1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bảo hiểm tiền gửi

39 271 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Hiểm Tiền Gửi
Tác giả Phạm Xuân Trờng
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Nguyễn Văn Định
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Bảo Hiểm
Thể loại Đề Án Môn Học
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 188 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bảo hiểm tiền gửi

Trang 1

Lời nói đầu

Bảo hiểm là một loại hình cần thiết cho rất nhiều hoạt động xã hội và

nó ngày càng phát triển đa dạng và phong phú Riêng về Bảo hiểm tiền gửi( BHTG) ở nước ta mới được hình thành về mặt tổ chức và mới đi vào hoạt động( tháng7/2002)

Quá trình nghiên cứu và cho ra đời BHTG cũng là quá trình tiếp cận với những vấn đề mới trong điều kiện hệ thống ngân hàng nước ta đang thực hiện việc chấn chỉnh và sắp xếp lại

Bảo hiểm tiền gửi là tổ chức bảo hiểm đứng ra bảo đảm an toàn tiền gửi cho người gửi tiền ở các tổ chức kinh doan tiền tệ tín dụng trong trường hợp các tổ chức kinh doanh tiền tệ, tín dụng không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền và thuộc trách nhiệm bảo hiểm với điểu kiện các tổ chức kinh doanh tiền tệ, tín dụng đó phải mua bảo hiểm tiền gửi theo quy tắc của tổ chức bảo hiểm

BHTG tạo điều cho các ngân hàng sẽ có điều kiện tăng khả năng huy động vốn để mở rộng kinh doanh,nhất là trong cơ chế kinh tế thị trường Việt Nam, rủi ro tín dụng đối với Ngân hàng thương mại mang tính tất yếu và phổ biến, lòng tin của người dân vào các tổ chức tín dụng đang suy giảm, trong khi đó nhu cầu cần vốn đầu tư ngày càng tăng( nguồn nhàn rỗi từ dân chiếm một tỉ lệ lớn)

Chính vì vậy sự ra đời của Bảo hiểm tiền gửi là rất cần thiết, nó đảm bảo

an toàn cho các tổ chức tín dụng, đảm bảo lòng tin cho người dân khi gửi tiền, tạo điều kiện thu hút một lượng vốn lớn cho hoạt động đầu tư của đất nước

Trong phạm vi bài này em xin đề cập đến những điểm chung, nhưng mặt tích cực và hạn chế của BHTG Việt Nam, trên cơ sở đó là những kiến nghị đối với hoạt động Bảo hiểm này

Cuối cùng em xin cảm ơn tiến sĩ, thầy giáo Nguyễn Văn Định đã giành thời gian đánh giá và hướng dẫn, cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa, trung tâm thư viện đã giúp đỡ em hoàn thành đề án này Trong quá trình làm đề án

Trang 2

không tránh khỏi những thiếu sót, em mong được sự xem xét và đánh giá của thầy.

Trang 3

PHẦN MỘTNHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI

1.Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm tiền gửi

Trong các hoạt động kinh tế, tín dụng là một trong những hoạt động phát triển khá mạnh mẽ.Mặc dù hoật động tín dụng đem lại lợi nhuận cao nhưng những “rủi ro tín dụng” có thể xảy ra bất cứ khi nào gây tôn thất mất mát, thiệt hại về tài sản, thu nhập…làm cho quỹ tín dụng bị thua lỗ

Nguyên nhân của rủi ro tín dụng có nhiều mặt, phần chủ quan do sự bất cẩn của con người, phần khách quan do các hiện tượng thiên nhiên và xã hội diễn biến phức tạp ngoài tầm kiểm soát của con người, khả năng dự tính,

dự báo của con người bị hạn chế

Trong các hoạt động kinh tế, tín dụng là một trong những hoạt động phát triển khá mạnh mẽ Mặc dù hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận cao nhưng những “rủi ro tín dụng” như rủi ro mất khả năng thanh toán, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái… có thể xả ra vào bất cứ lúc nào gây tổn thất cho các quỹ tín dụng như mất mát, thiệt hại về tài sản, thu nhập… làm cho quỹ tín dụng bị thua lỗ, thậm chí bị phá sản

Rủi ro tín dụng xảy ra có thể có nhiều nguyên nhân:

- Do môi trường kinh tế chưa ổn định làm cho một số doanh nghiệp không đứng vững trên thị trường;

- Do quản lý Nhà nước còn sơ hở, tạo điều kiện cho một số cá nhân, doanh nghiệp có hành vi lừa đảo;

- Do trình độ quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp còn hạn chế… Cùng với những nguyên nhân trên, khách hàng cũng góp phần tạo ra những rủi ro tín dụng Chẳng hạn: Khách háng sử dụng vốn sai mục đích,

Trang 4

sản xuất kinh doanh thua lỗ; hoặc người vay cố tình không trả nợ; hoặc tài sản thế chấp, giấy tờ pháp lý của khách hàng không đảm bảo.

Bản thân ngân hàng và các tổ chức tín dụng cũng gây ra những rủi ro như: không chấp hành nghiêm túc các thể lệ tín dụng và vi phạm quá trình xét duyệt cho vay; Không kiểm tra được việc sử dụng vốn của người vay; quá chú trọng về lợi nhuận, đặt tiêu chuẩn lợi nhuận lên trên các nguyên tắc, điều kiện của tín dụng; việc xem xét cho vay không chuẩn xác như cho vay sai mục đích, chẳng hạn vay để “đánh quả” hoặc để đầu cơ tích trữ hàng hóa chờ giá tăng, cho vay không co biện pháp đảm bảo thích hợp

Ngoài ra còn có những nguyên nhân khác tác động đến rủi ro tín dụng như

có sự thay đổi, điều chỉnh về chỉnh về chính trị, chính sách, chế độ, luật pháp của Nhà nước, thay đổi địa giới hành chính của các địa phương…

Những rủi ro tín dụng xảy ra có thể để lại hậu quả khôn lường…

- Đối với kinh tế: Hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng có liên

quan trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các tổ chức, các doanh nghiệp, người gửi tiền Nếu có rủi ro gây thiệt hại lớn hoặc làm phá sản một vài tổ chức tín dụng sẽ tạo ra tâm lý không an tâm đối với nhân dân, họ đua nhau rút tiền làm phá sản hàng loạt ngân hàng và tổ chức tín dụng, làm cho nhiều doanh nghiệp mất vốn và ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung

- Đối với ngân hàng và các tổ chức tín dụng: Rủi ro tín dụng ảnh hưởng

trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của họ như: Giảm lợi nhuận, thua

lỗ hoặc mất khả năng chi trả

- Đối với khách hàng: có thể mất vốn dẫn đến khó khăn trong sản xuất

kinh doanh…

Để đối phó với những rủi ro tổn thất không lường trước được do các rủi ro gây ra, có rất nhiều biện pháp khác nhau nhưng biện pháp tốt nhất là bảo hiểm, nghĩa là chuyển những rủi ro mà mình có thể gặp phải cho các tổ chức bảo hiểm

Bảo hiểm tiền gửi đã ra đời nhằm bảo đảm an toàn tiền gửi cho những người gửi tiền tại các tổ chức tham gia tiền gửi; góp phần duy trì sự ổn

Trang 5

định của các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tín dụng.

Tiền gửi(tài sản của người gửi tiền) là số tiền của cá nhân, các tổ chức kinh tế-xã hội được gửi tại các tổ chức kinh doanh tiền tệ, tín dụng trong một thời gian nhất định

Trên thực tiễn, tiền gửi là một trong những nguồn vốn chủ yếu chiếm

tỷ trọng lớn và ngày càng tăng trong tổng nguồn vốn cho vay của các nhà kinh doanh tiền tệ tín dụng Nguồn vốn này còn rất tiềm tàng trong dân chúng, trong các tổ chức kinh tế-xã hội

Đương nhiên, muốn thu hút được vốn, chúng ta phải sử dụng đồng bộ các biện pháp như chính sách lãi suất, bảo đảm sự ổn định thị trường, giá cả…song một khi yếu tố trên dao động ở mức “ổn định tương đối” thì điều quan trọng có tính quyết định là phải đảm bảo “an toàn” về tiền gửi của dân

cư Nếu tiền gửi không được đảm bảo “quay trở về” với khách hàng một cách tuyệt đối an toàn thì dù chính sách hay thế nào, lãi suất phù hợp và khích thích người gửi ra sao thì cũng khó có thể huy động được tiền dân

Mặt khác, nền kinh tế thị trường đã và đang hình thành và ngày càng phát triển với một tốc độ khá nhanh ở nước ta , một khi đã chấp nhận chuyển động theo định hướng đó thì mặc nhiên phải chấp nhận tính nghiêm ngặt của quy luật cung cầu, tính cạnh tranh không khoan nhượng giữa các doanh nghiệp với nhau, và do đó phá sản trong quá trình “cạnh tranh” giữa các nhà kinh doanh nói chung và giữa các nhà kinh doanh tiền tệ nói riêng cũng là một thực tế, không thể né tránh được Với những lẽ đó, bảo hiểm tiền gửi đã trở thành một yêu cầu bức xúc đòi hỏi các nhà kinh doanh tiền tệ, tín dụng đến lúc này bắt đầu quan tâm như một lẽ đương nhiên vì nó gắn với kết quả hoạt động của mình Nó cũng là “tín hiệu” “tín nhiệm đầu tiên” trong quan

hệ với khách hàng.Bởi lẽ nếu không có hoặc thiếu nguồn vốn huy động thì không thể đáp ứng nhu cầu vay vốn của xã hội và cũng coa nghĩa là không thể nói đến kinh doanh tiền tệ tốt được

Vậy Bảo hiểm tiền gửi có nghĩa là tổ chức bảo hiểm đứng ra bảo đảm

an toàn tiền gửi cho người gửi tiền ở các tổ chức kinh doan tiền tệ tín dụng

Trang 6

trong trường hợp các tổ chức kinh doanh tiền tệ, tín dụng không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền và thuộc trách nhiệm bảo hiểm với điểu kiện các tổ chức kinh doanh tiền tệ, tín dụng đó phải mua bảo hiểm tiền gửi theo quy tắc của tổ chức bảo hiểm.

2.Đối tượng và đối tượng tham gia bảo hiểm tiền gửi.

Đối tượng tham gia bảo hiểm là các quỹ tín dụng nhân dân, có nghĩa

là quỹ tín dụng nhân dân phải có trách nhiệm đảm bảo an toàn tuyệt đối tiền gửi cho người gửi tiền và người trực tiếp mua bảo hiểm tiền gửi là quỹ tín dụng nhân dân chứ không phải người gửi tiền

Đối tượng bảo hiểm tiền gửi là tiền gửi Tiền gửi là số tiền của các cá nhân, các tổ chức kinh doanh tiền tệ, tín dụng( như ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân,…) trong một thời gian nhất định

Như chúng ta đều biết, tiền gửi thông thường chia làm hai loại: tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không có kỳ hạn

3.Phạm vi bảo hiểm tiền gửi.

Trong bảo hiểm tiền gửi các rủi ro sau đây được bảo hiểm:

a.Sự phá sản quỹ tín dụng

Phá sản là trường hợp quỹ tín dụng không thể trả nợ một cách đầy đủ hoặc quỹ tín dụng không thể tiếp tục kinh doanh vì bị thiếu vốn Trong trường hợp này, các công việc kinh doanh của quỹ phải được giao cho ban thanh lý tài sản xử lý các tài sản còn lại theo đúng quy định pháp lý về phá sản của nhà nước

b.Sự giải thể bắt buộc của quỹ tín dụng

Giải thể bắt buộc là do không tuân thủ các quy tắc, luật lệ của Nàh nưứoc hoặc có thể do chủ nợ đề nghị toà án ra lệnh tuyên bó giả thể vì quỹ tín dụng

từ chối thanh toán và chỉ có cách này mới hy vọng thu hồi được tiền

Trang 7

c.Phải chấp hành lệnh thanh lý vì một khác với việc phá sản hay mất khả năng thanh toán của quỹ tín dụng.

Trong trường hợp này xảy ra khi cơ quan có thẩm quyền xét thấy quỹ mặc

dù vẫn có khả năng thanh toán nhưng khng đúng mục đích đã đề ra, không muốn toà án can thiệp mà quyết định thanh lý không cho hoạt động tiếp Trong trường hợp này, bảo hiển sẽ giải quyết bồi thường cho những người gửi tiền nhưng sẽ được thế quyền để được hưởng số tiền thanh lý tài sản hay đòi nợ

d.Giải thể tự nguyện do bị đặt trong tình trạng có nguy cơ dẫn đến phá sản của quỹ tín dụng.

Tình trạng có nguy cơ dẫn đến phá sản của quỹ tín dụng là tình trạng quỹ tín dụng bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc gặp khó khăn khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Tuy nhiên, không muốn toà án can thiệp, các cổ đông của quỹ chấp nhận tuyên bó giải thể Trong trường hợp này, bảo hiểm tiền gửi có kỳ hạn

mà quỹ không thanh toán hết sau khi có quyết định giải thể

e.Không thể thực hiện việc thanh toán cho những người gửi tiền vì một mệnh lệnh của tòa án đối với quỹ tín dụng

4.Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm

a.Sồ tiền bảo hiểm

số dư tiền gửi có kỳ hạn trong báo cáo số dư có tiền gửi của mỗi quỹ tín dụng

b.Phí bảo hiểm

Trang 8

Phí bảo hiểm là số tiền quỹ tín dụng phải trả cho người bảo hiểm để bảo hiểm số dư tiền gửi có kỳ hạn của quỹ tại thời điểm cuối cùng mỗi quỹ Phí bảo hiểm theo từng quý được tính theo công thức :

P=m*R/365*90Trong đó:

P: Phí bảo hiểm theo quým: Số dư tiền gửi có kỳ hạnR: Tỷ lệ phí bảo hiểm

c.Giám định và chi trả bảo hiểm

Khi xảy ra rủi ro được bảo hiểm, quỹ tín dụng phải thông báo cho người bảo hiểm biết kèm theo các giấy tờ:

+Giấy yêu cầu bồi thường

+Giấy chứng nhận bảo hiểm

+Báo cáo thực trạng đến ngày xẩy ra rủi ro

+Lệnh của tòa án tuyên bố phá sản

+Bản kê khai danh sách những người gửi tiền có kỳ hạn chưa được thanh toán tính đến ngày xảy ra rủi ro

+Bản kê khai chi tiết chủ nợ cho vay

Sau khi xem xét các chứng từ có liên quan đến việc trả tiền bồi thường cho quỹ tín dụng và người gửi tiền đến và nếu thuộc phạm vi bảo hiểm thì bảo hiểm sẽ trả tiền cho người gửi tiền

Số tiền bồi thường cao nhất là số dư tiền gửi có kỳ hạn thực tế vào thời điểm quỹ tín dụng xảy ra rủi ro nhưng không vượt quá số tiền ghi trong hợp đồng bảo hiểm

Trang 9

PHẦN HAITHỰC TRẠNG TRIỂN KHAI BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM

1.Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được thành lập và khai trương hoạt động ngày 07/07/2000, trên cơ sở Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 của Chính phủ về Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và Quyết định số 218/1999/QĐ-TTG ngày 09/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là một tổ chức tài chính Nhà nước có tư cách pháp nhân , có bảng cân đối riêng, được mở tài khoản ở các Ngân hàng trong nước và nước ngoài, có vốn điều lệ ban đầu 1000 tỷ đồng, địa bàn hoạt động trên phạm vi cả nước Trụ sỏ chính tại thủ đô Hà Nội và 6 chi nhánh trực thuộc đặt tại các tỉnh, thành phố

Mục tiêu hoạt động của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn lành mạnh trong quá trình hoạt động đảm bảo an toàn vốn, tự bù đắp chi phí, không vì mục tiêu lợi nhuận

2.Vai trò của bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam

a.Đối với các tổ chức tín dụng

Bảo hiểm tiền gửi là một loại hình dịch vụ nên ảnh hưởng đầu tiên của

nó là sẽ làm tăng chi phí trung gian tài chính của tổ chức tín dụng tham gia bảo hiểm Mặt khác tính mạo hiểm có thể có thể tăng trong hoạt động của các tổ chức tín dụng tham gia bảo hiểm vì những lo sợ về tình trạng hoạt động không tốt có thể ảnh hưởng tới hoạt động đầu vào không còn nữa Chính vì vậy cùng với sự ra đời của hoạt động bảo hiểm tiền gửi việc thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng cũng được tăng cường

Trang 10

Những tổ chức tín dụng tham gia bảo hiểm tiền gửi sẽ tạo niềm tin cho người gửi tiền, người dân cũng thấy yên tâm rất nhiều và không lo sợ những thông tin gây thiệt hại cho tổ chức tín dụng đóa, tạo ra sự an toàn cho

hệ thống ngân hàng Qua đó sẽ là kênh huy động vốn có hiệu quả cho ngân hàng

Tổ chức tín dụng tham gia bảo hiểm tiền gửi còn có lợi ích nữa là thường xuyên được bảo hiểm tiền gửi giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định bảo hiểm tiền gửi về an toàn trong hoạt động ngân hàng Thông qua việc kiểm tra giám sát này, bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã có những ý kiến tham gia thiết thực, phát hiện những dấu hiệu làm sai chế đọ, những hiện tượng có xu hướng không lành mạnh, những nguyên nhân gây nên sự yếu kém của hoạt động tổ chức tín dụng

b.Đối với người gửi tiền

Từ đầu năm đến nay, cú 5 quỹ tín dụng ở phía Nam bị giải thể, trong đó 1 quỹ tín dụng mất khả năng chi trả Thi thoảng, người dân gửi tiền tiết kiệm cũng nghe vài "tin đồn" gây hoang mang về hoạt động của ngân hàng này nọ…

Chính sự hoang mang đó sẽ tạo ra một tâm lý nghi ngờ trong người dân,

họ không biết nếu chẳng may số tiền của mình rơi đúng vào ngân hàng bị phá sản thì sẽ bị mất hết ? Đặc biệt trong tình trạng nền kinh tế của đất nước chưa ổn định, đang trong giai đoạn hoàn thiện nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước

Do vậybảo hiểm tiền gửi luôn tạo ra niềm tin, tạo sự an toàn cho người gửi tiền Người dân cảm thấy yên tâm hơn mỗi khi gửi tiền của mình vào tổ chức tín dụng Họ không phải hốt hoảng lo sợ các tổ chức tín dụng bị phá sản bởi vì đằng sau họ luôn luôn có bảo hiểm tiền gửi đi kèm

c.Đối với nền kinh tế

Bảo hiểm tiền gửi tạo ra sự an toàn, tạo niềm tin cho người dân gửi tiền vào các tổ chức tín dụng, làm tăng nguồn vốn đầu tư, mở rộng sự phát

Trang 11

triển kinh tế đất nước Đây là một vai trò rất quan trọng nhất là trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế của nước ta đang trong giai đoạn hoàn thiện theo nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước cần rất nhiều vốn để đầu tư phát triển trong đó nguồn vốn huy động từ nhân dân chiếm số lượng lớn.

Mặt khác, kể từ khi có Bảo hiểm tiền gửi , Nhà nước có công cụ để giám sát, xử lý hậu quả ở các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các quỹ tín dụng nhân dân khi các quỹ tín dụng này mất khả năng thanh toán Điều này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay pháp luật về phá sản các tổ chức tín dụng còn chưa hoàn thiện

3.Hoạt động Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam

Việt Nam đang trong giai đoạn quá độ chuyển sang nền kinh tế thị trường, rủi ro tiềm ẩn tương đối cao,trong khi đó hoạt động tiền tệ trong giai đoạn sơ khai, tình hình tài chính của đa số các trung gian tài chính thực sự đang ở trong tình trạng thiếu lành mạnh, do đó việc cho ra đời bảo hiểm tiền gửi là rất cần thiết

Chính vì vầy, ngày 01/9/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/1999/NĐ- CP về bảo hiểm tiền gửi

a.Đối tượng và đối tượng tham gia

Các tổ chức tín dụng và tổ chức không phải là TCTD được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo qui định của Luật các Tổ chức tín dụng(bắt buộc phải tham gia); phí bảo hiểm tiền gửi được hạch toán vào chi phí hoạt động của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi;

Các cá nhân gửi tiền băng đồng Việt Nam tại các tổ chức tham gia bảo hiểm

b.Về tổ chức bảo hiểm tiền gửi

Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi là một tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động dưới sự điều tiết của Thủ tướng chính phủ, được nhà nước cấp vốn

Trang 12

điều lệ, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, bảo đảm an toàn vốn và tự

bù đắp chi phí, có tư cách pháp nhân và được miễn nộp các loại thuế.Trong trường hợp thiếu vốn tạm thời, tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải báo cáo NHNN để NHNN trình thủ tướng Chính phủ xem xét cho phép tổ chức bảo hiểm tiền gửi được vay từ các TCTD, tổ chức khác có bảo lãnh của Chính Phủ

c.Phí bảo hiểm tiền gửi

Mức phí hiện hành là 0,15%/năm trên số dư tiền gửi bình quân tại các

tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi, được nộp làm 4 lần trong năm tài chính Phí phạt đối với các trường hợp nộp chậm/ ngày; nếu tình trạng tiếp tục kéo dài tới 30 ngày, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có quyền yêu cầu NHNN trích tài khoản tiền gửi của các tổ chức TD để chuyển nộp phí bảo hiểm và các khoản tiền phạt

d.Số tiền bảo hiểm

Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi sẽ tiến hành chi trả tiền gửi được bảo hiểm với giới hạn tối đa là 30 triệu đồng/cá nhân , căn cứ vào chứng từ hợp lệ và danh sách do tổ chức bảo hiểm và tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lập :

số tiền gửi vượt quá mức tối đa sê được thanh toán theo quy định của luật phá sản

d.Loại tiền gửi cần được bảo hiểm và hình thức áp dụng

Như chúng ta đều biết, tiền gửi chia làm 2 loại: tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không có kỳ hạn, bảo hiểm tiền gửi lại là một việclàm hoàn toàn mới mẻ ở nước ta , chúng ta còn thiếu kinh nghiệm trong khâu quản lý kinh doanh bảo hiểm tiền gửi, mặt khác do tính chất luân chuyển vốn, tiền gửi không kỳ hạn mang tính thất thường nên việc tính toán phức tạp Do đó ở thời kỳ đầu chúng ta chỉ nên bảo hiểm tiền gửi loại có kỳ hạn

Để thực sự đảm bảo niềm tin cho khách hàng khi gửi tiền, khai thác tối đa nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư phù hợp với thưc tế ở nước

ta hiện nay, việc tham gia Bảo hiểm tiền gửi mang tính chất bắt buộc

Trang 13

e.Giám sát rủi ro và các biện pháp xử lý

Các kênh thông tin về hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

có quyền tiếp cận, bao gồm: Báo cáo định kỳ theo qui định của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, các báo cáo đột xuất khi tổ chức tham gia bảo hiểm gặp khó khăn về khả năng chi trả, thay đổi thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát tổng giám đốc.Ban kiểm soát đặc biệt báo cáo tình hình hoạt động của

tổ chức( trong trường hợp tổ chức này bị đặt dưới sự kiểm soát đặc biệt); Trực tiếp kiểm tra việc chấp hành các qui định tại nghị định này của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

d Quyền quản lý và thanh lý tài sản của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản

Tổ chức bảo hiểm tiền gửi sẽ trở thành chủ nợ với tổ chức tham gia bảo hiểm bị phá sản trên cơ sở số tiền đã chi trả cho người gửi tiền, do đó được tham gia vào quá trình quản lý và thanh lý tài sản của các tổ chức bị phá sản theo luật phá sản

4.Kết quả đạt được của Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam

Trên địa bàn 11 tỉnh phía Nam do chi nhánh BHTG TP Hồ Chí Minh phụ trách hiện có 160 TCTD tham gia BHTG và số tiền được bảo hiểm chiếm 52,11% so với tổng vốn huy động bằng tiền đồng, đạt hơn 20.496 tỉ đồng

Số tiền không đựoc bảo hiểm khoảng 18.83 tỉ đồng là từ trái phiếu vô danh, tiền gửi của các tổ chức

Sau hơn 4 năm hoạt động, Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam đã chi trả bảo hiểm với tổng số tiền là 14 tỷ 668 triệu đồng cho 1.351 người đến gửi tiền tại 32 quỹ tín dụng nhân dân bị chấm dứt hoạt động và khả năng thanh toán ở 10 tỉnh, thành phố

Bảo hiểm Tiền Gửi Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với chi nhánh ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố, các cấp chính quyền sở tại và từng hội đồng thanh lý QTDND tổ chức theo dõi sát tình hình thanh lý các QTDND giải thể được chi trả tiền bảo hiểm, phân tích thực trạng các khoản phải thu

Trang 14

và các khoản phải trả trong thanh lý của từng quỹ, tìm biện pháp thu hồi các khoản nợ để có nguồn chi trả cho các chủ nợ theo trật tự ưu tiên thanh toán.

Công tác chi trả tiền chi những người gửi tiền được tiến hành nhanh gọn, chính xác an toàn theo đúng quy định của pháp luật, tạo niềm tin của nhân dân địa phương, tạo tâm lý an toàn an tâm cho người dân gửi tiền vào các Quỹ tín dụng nhân dân chấm dứt hoạt động cũng như các địa phương khác có Quỹ tín dụng nhân dân khác hoạt động bình thường

Quá trình chi trả tiền gửi cho người dân không xảy ra bất cứ hiền tượng tiêu cực nào, được cấp uỷ, chính quyền địa phương đồng tình, ủng hộ Đặc biệt là hoạt động Bảo hiểm tiền gửi tạo điều kiện cho các Tổ chức tín dụng thu hút được hàng trăm nghìn tỉ đồng vốn của dân, an tâm gửi vào các ngân hàng và Quỹ tín dụng… để đầu tư cho các mục tiêu phát triển quốc gia, các

dự án và các nhu cầu vay của mọi thành phần kinh tế

Về công tác thanh lý tái 31 quỹ tín dụng nhân dân bị giải thể, số tiền phải thu là 49 tỷ 794 triệu đồng, trong 3 năm đã thu được 28%, trong đó thu

nợ cho vay đạt 28,5% thu nợ cho vay có đảm bảo bằng tài sản đạt 22,2% không có tài sản đảm bảo đạt 21,2%, các khoản thu khác đạt 3,6%

5.Những vấn đề còn tồn tại của Bảo hiểm tiền gửi Viêt nam

Bảo hiểm là một loại hình cần thiết cho rất nhiều hoạt động xã hội và nó ngày càng phát triển đa dạng và phong phú Riêng về Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) ở nước ta mới được hình thành về mặt tổ chức và mới đi vào hoạt động (tháng 7/2000) Quá trình nghiên cứu và cho ra đời BHTG cũng là quá trình tiếp cận với những vấn đề mới trong điều kiện hệ thống ngân hàng ở nước ta đang thực hiện việc chấn chỉnh và sắp xếp lại (trước đó các Quỹ tín dụng nhân dân đã tham gia bảo hiểm trong hệ thống bảo hiểm Việt Nam) BHTG cũng là một loại hình bảo hiểm nói chung (tương tự như bảo hiểm tàu thuyền , bảo hiểm nhân thọ…) nhưng là một loại hoạt động đặc thù và có ý nghĩa đặc biệt trong việc bảo đảm lòng tin của người gửi tiền vào ngân hàng

và cũng vì vậy mà các ngân hàng sẽ có điều kiện tăng khả năng huy động vốn để mở rộng kin doanh

Trang 15

Bảo hiểm nói chung và BHTG nói riêng đã hình thành và hoạt động phổ biến ở các nước trên thế giới Có một số nước, BHTG và bảo toàn tiền gưỉ (BTTG) cùng song song tồn tại hoặc có nước chỉ có loại hình BTTG (như ở Cộng hòa liên bang Đức) Khi cả hai tổ chức này cùng được hoạt động, thì các Ngân hàng thương mại được chủ động trong việc lựa chọn cho mình một loại hình hoặc là bảo hiểm hoặc là bảo toàn, cũng có thể vừa bảo hiểm vừa bảo toàn.

Các quy định của Chính phủ tại Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/01/1999, Thông tư số 03/2000/TT-NHNN5 của NHNN hướng dẫn thực hiện điều 23 Nghị định số 89-1999/ND-CP trên là cơ sở pháp lý để tổ chức Bảo hiểm tiền gưỉ Việt Nam đi vào hoạt động và sẽ góp phần làm sôi động thêm các hoạt động Ngân hàng ở nước ta Tuy nhiên, hoạt động Bảo hiểm Tiền Gửi vẫn còn tồn tại những điểm đáng lưu ý sau:

1 Về đối tượng tiền gửi được bảo hiểm

Theo quy định của chính phủ thì đối tượng tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi của cá nhân (cả tiền gửi trên tài khoản) của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Trong khi đó mục tiêu của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền nhỏ.Nhưng thực tế thời gian qua quy định trên lại được hiểu là bao gồm tất cả các loại tiền gửi của cá nhân, tiền gửi của hộ gia đình và của cả các hàng kinh doanh.Từ đó gây ra

sự phức tạp trong việc phân loại tiền gửi đươc bảo hiểm và không được bảo hiểm

2.Hình thức Bảo Hiểm

Đây là loại hình bảo hiểm, bảo hiểm bắt buộc và là tổ chức BHTG duy

nhất, điều này sẽ nảy sinh sự bất bình đẳng trong cơ chế thị trường và sự độc quyền

3, Phí Bảo Hiểm

Trang 16

Tỉ lệ phí bảo hiểm 0,15%/năm tính trên số tiền gửi bình quân của các loại

tiền gửi bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG Theo nhiều ý kiến (cả những người quan tâm và những người tổ chức tín dụng) là cao, ảnh hưởng đến hoạt động, đặc biệt là trong điều kiện các tổ chức tín dụng vừa phải xử lý tồn tại cũ, vừa phải trích dự phòng rủi ro và như vậy sẽ ảnh hưởng đến hoạt động thu chi tài chính và đời sống cán bộ, nhân viên của tổ chức tín dụng Đối với các TCTD Nhà nước hiện nay thì phí đóng bảo hiểm tiến gửi là lớn nhất, nhưng việc BHTG phải can thiệp thì hầu như ít xảy ra do có những đặc thù riêng (năng lực huy động vốn thường xuyên dồi dào, do là ngân hàng nhà nước…)

4 Hình thức nộp phí

Những quy định về trích và nộp phí bảo hiểm còn cứng (do là bảo

hiểm bắt buộc) Mặt khác, một tổ chức tài chính của Nhà nước (thực chất như là một công ty) Không có chức năng quản lý nhà nước (vừa thực hiện hoạt động bảo hiểm, vừa có tính kinh doanh) nhưng lại được phép xử lý vi phạm hành chính đối với các đơn vị tham gia BHTG (cảnh cáo, phạt tiền…)

5, Việc tổ chức giám sát rủi ro của BHTG đối với các đối tượng tham

gia BHTG là vấn đề cần phải xem xét trên các khía cạnh.

(1)- Xuất phát từ chức năng của BHTG, có cần tổ chức giám sát đến mức như các quy định hiện có không? hay là trước mắt có thể phối hợp với thanh tra ngân hàng để cung cấp kết quả giám sát rui ro, theo yêu cầu của BHTG (có trong quy định hiện hành), vì hiện tại Thanh tra Ngân hàng đã và đang tổ chức giám sát thường xuyên (cả giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ) Các tiêu chí tài chính, yêu cầu về mẫu biểu và nội dung báo cáo của các tổ chức tín dụng (nếu tham gia BHTG) đều có trong hệ thống báo cáo chung của NHNN và hầu như các số liệu hoạt động của hệ thống Ngân hàng nước

ta đều có trên mạng chung trong hệ thống truyền dẫn số liệu… của Cục công nghệ tin học Ngân hàng Nên chăng trước mắt chỉ yêu cầu báo cáo và giám sát những nội dung có tính đặc thù phù hợp với chức năng của BHTG để

Trang 17

phục vụ các yêu cầu về hỗ trợ khi đối tượng tham gia BHTG gặp khó khăn

về khả năng chi trả (ngay) và thực hiển bảo hiểm khi đối tượng tham gia BHTG có nguy cơ phá sản

(2)- Song song với việc này là tiến hành xây dựng một hệ thống giám sát riêng của BHTG tương tự như hệ thống giám sát từ xa của thanh tra NHNN hiện nay

Trang 18

6.Những hạn chế ngay trong cơ quan bảo hiểm tiền gửi

Do mới thành lập và đi vào hoạt động nên các tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam không thể không có sai sót Những sai sót này có thể kể đến là:

Thứ nhất: Trong công tác kiểm tra giám sát.

-Do kết hợp với thanh tra ngân hàng nhà nước trong quá trinh kiểm tra, giám sát nên còn có sự chồng chéo giữa bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và thanh tra ngân hàng nhà nước

-Chưa tích cực đôn đốc các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi nộp phí và các loại báo cáo theo quy định

- Trong quá trình kiểm tra phát hiện thấy có những tổ chức tiến dụng

vi pham nhưng chỉ nhắc nhở và xử phạt nhẹ đã làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của luật

-Đối tượng tham gia bảo hiểm tiền gửi rất rộng từ trung ương đến cơ

sở nhưng tổ chức bảo hiểm tiền gửi mới chỉ có 6 chi nhánh cơ sở nên việc kiểm tra giám sát còn bị hạn chế

Thứ hai: Trong công tác chi trả.

Thời gian qua bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã chi trả một khoản tiền khá lớn và việc chi trả cho những người gửi tiền tại các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở nằm rải rác trên 9 tỉnh, nên việc tiến hành thẩm định hồ sơ và tiến hành chi trả đã gặp rất nhiều khó khăn.Hơn nữa việc chi trả lại toàn bằng tiền mặt thông qua UBND xã phường hoặc tổ chức tiến dụng tại nơi bị phá sản

Thứ ba: Về trình độ cán bộ.

Do mới được tách ra từ ngân hàng nông nghiệp nên hầu hết các cán bộ của tổ chức BHTGVN là cán bộ từ nghành ngân hàng chuyển sang và lại chưa được đào tạo kịp thời về nghiệp vụ bảo hiểm Vì vậy nên họ đã gặp rất nhiều khó khăn trong công việc kiểm tra giám sát bởi họ vẫn còn chuyên về những nghiệp vụ ngân hàng hơn , từ đó làm ảnh hưởng đến hoạt động của cả

tổ chức.Hơn thế vì không nắm rõ nghiệp vụ bảo hiểm nên họ đã gặp không

Trang 19

ít khó khăn trong việc tuyên truyền, giải thích cho người dân hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi.

Bên cạnh những khó khăn, hạn chế ngay trong phạm vi hoạt động của mình,bảo hiểm tiền gửi còn gặp phải những hạn chế khác từ phía các tổ chức tiến dụng tham gia bảo hiểm tiền gửi.Về việc chấp hành những quy định chung của nhà nứoc, về nghĩa vụ tham gia bảo hiểm tiền gửi của mình.Không những vậy mà các quỹ tín dụng đã tham gia bảo hiểm tiền gửi thì lại không quản lý chặt chẽ các khoản cho vay, chưa giám sát được mục tiêu sử dụng vốn vay của người đi vay, từ đó tạo ra những rủi ro tiến dụng và dẫn đến nguy cơ giải thể quỹ tiến dụng

7.Khó khăn trong công tác thanh lý QTDND bị giải thể

Công tác thanh lý tại 31 QTDND bị giải thể, số tiền phải thu là 49 tỷ

794 triệu đồng, thu nợ cho vay có bảo đảm bằng tài sản đạt 22,2%, thu nợ cho vay không có tài sản đảm bảo đạt 36,1%, thu cho vay các tổ chức tín dụng khác đạt 100, thu thanh lý tài sản đạt 21,2%, thu các khoản phải thu khác đạt 36% Đáng chú ý là việc thu hồi bồi thường vật chất và quy trách nhiệm chỉ đạt 3,8% Một số hạn chế tồn tại của công tác thanh lý các QTDND bị giải thể được BHTGVN đánh giá là hiệu quả thấp, có dấu hiệu của sự trì trệ tại Hội đồng thanh lý dẫn đến kết quả thu hồi chỉ đạt 28% tổng các khoản phải thu và 27% tổng các khoản phải trả không đạt tiến độ thanh

lý theo phương án được duyệt

Nguyên nhân của những hạn chế tồn tại trên cũng được dánh giá là một

số cán bộ tham gia thành viên Hội đồng thanh lý chưa nhận thức đúng ý nghĩa của công tác thanh lý đối với việc củng cố chấn chỉnh hoạt động của

hệ thống QTDND nên chưa tập trung quan tâm chỉ đạo thực hiện; nhiều cán

bộ địa phương kiêm nhiệm công tác, trình độ năng lực thấp, nên không phát huy tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo Cơ chế chính sách còn nhiều bất cập đối với những khoản nợ không còn khả năng thu, qui định về chi phí thanh lý hay hướng dẫn về trình tự và thủ tục kết thúc thanh lý khi khong còn khả năng thu nợ và thanh toán nợ

Ngày đăng: 26/03/2013, 17:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạp chí bảo hiểm Khác
2. Giáo trình kinh tế bảo hiểm Khác
3. Giáo trình QTKDBh Khác
4. Thới báo kinh tế Việt Nam Khác
5. Tạp chí thời báo kinh tế Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w