thành sản phẩm chuẩn, sản
phẩm có hệ số là 1 được xem là sản phẩm chuẩn)
Đặc điểm tổ chức kế toán: đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là nhóm sản phẩm, đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm không thể theo dõi riêng CPNVLTT, CPNCTT cho từng loại sản phẩm
Trình tự tính giá thành sản phẩm theo các công thức sau:
Tổng số lượng của
sản phẩm quy đổi =
Tổng số lượng SP sản xuất thực tế của từng SP x
Hệ số quy đổi của từng SP
Tổng số lượng của sản phẩm dở dang
Số lượng sản phẩm dở dang của sản phẩm x
Hệ số quy đổi
Tổng giá thành
sản phẩm =
Trị giá SP dở dang đầu kỳ +
Chi phí SX phát sinh trong kỳ -
Trị giá SP
dở dang cuối kỳ
-Giá trị phế liệu thu hồi (nếu có)Giá thành của 1
Trang 221.6.3 Phương pháp loại trừ chi phí sản xuất phụ
áp dụng cho các doanh nghiệp trong cùng quá trình sản xuất, ngoài sản phẩm chính
+
CPSX phát sinh trong kỳ
-CPSX
DD cuối kỳ
-Giá trị sản phẩm phụ
- Các khoản làm giảm CPSX
1.6.4 Phương pháp tỷ lệ
Áp dụng cho các doanh nghiệp có cùng một quy trình sản xuất nhưng sản xuất
nhiều loại sản phẩm khác nhau về chủng loại, phẩm chất, quy cách và giữa chúng
không có hệ số quy đổi Do vậy, phải xác định tỷ lệ giữa tổng giá thành thực tế và
tổng giá thành kế hoạch( hoặc định mức) để qua đó xác định giá thành cho từng loại
sản phẩm
Phương pháp tính:
Tỷ lệ = Tổng giá thành thực tế các loại sản phẩm hoàn thành trong kỳ
Tổng giá thành kế hoạch(hoặc định mức) các loại sản phẩm
Giá thành thực tế
từng loại sản phẩm =
Tổng giá thành kế hoạch(hoặc định mức) của từng loại SP x Tỷ lệ
1.6.5 Phương pháp đơn đặt hàng
Chủ yếu áp dụng cho những doanh nghiệp sản xuất đơn chiếc hoặc sản xuất
hàng loạt nhỏ, công việc sản xuất thường được tiến hành căn cứ vào các đơn đặt
hang của người mua Đơn đặt hàng có thể chỉ là một sản phẩm riêng biệt hoặc một
số sản phẩm cùng loại Giá thành của đơn đặt hàng là toàn bộ chi phí sản xuất phát
sinh từ lúc bắt đầu sản xuất cho đến khi hoàn thành đơn hàng
1.6.6 Phương pháp tính giá thành theo định mức
Trang 23Đây là phương pháp tính giá thành dựa vào các định mức tiêu hao về vật tư, lao động, các dự toán về chi phí phục vụ sản xuất và quản lý, khoản chênh lệch do những chênh lệch trong quá trình thực hiện so với định mức.
Phương pháp tính:
Giá thành
thực tế =
Giá thành định mức ± Chênh lệch do thay
đổi định mức ± Chênh lệch do thực
hiện so với định mức
1.6.7 Phương pháp phân bước
Chủ yếu áp dụng cho những doanh nghiệp sản xuất phức tạp kiểu chế biến liên tục, quy trình công nghệ chia ra làm nhiều giai đoạn( bước) nối tiếp nhau theo một trình
tự nhất định, mỗi bước chế biến ra một loại bán thành phẩm và bán thành phẩm của bước này là đối tượng chế biến của bước sau
• Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp phân bước nhưng không tính giá thành bán thành phẩm (BTP) mà chỉ tính giá thành của thành phẩm (TP) hoàn chỉnh (còn gọi là phương pháp kết chuyển song song).
Phương pháp này áp dụng phù hợp cho doanh nghiệp có quy trình sản xuất qua nhiều giai đoạn chế biến liên tục để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh Đặc điểm tổ chức
kế toán: đối tượng hạch toán sản phẩm là từng giai đoạn công nghệ, còn đối tượng tính giá thành là thành phẩm hoàn chỉnh
Sơ đồ 1.8: Sơ đồ công thức tính giá thành theo phương pháp kết chuyển song song
** Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp phân bước có tính giá thành bán thành phẩm (BTP) ở từng giai đoạn sản xuất trước khi giá thành của thành phẩm (TP) hoàn chỉnh (còn gọi là phương pháp kết chuyển tuần tự).
Chi phí sản xuất GĐ2 nằm trong TP
Giai đoạn n (GĐn)Chi phí sản xuất GĐn
Chi phí sản xuất GĐn nằm trong TP
GIÁ THÀNH SẢN XUẤT CỦA THÀNH PHẨM
Trang 24Phương pháp này áp dụng phù hợp cho doanh nghiệp có quy trình sản xuất phức tạp, qua nhiều giai đoạn chế biến và ở mỗi giai đoạn có yêu cầu tính giá thành BTP Đặc điểm tổ chức kế toán: đối tượng hạch toán chi phí là từng giai đoạn sản xuất, còn đối tượng tính giá thành là các BTP ở từng giai đoạn và sản phẩm hoàn chỉnh ở giai đoạn cuối cùng.
Sơ đồ 1.9: Sơ đồ công thức tính giá thành theo phương pháp kết chuyển tuần tự
1.6.8 Phương pháp liên hợp
Áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp có tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ
và tính chất của sản phẩm đòi hỏi việc tính giá thành phải kết hợp các phương pháp trên
CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CÁT LỢI 2.1 Giới thiệu về công ty Cổ Phần Cát Lợi.
2.1.1 Khái quát về công ty cổ phần Cát Lợi.
• Tên công ty: Công ty Cổ phần Cát Lợi
• Tên tiếng anh: CAT LOI JOINT STOCK COMPANY
Chi phí chế biến GĐ2
Giai đoạn n (GĐn)Giá thành bán thành phẩm GĐn-1
Chi phí chế biến GĐn
Giá thành bán
thành phẩm GĐ1 thành phẩm GĐ2Giá thành bán Giá thành thành phẩm
Trang 25• Trụ sở chính: 934 D2, Đường D, KCN Cát Lái( Cụm 2), Phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2, Thành Phố Hồ Chí Minh
• Điện thoại: 84.8.7.421118
• Fax: 84.8.7.420923
• Website: www.catloi.com.vn
• Email: clco@vnn.vn
• Công ty được thành lập theo Quyết định số 184/2003/QĐ-BCN ngày
13/11/2003 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc Xí Nghiệp In Bao Bì và Phụ Liệu Thuốc Lá Thành Công ty Cổ Phần Cát Lợi
• Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4103002106 ngày 19/01/2004 do
Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp, đăng ký thay đổi lần 4 ngày 24/03/2006
• Vốn điều lệ: 84.000.000.000 VNĐ( Tám mươi tư tỷ đồng chẵn)
• Tổng số cổ phần: 8.400.000 cổ phần(Tám triệu bốn trăm ngàn cổ phần)
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển công ty
Trước nhu cầu mạnh mẽ, đồng thời nhằm chủ động trong sản xuất, hạn chế nhập khẩu nguyên phụ liệu trong nghành sản xuất thuốc lá điếu taị Việt Nam, tháng 5 năm 1992, lãnh đạo Tổng công ty Thuốc Lá Việt Nam quyết định thành lập một xí nghiệp chuyên in các loại bao,nhãn thuốc lá và sản xuất một số phụ liệu cho thuốc
lá điếu.Xưởng in bao bì và Phụ liệu Thuốc Lá được thành lập theo Quyết định số 03/TLVN-TC-QĐ ngày 01/12/1992 và đã nhanh chóng đi vào hoạt động Ban đầu xưởng in trực thuộc công ty Xuất nhập khẩu Thuốc lá, với nhiệm vụ chính là
chuyên in các loại bao, nhãn thuốc lá và sản xuất một số phụ liệu cho thuốc lá điếu Tháng 10 năm 1993, Xí nghiệp in Bao Bì và Phụ liệu Thuốc Lá được thành lập độc lập tên cơ sở sáp nhập Phân xưởng sản xuất Cây đầu lọc( thuộc Công ty thuốc lá Sài Gòn) và xưởng in (của công ty Xuất nhập khẩu Thuốc Lá) Tháng 7 năm 1996, Bộ Công nghiệp ra Quyết định số 1992-QĐ/TCCB chính thức thành lập Xí nghiệp In Bao bì và phụ liệu Thuốc lá, hoạt động hoàn toàn độc lập, có con dấu riêng, có tài khoản riêng và trực thuộc Tổng Công ty Thuốc Lá Việt Nam Ngày 13 tháng 11 năm 2003, Bộ Công nghiệp ra quyết định số 184/2003/QĐ-BCN chuyển Xí nghiệp
In Bao bì và phụ liệu thuốc lá thành Công ty Cổ phần Cát Lợi
Trang 26Từ hoạt động in ấn những sản phẩm bao bì đơn giản ban đầu , đến nay Công ty
đã có những trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại như máy in ống đồng chín màu
có thể sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao Bên cạnh đó,Công ty cũng đã tạo thêm nhiều chủng loại sản phẩm phụ liệu thuốc lá giấy sáp vàng, giấy vấn
điếu… với sản phẩm chiến lược là cây đầu lọc, nhãn bao bì thuốc lá Sản phẩm phụ liệu và sản phẩm in của công ty hiện được cung cấp cho 15 khách hàng, đó là thành viên và công ty con của Tổng công ty Mạng lưới khách hàng của Công ty rộng khắp, trải dài từ Bắc tới Nam Tập trung đông nhất là nhóm khách hàng nằm ở địa bàn phía Nam như các công ty thuốc lá Sài Gòn và các công ty thuốc lá Miền Tây,
…Tiếp theo là địa bàn phía bắc như các Công ty thuốc lá Thăng Long, Công ty thuốc lá Thanh Hóa, Công ty thuốc lá Bắc Sơn,…
Số khách hàng còn lại nằm ở khu vực miền Trung Kể từ năm 2002, Công ty đã tiến hành xuất khẩu sản phẩm sang thị trường khu vực Campuchia Hiện nay, Công
ty đang xúc tiến hợp tác với những tâp đoàn thuốc lá lớn như Philip Morris, Britis American Tobacco
Trụ sở và nhà xưởng ban đầu của công ty tọa lạc tại số 299 đường Tôn Thất Thuyết, Quận 4-Thành phố Hồ Chí Minh với tổng diện tích hơn 8.000m2 Đến năm
2002, thực hiện chủ trương của Thành phố,công ty đã di dời trụ sở và nhà xưởng về Khu công nghiệp(KCN) Cát Lái Quận 2- Thành phố Hồ Chí Minh Với diện tích xây dựng trên 22.000m2 nằm trong khuôn viên rộng 40.000m2, hiện nay công ty đã
có một cơ ngơi khang trang hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh
Các cột mốc chính trong quá trình hình thành và phát triển
Ngày 01 tháng 12 năm 1992, xưởng in bao bì và phụ liệu thuốc lá được thành lập theo quyết định số 03/TLVN-QĐ của Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam, trực thuộc Công ty Xuất nhập khẩu thuốc lá
Tháng 10 năm 1993, sáp nhập Xưởng in (của công ty Thuốc lá sài Gòn) với phân xưởng sản xuất Cây đầu lọc( thuộc Công ty Thuốc lá Sài Gòn) thành xí nghiệp In Bao bì Và Phụ liệu thuốc lá
Tháng 7 năm 1996, Bộ công nghiệp đưa ra Quyết định số 1992-QĐ/TCCB chính thức thành lập xí nghiệp In Bao bì và Phụ liệu Thuốc lá
Trang 27 Tháng 9 năm 2003, xí nghiệp được tổ chức Det Noske Veritas của Hà Lan cấp chứng chỉ ISO 9001-2000 số 1958-2003-SIN-UKAS về quản lý chất lượng.
Ngày 13/11/2003,Bộ công nghiệp ra quyết định số 184/2003/QĐ-BCN chuyển Xí nghiệp in bao bì và phụ liệu thuốc lá thành Công ty cổ phần Cát Lợi
03 năm liên tiếp(2003,2004,2005), công ty được nhận cờ thi đua của Bộ Công nghiệp
2.1.3 Chức năng và nhiệm vụ họat động kinh doanh
Chức năng hoạt động kinh doanh
Lĩnh vực hoạt đông kinh doanh chủ yếu của công ty là: In trên bao bì; Sản xuất, mua bán vật tư phục vụ công nghiệp; Môi giới thương mại; Dịch vụ ủy thác xuất nhập khẩu; Mua bán hóa chất(trừ các hóa chất độc hại mạnh), giấy, màng BO-PP, hàng kim khí điện máy, máy móc thiết bị cơ khí, nguyên liệu sản xuất đầu lọc thuốc lá; Cho thuê nhà, xưởng, kho bãi, văn phòng
Nhiệm vụ
Căn cứ vào chủ trương phát triển trong từng thời kỳ,căn cứ vào nhu cầu thị trường
và thông tin cần thiết,công ty chủ trương nghiên cứu,xây dựng phương thức kinh doanh trên cơ sở định hướng các thẩm quyền duyệt tiến hành xây dựng kế hoạch hàng năm trên lĩnh vực sản xuất kinh doanh.Áp dụng thành tựu khoa học công nghệ
và công tác bảo vệ môi sinh môi trường
Hạch toán kinh tế độc lập trên cơ sở đảm bảo nguồn vốn của nhà nước giao cho, Công ty cũng được phép góp vốn liên doanh với các đơn vị trong nước theo luật công ty và phát triển nguồn vốn kinh doanh của Công ty Tuân thủ các chính sách, các chế độ, luật pháp có liên quan đến hoạt đọng sản xuất kinh doanh của Công ty, nghiêm chỉnh chấp hành các hợp đồng kinh tế, hợp đồng gia công và các văn bản đã
ký kết Chấp hành đầy đủ việc thu nộp ngân sách và các khoản thu nhập khác theo chỉ tiêu quy định của cơ quan quản lý
2.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Trang 28Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức công ty
Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban:
Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của công ty và có các
quyền sau:
- Thông qua sửa đổi, bổ sung điều lệ; Thông qua kế hoạch phát triển của Công ty,
thông qua báo cáo tài chính hàng năm, các báo cáo của BKS, của HĐQT
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN KIỂM SOÁT
P.TCKT P.TCHC P.KHVT-XNK KHO
PX ĐẦU LỘC
PX IN P KT GIÁM ĐỐC
BP
Y TẾ
BP.
BẢO VỆ
NHÀ XE
TỔ NGHIỆP
VỤ 1
TỔ NGHIỆP
VỤ 2
TỔ ĐIỆN PHÓ GIÁM ĐỐC