giải pháp cơ bản để tiến tới thực hiện bảo hiểm toàn dân
Trang 1BAO HIEM XA HOI VIET NAM
DE TAI NGHIÊN CỨU KHOAHOC:
CAC GIAI PHAP co BAN DE TIEN TOI THỰC HIỆN
BAO HIEM Y TE TOAN DAN
CHU NHIEM DE TAI: TS PHAM PINH THANE THƯ KÝ ĐỀ TÀI: ƠN LƯU THỊ THU THUỶ
Hà Nội 2004
6301
Al3|97
Trang 2Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Doc lap- Tu do- Hanh phúc
NHẬN XÉT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
“Các giải pháp cơ bản nhằm tiến tới thực hiện Bảo hiểm y tế toàn đân”
Đề tài nghiên cứu khoa học “Các giải pháp cơ bản nhằm tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân” do tiến sĩ Phạm Đình Thành, Trung tâm nghiên cứu khoa học bảo hiểm xã hội làm chủ nhiệm, là một đề tài được nghiên cứu công phu, phạm vi rộng, mang tính thời sự và rất cần thiết trong gia1 đoạn hiện tại
Mặc dù BHYT ở nước ta đã thực hiện được hơn 10 năm, song có thể nói rằng, những đánh giá mang tính khoa học, những vấn đề rút ra từ thực tiễn vẫn còn quá ít ỏi, vì vậy sẽ không ngạc nhiên khi thật khó để tìm thấy những cuốn sách, những tài liệu, những giáo trình đầy đủ về BHYT, tôi không chủ quan khi nhận xét: đến thời điểm này, ngay những người có trách nhiệm hoạch định chính sách trong các cơ quan quản lý nhà nước cũng chưa thật hiểu về nguyên lý hoạt động của BHYT xã hội, vì vậy tôi đánh giá cao việc chọn và nghiên cứu để tài này
Trước khi đi vào các giải pháp cơ bản nhằm tiến tới thực hiện BHYT toàn dân như mục tiêu nghiên cứu của để tài, tác giả đã dành nhiều công sức để nghiên cứu các vấn để lý luận cơ bản của BHYT (t 4- t 16), cơ bản tôi đồng tình cao với các phần về bản chất, ý nghĩa, những nguyên tắc và những đặc trưng của
BHYT, đây thật sự là những vấn đề cần phải tiếp tục được khẳng định, làm cơ sở
cho việc xây dựng chính sách cụ thể về BHYT trong giai đoạn hiện tại cũng như tương lai
Tác giả cũng đã đưa đến mô hình BHYT của nhiều nước trên thế giới, trong đó tập trung ở các nước thuộc khu vực châu Âu và châu Á, điểm dễ dàng nhận thấy là không có mô hình BHYT của nước nào giống nước nào trọn vẹn, cho dù nhiều nước có chế độ chính trị, thu nhập quốc dân là giống nhau, phải chăng ở đây có yếu tố của văn hoá truyền thống đã đưa đến sự khác biệt, tôi muốn đề cập cũng để khẳng định việc không thể áp dụng mô hình nào cho Việt Nam và khi nghiên cứu về BHYT, chúng ta cũng cần nghiên cứu phong tục, tập quán, thói quen, tâm lý của đối tượng vận động Tôi quan tâm đến tình trạng không cân đối được quỹ tại các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc mong là những bài học này ta không giống họ
Tác giả dành nhiều công sức (T 28- T 48) cập nhật các thông tin rất mới
về hoạt động BHYT, về việc cung cấp dịch vụ y tế, thực trạng tình hình cơ sở vật chất y tế, sự leo thang của giá thuốc, sự quá tải ở bệnh viện để cho thấy những vấn để khó khăn, thách thức đang đặt ra cho việc triển khai BHYT ở nước ta
Trang 3Từ những vấn đề cơ bản của lý luận, những mô hình BHYT ở nước ngoài,
thực trạng việc tổ chức triển khai BHYT ở Việt Nam, tác giả đi đến phần cơ bản
nhất của đề tài; Các giải pháp cơ bản nhằm tiến tới thực hiện BHYT toàn dân (T 49- T 97) Về những nội dung được đề cập, tác giả lựa chọn việc di sâu phân tích
từng nhóm đối tượng, qua đó để xuất thời điểm, thời gian có thể đưa các nhóm
này vào thực hiện BHYT theo luật định và tiến tới việc bao phủ BHYT cho toàn dân Đây là một vấn đề khó và hoàn toàn cũng chỉ là các dự báo chủ quan hay là
sự mong muốn của tác giả, đây cũng là một cách tiếp cận đến với chủ đề rất lớn,
vì vậy tôi hoàn toàn tôn trọng tác giả Cũng có thể nói rằng, trong phần này, tác giả đã để cập đến mọi khía cạnh của vấn đề, từ tâm lý, những tác động chủ quan
và khách quan, sự lãnh đạo, chỉ đạo, công tác tuyên truyền thay đổi nhận thức
vì vậy phần này theo suy nghĩ của tôi cũng khá trọn vẹn
Như tôi đã trình bày ở trên, đây là một để tài lớn, khó và để giải quyết được vấn để mong muốn như mục tiêu của để tài, tôi xin để cập một số điểm mong tác giả nghiên cứu thêm:
1 Một trong những yếu tố rất quan trọng để có thể tiến tới BHYT toàn dân là khả năng đóng góp của người dân, của chủ sử dụng lao động và của nhà nước Điểu này sẽ phụ thuộc nhiều vào tốc độ phát triển kinh tế của đất nước, vấn để việc làm và lao động, thu nhập bình quân của dân cư, khoảng cách thu nhập giữa các nhóm dân cư trong xã hội Câu hỏi đặt ra ở đây là mức thu nhập bình quân dân cư như thế nào thì đạt điều kiện thực hiện BHYT theo luật định?
2 Trong hoàn cảnh Việt Nam, đất nước còn nghèo lại trải qua chiến tranh, đối tượng ưu đãi xã hội, trợ cấp xã hội là rất lớn (khả năng còn tăng vì
điều chỉnh chuẩn nghèo, việc bổ sung các đối tượng ưu đãi) vai trò của Nhà
nước sẽ như thế nào, chắc không chỉ là ban hành các văn bản pháp luật?
3 Chúng ta nói đến BHYT bổ sung, cứ giả thử là các bệnh viện có thể cung cấp các dịch vụ y tế bình dân và cao cấp, liệu vấn để này khi thực hiện BHYT nhà nước có phát sinh mâu thuẫn xã hội? Nếu dự kiến thu bổ sung thì mức đóng tối đa của người tham gia có nên có trần không?
4 Tác giả có đề xuất gì không về cơ chế tài chính y tế Việt Nam? Liệu việc thanh toán “nửa bao cấp” như hiện nay có còn thích hợp?
5 Để tài cũng hướng đến việc thực hiện BHYT theo hộ gia đình bắt đầu từ người ăn theo của người lao động, hộ gia đình trong BHYT tự nguyện, như vậy đến năm 2009 theo để xuất đưa học sinh vào BHYT bắt buộc liệu có khả thi?
6 Chi phí khám chữa bệnh thường xuyên thuộc linh vực xã hội hoá, việc dần xoá bỏ bao cấp cũng cần được thực hiện, điều này không hoàn toàn đo nhà nước không có khả năng, mà điều quan trọng giúp mỗi người có ý thức trong việc tự chăm lo sức khoẻ bản thân, tác giả có nghĩ đến việc nhà nước sẽ không bao cấp toàn phần mức đóng cho đối tượng hưu trí?
Trang 47 Trong môi trường hoạt động BH ở Việt Nam, các công ty BH thương mại đang hoạt động theo luật và có nghiệp vụ BH trùng với BHYT, vậy quan hệ
và việc tạo môi trường bình đẳng trong hoạt động cần được đề cập thế nào?
8 Tác giả nên đi sâu nghiên cứu về cơ chế tự chủ của tổ chức thực hiện
BHYT xã hội, đây là một trong những vấn đề quan trọng để thực hiện mục tiêu
mở rộng đối tượng
Nhìn chung tôi đánh giá đây là một để tài tốt, tác giả đã bỏ nhiều công
sức để sưu tầm những tài liệu rất tản mạn để tập trung vào để tài, các lý giải đều
khá chuẩn dựa trên cơ sở khai thác tài liệu thu thập được Đay là một công trình lao động nghiêm túc, công phu và có nhiều nội dung phục vụ cho công tác nghiên cứu, để xuất xây dựng chính sách BHYT ở Việt Nam
Nếu có thể được, tôi để nghị tác giả và Trung tâm nghiên cứu khoa học phối hợp để có các cuộc trao đổi nhỏ, các hội thảo về một số vấn đề cần trao đổi thêm như các khái niệm, định nghĩa, những vấn để còn có các nhận định chưa giống nhau./
Hànội; ngày 20 tháng 10 năm 2004
Trang 5BAN NHAN XET
ĐỀ TÀI NGHIÊN CÚU KH:
Các giải pháp cơ bản để tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân
Của TS Phạm Đình Thành và cộng sự
Người nhận xét II : Phan Duy Tập
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Ngay trong nghị quyết của đại hội X cua Đảng Cộng sản Việt Nam khi đề cập tới các biện pháp đồng bộ để bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã
nói tới chúng ta phải tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân Như vậy bảo hiểm y tế
toàn dân là một nhu cầu cấp thiết không thể phủ nhận Bảo hiểm y tế toàn
đân là một nhiệm vụ tạo nền tảng cho ổn định chính trị và phát triển xã hội,
đảm bảo sự công bằng cho mọi người dân
Dù nước ta đi sau rất nhiều nước về bảo hiểm y tế nói riêng và bảo hiểm xã
hội nói chung nhưng chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu lớn lao trong công tác này Khoảng 15 triệu rưỡi người tham gia BHYT tính tới thời điểm 2003
là một minh chứng cho những thành tựu to lớn đó
Nhưng như vậy còn khoảng 70 triệu người chưa tham gia BHYT, đó là vấn
đề chúng ta cần phải suy nghĩ và có biện pháp để mau chóng thực hiện được mục tiêu BHYT toàn dân
Vậy vấn đề mà đề tài đặt ra là hoàn toàn cấp thiết và phù hợp nhu cầu thực
tại
2 Bố cục của dé tài:
Đề tài với hai mục tiêu cơ bản là:
- Nghiên cứu các giải pháp để từng bước mở rộng phạm vi tham gia
BHYT theo điều kiện và khả năng của từng nhóm đối tượng
-_ Đề xuất các điều kiện cần thiết và đồng bộ về vật chất và kỹ thuật, về
luật pháp và tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo cho quá trình thực hiện
BHYT toàn dân đạt được mục tiêu đề ra
Để tài trình bày 101 trang Với bố cục theo phương thức phổ biến Trong đó nội dung cơ bản được tác giả kết cấu như sau:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản: 24 trang
Chương II: Thuc trạng BHYT Việt Nam: 20 trang
Chương III: Những giải pháp cơ bản: 46 trang
Qua số trang nhận thấy tác giả đã chú trọng nhiều tới những giải pháp cơ bản
và đó cũng là nội dung chính của để tài
Trang 6Tài liệu tham khảo: tác giả đã đưa ra 8 tài liệu tham khảo trong nước và 10
tài liệu nước ngoài Tuy số tài liệu tham khảo chưa phải là nhiều song cũng
đủ để nói lên độ tin cậy của đề tài
3 Thành công của đề tài:
Như đã trình bày ở trên chyên đề của tác giả là một chuyên đề cấp thiết
Đó không chỉ là mục tiêu của ngành BHXH mà còn là mục tiêu của toàn Đảng toàn đân để đảm bảo an sinh xã hội và quyền lợi của mọi người dân
Tác giả đã trình bày một cách logic dễ hiểu các giải pháp để mở rộng đối tượng tham gia BHYT, đó là vấn đề rất đáng để các nhà hoạch định
chính sách BHXH quan tâm Và có khả năng ứng dụng cao trong thực tế Tài liệu tham khảo phong phú, minh chứng rõ ràng, lối viết xúc tích làm cho người đọc dễ hiểu và dễ chấp nhận ý kiến của tác giả khi định trình bày
4 Thiếu sót cuả đề tài:
Về hình thức:
- Theo chúng tôi vì tác giả có nhiều tham vọng và có nhiều tài liệu tham
khảo nên đề tài viết hơi dài, làm cho ý bị dàn trải, không cô đọng Có phần tài liệu tác giả đã trích dẫn đến hai lần, như đoạn đã trích dẫn ở dong 15 tới dòng 22 trang 1, lại được trích dẫn lại ở trang 49
Trong phần các giải pháp ở chương IH tác giả không đi ngay vào các giải pháp mà lại có tiểu mục như “một số quan điểm xung quanh vấn đề tiến tới thực hiện BHYT toàn dân”, hoặc phần “IIL.1 Khái niệm chung
về các bước đi trong tiến trình thực hiện BHYT toàn dân”, tức là tác giả lại trình bày lại những khái niệm cơ bản như trong chương I Tuy rằng ở
đây về nội dung tác giả đã đề cập sâu hơn về những vấn đề thiết yếu đề
tiến hành các giải pháp Nhưng như vậy nếu tác giả lồng ghép các yếu tố này vào từng giải pháp thì hợp lý hơn
Trong trình bày tác giả cũng nói trong cơ cấu dân cư của chúng ta nông
dân chiếm một tỷ lệ khá cao (70 %) nhưng tác giả chưa có một giải pháp riêng cho đối tượng này Nếu cho rằng người nông dân cũng như những người lao động trong lĩnh vực không chính thức khác thì quá chung
Trang 7chung vì người nông dân có những đặc điểm đặc thù khác nữa mà cần
phân tích kỹ khi xây dựng một chính sách BHYT cho đối tượng này
Còn xếp họ vào BHYT phường, hội thì cũng cần phải bàn luận thêm rằng BHYT phường, hội là loại BHYT không bền vững và nó chỉ xuất hiện
tạm thời khi chiến lược BHYT XH toàn dân chưa vươn tới
5 Kết luận:
Trong phần thiếu sót của đề tài chúng tôi vừa nêu thực ra cũng chỉ là những
ý kiến bình luận riêng của người nhận xét, còn về cơ bản tác giả đã đề cập tới
những vấn đề cần thiết trong lộ trình tiến tới BHYT toàn dân và những đề
xuất của tác giả là những giá trị không thể phủ nhận Đề tài đã đáp ứng được các vấn đề đặt ra
Để nghị đề tài được nghiệm thu
Hà Nội 19/10/ 2004
—— —,
Phan Duy Tập
Trang 8BAO HIEM XA HOI VIRT NAM
TOM TAT DE TÀI NGHIÊN cou KHOA HOC:
CAC GIAl PHAP 0 BAN BE TIÊN TÚI THUC HIEN
BAO HIEM Y TE TOAN DAN
CHỦ NHIỆM ĐỀ TAI: TS PHAM DINH THANH THƯ KÝ ĐỀ TÀI: CN LUU THI THU THUY
Hà Nội 2004
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
" Tiến tới bảo hiểm y tế toàn đân" theo nghị quyết của đại hội Đảng cộng sản việt nam lần IX đã chỉ ra phải được thực hiện dựa trên nền tảng kinh tế, chính trị, xã hội tổng thể của nước nhà; nó vừa chịu tác động của các yếu tố về sức khoẻ và điều
kiện kinh tế cũng như khả năng tham gia BHYT của từng nhóm dân cư trong xã hội, mặt khác lại chịu sự tác động mạnh mẽ của hoạt động điều tiết vĩ mô của một quốc
gia trong từng giai đoạn nhất định như: về khả năng đầu tư phát triển ngành y tế từ
xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của các bệnh viện, của các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng thuốc men đến công tác đầu tư nghiên cứu khoa học y học Do vậy để " Tiến tới BHYT toàn dân " cần phải có những luận cứ khoa học và hệ thống để từng bước đưa dần từng bộ phận đân cư vào mạng lưới BHYT quốc gia cũng như sự đảm bảo vững chắc cho hoạt động của mạng lưới BHYT đó là rất cần thiết và vấn đề này còn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ Từ đó chúng tôi để xuất việc nghiên
cứu để tài "Các giải pháp cơ bản để tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toan dan "
hiện BHYT toàn dân đạt được mục tiêu đề ra
Pham vi nghiên cứu:
Dựa vào chế độ BHYT hiện hành ở Việt Nam mà dé tài tập trung chủ yếu vào
việc nghiên cứu mở rộng diện đối tượng tham gia BHYT với các khả năng và bước
đi phù hợp nhưng có đề cập đến những nội dung nhằm hoàn thiện chính sách BHYT hiện hành và những điều kiện cần thiết để chính sách BHYT toàn dân thực hiện được Đề tài không đi sâu vào việc tính toán phân tích các mức đóng cho từng nhóm
đối tượng tham gia BHYT mới phát sinh mà chủ yếu dựa vào phương pháp phân
tích, so sánh mà dự báo số liệu, không đi sâu vào việc phân tích về chất lượng KCB
bằng thẻ BHYT cũng như phương thức thanh toán cụ thể mà chủ yếu để xuất ý kiến
mang tính khái quát Đồng thời để tài cũng sử dụng các lý luận cơ bản về BHYT
của các nước có sự phát triển lâu dài và bền vững về lĩnh vực này cũng như giới
1
Trang 10thiệu kinh nghiệm thực hiện BHYT toàn dân của một số nước làm tư liệu tham khảo
Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật
lich st , phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh và phân tích
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ BẢO HIỂM Y TẾ VÀ BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN
I.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò và ý nghĩa của Bảo hiểm y tế
" BHYT : loại bảo hiểm do nhà nước tỔ chức, quản lý nhằm huy động sự
đóng góp của cá nhân, tập thể và công đông xã hội để chăm lo sức khoẻ, khám bệnh
và chữa bệnh cho nhân dán."( Từ điển Bách khoa Việt Nam I xuất bản năm 1995 - Nhà xuất bản từ điển Bách khoa - trang 151) Mặt khác BHYT là một trong 9 nội dung của BHXH được quy định tại Công ước 102 ngày 28.6.1952 của tổ chức lao
động quốc tế (LO) Vì vậy, nói đến BHYT chúng ta hiểu là BHXH về y tế hay là BHYT theo luật pháp Luật Bảo hiểm y tế nhằm bảo vệ những rủi ro về bệnh tật cho những người tham gia BHXH về Y tế BHYT sẽ đảm bảo chỉ trả toàn bộ hoặc từng
phần những chi phí KCB, giúp cho người bệnh vượt qua cơn hoạn nạn về bệnh tật, sớm phục hồi sức khoẻ cũng như ổn định cuộc sống gia đình
Ở các nước công nghiệp phát triển người ta định nghĩa Bảo hiểm y tế là một
tổ chức cộng đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, nó có nhiệm vụ gìn giữ sức
khoẻ, khôi phục lại sức khoẻ hoặc cải thiện tình trạng sức khoẻ của người tham
gia BHYT Trong hoạt động BHYT thì tính cộng đồng đoàn kết cùng chia xẻ rủi ro rất cao; nó điều tiết mạnh mẽ giữa người khoẻ mạnh với người ốm yếu, giữa thanh niên với người già cả và giữa người có thu nhập cao với những người có thu nhập thấp Tuy nhiên đoàn kết tương trợ không chỉ là quyền được nhận mà còn phải là nghĩa vụ đóng góp
Hệ thống BHXH về y tế ngay từ khi hình thành đã không định hướng theo mức độ rủi ro mà định hướng theo nguyên tắc đáp ứng đặc biệt và không phải chỉ trả trực tiếp: khi bị ốm đau thì người bệnh sẽ được chữa trị cho đến khi khoẻ mạnh
2
Trang 11trở lai bang moi phương pháp, kỹ thuật y tế hiện thời mà không căn cứ vào trước đó
họ đã đóng góp BHYT được bao nhiêu Chính định hướng này đã làm nền tảng cho
các nguyên tắc cơ bản về BHYT, nó được tổn tại và phát triển đến ngày nay
Nếu nhìn nhận dưới giác độ kinh tế thì BHYT được hiểu là sự hợp nhất kinh
tế của số lượng lớn những người trước cùng một loại hiểm nguy do bệnh tật gây nên
mà trong từng trường hợp cá biệt không thể tính toán trước và lo liệu được Cân đối
về chi phí KCB cơ bản được thực hiện cân bằng giữa một bên là tổng số chỉ phí
KCB cho những người có nhu cầu và cần phải KCB và bên kia là tổng số đóng góp
của tất cả những người tham gia BHYT Hoạt động BHXH về Y tế không có khoản thu lợi nhuận và đương nhiên cũng không vì mục đích lợi nhuận
Vấn đề KCB còn liên quan một cách rất chặt chẽ đến các yếu tố kinh tế như: các khoản chỉ trả cho các nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật (khám bệnh, phẫu thuật, thủ thuật ) của bác sĩ, chi phí cho bệnh viện với các trang thiết bị, vật tư y tế và thuốc men - đó là "Cung" của ngành y tế Còn phía "Cầu" là bệnh tật, là người bệnh Vì vậy khi thực hiện BHYT, bên cạnh việc sử đụng vai trò điều tiết của Nhà nước, người ta còn chú trọng sử dụng quan hệ cung - cầu điều tiết trên thị trường
sức khoẻ nhằm đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn quỹ đóng góp của người tham gia
BHYT và nâng cao chat luong KCB
I 2 Những nguyên tắc và những đặc trưng co bản của BHYT
Khi gặp phải rủi ro ốm đau thì hoạt động BHXH vẻ y tế sẽ đến bù hậu hoa của rủi ro về mặt kinh tế bằng 2 phương pháp phân phối lại như sau:
- Phản phốt lại theo thời điểm từ những người khoẻ mạnh cho những người ốm
đau ( thông thường là những người trẻ khoẻ cho những người gìa yếu, nam giới cho
nữ giới )
- Phân phối lại theo thời kỳ từ thời kỳ có tình trạng sức khoẻ tốt cho thời kỳ sức khoẻ xấu
Những nguyên tắc và đặc trưng sau:
a Người tham gia BHYT đóng góp bằng tiền nhưng khi KCB lại nhận được chế độ hay quyền lợi bằng hiện vật
b Giữa mức giá trị của sự bảo vệ sức khoẻ nhận được từ BHXH và mức đóng góp theo nguyên tắc đoàn kết tương trợ chia xẻ rủi ro không có quan hệ, thậm chí
3
Trang 12không có sự bằng nhau cho tất cả mọi người tham gia bảo hiểm Hơn nữa trong nguyên tắc đoàn kết tương trợ cùng chia xẻ rủi ro thiếu hẳn phần cơ bản về giá trị
cán bằng giữa mức đóng và mức hưởng Nguyên tắc đoàn kết tương trợ chia xế rủi
ro Ở đây có ý nghĩa là mỗi thành viên trong cộng đồng cùng loại hình rủi ro ốm dau sẽ đóng góp theo năng lực của họ và tiếp tục sau đó nhận lại theo yêu cầu của
họ mà không xen xét đến khả năng đã đóng góp
c Nguyên tắc đoàn kết tương trợ chia xẻ rủi ro được gắn liên với nguyên tắc bảo hiểm nghĩa vụ (bắt buộc) bằng luật pháp Do đó bảo hiểm nghĩa vụ (bắt buộc)
là điều kiện cần thiết của nguyên tắc đoàn kết tương trợ cùng chia sẻ rủi ro
d Phương thức đóng góp căn cứ vào tiền lương, tiền công từ lao động mà
không căn cứ vào tuổi tác, khả năng bệnh tật, giới tính
e Cùng chịu trách nhiệm chung của toàn thể cộng đồng những người tham
gia BHYT khi đòi hỏi quyền lợi nhằm gắn liền giữa sự giúp đỡ chung của cộng
đồng với ý thức trách nhiệm của từng cá nhân Nguyên tắc phúc lợi hiện vật sẽ hạn chế tăng cao chi phí chung thông qua việc cùng chỉ trả
f Nguyên tắc tự chịu trách nhiệm đối với sức khoẻ của bản thân từng thành viên tham gia BHYT
g Quan lý theo phương thức tự quản thông qua những đại diện của mình
trong Hội đồng quản lý nhằm đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của các thành
viên tham gia BHYT
h Phải có hợp đồng thoả thuận giữa ngành BHYT với các đơn vị cung ứng dịch vụ y tế và thuốc men
¡ BHYT cũng hết sức quan tâm đến chất lượng các dich vu KCB trong su
giám sát chặt chẽ về tiến bộ y học
k Đặc trưng cuối cùng của BHYT là sự tiết kiệm về phương tiện tài chính
cũng như sự ổn định mức đóng góp sẽ mang lại ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế - xã hội
I 3 Các xu hướng của bảo hiểm y tế : Ngày nay điều đáng lo ngại nhất của
BHYT là chỉ phí không ngừng gia tăng và người ta cũng để ra các giải pháp khác
nhau để giải quyết vấn đề này
Trang 13H BẢO HIỂM Y TE TOAN DAN
VA KINH NGHIEM CUA MOT SO NUGC VE BHYT TOAN DAN
IL.1 Khai niém về BHYT toàn dân
Bảo hiểm y tế toàn dân được hiểu là toàn bộ mọi người dân của một quốc gia
déu duoc tham gia vào hệ thống BHXH về y tế của quốc gia đó hoặc là màng lưới bảo hiểm y tế quốc gia bao trùm toàn bộ dân cư của quốc gia
Hệ thống Bảo hiểm y tế toàn dân do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện và
được bảo đảm bằng hệ thống luật pháp Mọi người lao động, có việc làm, có thu nhập đều phải có nghĩa vụ đóng góp vào hệ thống BHYT Những thành viên thuộc gia đình những người lao động đó (người ăn theo) sẽ cùng được tham gia BHYT Tiếp đến là nhóm đối tượng gồm học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học và các trường dạy nghề Những người nhận trợ cấp xã hội, những người thuộc điện nghèo, người về hưu và những người hưởng chế độ ưu đãi khác của xã hội được Nhà nước đóng góp cùngtham gia vào hệ thống BHYT này.Hệ thống
BHYT toàn dân là hệ thống BHYT cơ bản mà mọi người lao động có thu nhập kể từ
mức thu nhập thấp nhất làm căn cứ đóng BHYT cho đến người có thu nhập cao BHYT tư nhân chỉ hoạt động trong phạm vi những dịch vụ y tế cao, không thuộc
chế độ quyền lợi của BHYT cơ bản Những người có thu nhập cao sẽ tự chi trả những dịch vụ y tế cao nếu muốn sử dụng khi KCB hoặc tham gia vào BHYT tư nhân đối với nhóm những dịch vụ y tế cao này
Đồng thời với hệ thống BHYT toàn dân là phải có hệ thống tương ứng, đồng
bộ các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế, cung ứng thuốc men nhằm đáp ứng đây đủ
những quyền lợi được hưởng cho mọi người tham gia BHYT khi ốm đau Mọi thành viên của mạng lưới BHYT toàn dân đều được bình đẳng khi KCB theo chế độ hiện hành
IL2 Kinh nghiệm thực hiện BHYT toàn dân của một số nước trên thế giới: Giới thiệu mô hình BHYT toàn dân của các nước: Đan Mạch, Airolen, Italia,
Bồ Đào Nha, Phần Lan, Thuy Điển, Vương Quốc Anh, CHLB Đức, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Thái Lan, Philippin, Đài Loan
II 3 Nhan xét chung:
Trang 14- Mỗi một nước khác nhau, căn cứ vào điều kiện kinh tế, đặc điểm dan cu,
phong tục, tập quán và nhận thức của người dân mà có mô hình, biện pháp và bước
đi thích hợp khi thực hiện BHYT toàn dân Không thể có mô hình BHYT toàn dân theo mẫu chung áp dụng cho mọi nước
- Vai trò tổ chức quản lý và điều hành cũng như sự đóng góp tài chính của Nhà nước (theo những mức độ và cách thức khác nhau) luôn giữ vai trò quyết định đối với tiến trình thực hiện BHYT toàn dân Bên cạnh đó, Nhà nước cũng phải có hệ thống y tế quốc gia đủ mạnh (bệnh viện, bác sĩ, thuốc men ) để đảm bảo chăm sóc
khoẻ toàn dân cũng như sức khoẻ của các thành viên tham gia BHYT
- Tiến trình BHYT toàn dân phải là một quãng đường phấn đấu của mọi công dân của quốc gia đó trên cơ sở mỗi người dân phải thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi
do Pháp luật về BHYT quy định
- Mỗi hệ thống BHYT toàn dân ở từng nước khác nhau muốn phát triển một
cách bền vững đều phải có những phương thức và mức độ đóng góp của từng nhóm
dan cư, phạm vi quyền lợi được hưởng, phương thức đồng chỉ trả, phương thức
thanh toán giữa ngành BHYT với cơ sở KCB, với bác sĩ Các yếu tố này phải được liên kết chặt chẽ và đồng bộ nhằm cân đối và ổn định tài chính cho hệ thống BHYT
toàn dân
CHƯƠNG II MỘT SỐ NÉT VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BHYT Ở VIỆT NAM
Các mục Ï H trình bày sự khai sinh ra chế độ BHYT ở nước ta trình bày sự phát triển của BHYT ở Việt nam theo các chế độ BHYT hiện hành như:
II 1 Từng bước mở rộng đối tượng tham gia BHYT và thực hiện các hình thức BHYT khác nhau BHYT bắt buộc đối với những người có quan hệ lao động; BHYT đối với người có công với cách mạng; BHYT tự nguyện; Chính sách KCB đối với thân nhân sĩ quan tại ngũ
- Chính sách KCB đối với người nghèo: Ngày 15/10/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg về chế độ KCB cho người nghèo Sau một năm thực hiện (Theo số liệu ước tính Báo Sức khoẻ¿&Đời sống ngày
6
Trang 1520/3/2004 - Người nghèo đã được tiếp cận y tế - PV- t.15,16) t6ng s6 c6 11,3 triéu người đã được hưởng chế độ KCB cho người nghèo, trong đó có 3,7 triệu người được phát thẻ BHYT và 7,6 triệu người được hưởng theo phương thức thực thanh thực chi Về hình thức thực hiện, hầu hết các đối tượng hiện đang được hưởng theo
phương thức thực thanh - thực chi (chiếm 56,1% tổng số đối tượng thụ hưởng),
trong khi đó chỉ có 27,7% đối tượng được phát thẻ BHYT, còn lại là chưa được thụ hưởng Nhìn chung việc cấp phát thẻ BHYT cho người nghèo được coi là giải pháp
hợp lý hơn vì: - Về tâm lý, người nghèo khi có thẻ BHYT cảm thấy mình bình đẳng
hơn đối với những người khác Cũng chính vì vậy người nghèo có điều kiện tiếp cận đến các dịch vụ y tế tốt hơn so với hình thức thực thanh - thực chỉ;- Việc tổ chức KCB ở tuyến xã là rất thích hợp đối với người nghèo, giảm các chi phí gián tiếp khi
đi KCB và không phải đặt tiền trước khi nhập viện;- Việc quản lý thẻ BHYT sẽ
thuận lợi hơn nếu địa phương phải thực thanh - thực chi với số lượng lớn Ngoài ra,
nếu thực hiện thực thanh - thực chỉ thì ở từng địa phương và ở từng cơ sở y tế đều
phải có thêm bộ phận theo dõi và giám sát nguồn quỹ KCB này thì về mặt quản lý
xã hội, phương thức thực thanh - thực chi là không hiệu quả
- Chính sách KCB đối với trẻ em dưới 6 tuổi: Trong thực tế chưa có cơ chế tài
chính để đảm bảo trẻ em dưới 6 tuổi được hưởng KCB miễn phí Từ đó dẫn đến dẫn đến việc thực hiện chưa thống nhất, chưa rộng khắp
II 2 Mức đóng và các chế độ hưởng của BHYT hiện hành
H.2 Đối với BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện: theo các chế độ hiện hành
Đối với phương thức đông chỉ trả: cần phân biệt mức chỉ phí đến đâu, những
dich vụ y tế nào, những loại thuốc men nào cân phải đông chỉ trả và những dịch vụ
y tế, những loại thuốc men nào không phải đồng chỉ trả
H3 Quan hệ giữa cơ quan BHYT với các cơ sở KCB: được thực hiện thông qua các hợp đồng quy định về việc tổ chức, quản lý KCB và thanh quyết toán ch¡ phí cho các đối tượng tham gia BHYT và Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử
dụng tại các cơ sở Tuy nhiên cũng phải có cơ chế bổ sung kịp thời danh mục thuốc
thiết yếu cho KCB bằng BHYT vì trong thực tế luôn có nhiều loại thuốc mới được sản xuất lưu hành và có công hiệu cao trong khả năng tài chính cho phép
Trang 16IL 4 Một số kết quả về hoạt động của BHYT trong những năm qua
1.4.1 Kết quả thực hiện BHYT tự nguyện: Chủ yếu mới thực hiện ở đối tượng là học sinh, sinh viên: năm học 1994-1995 chỉ đạt 650 nghìn người tham gia thì đến năm 2003 đã có gần 5 triệu học sinh, sinh viên tham gia chiếm 20% tổng số
học sinh, sinh viên toàn quốc với số thu hơn 167 tỷ đồng
Các đối tượng khác chỉ dừng lại ở mô hình thí điểm: Năm 1998-1999, huyện Gia Lâm, Hà nội ; Năm 2001, Hội cựu chiến binh Thái Nguyên; Năm 2002, thí điểm BHYT toàn dân trên địa bàn huyện Sóc Sơn - Hà Nội Các mô hình thí điểm BHYT tự nguyện cho nông dân hầu hết chỉ làm được một năm rồi dừng lại do không thu hút được số đông tham gia Những người tham gia lại chủ yếu là những người đau yếu có nhu cầu KCB thường xuyên nên không cân đối được quỹ
II.4.1 Kết quả thực hiện BHYT chung:
Từ năm 1993 cả nước mới có 3,8 triệu người tham gia BHYT, chiếm 5,4 %
dân số cả nước, số thu là 110 tỷ đồng; thì đến năm 2003 đã tăng lên 16, 8 triệu người, chiếm khoảng 21% dân số cả nước và thu 2.027 tỷ đồng
II 5 Vài nét về thực trạng của các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế và thuốc
men có liên quan đến việc KCB cho người tham gia BHYT
II.5.1.Thực trạng đầu tư và cơ sở vật chất kỹ thuật của cdc co so KCB cong:
Về bệnh viện : Hệ thống KCB của Việt Nam đang bị quá tải nghiêm trọng, có khi không đủ thời gian cho việc làm vệ sinh, chưa kể mỗi gường có khi có tới 2-3 bệnh
nhân cùng nằm
Về thực trạng nhân lực cũng còn thiếu cả bác sĩ, dược sĩ, y tá
Về trang thiết bị của bệnh viện, hệ thống các bệnh viện ở các tỉnh, nhất là các
tỉnh miển núi phía Bắc vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu về hạ tầng cơ sở: điện lưới, nước
máy, hệ thống thoát nước, hệ thống xử lý nước thải và hệ thống tiêu huỷ chất thải bênh viện, nhà cửa, giường bệnh, trang thiết bị máy móc KCB, Hệ thống màng
lưới tuyến y tế cơ sở cấp xã, phường nhất là ở các vùng sâu, vùng xa còn thiếu và còn yếu Việc đầu tư cho các tuyến bệnh viện cũng chưa được cân đối về mặt trang
bị kỹ thuật và trình độ chuyên môn
Đầu tư cho y tế ở nước ta chỉ có 5 USD/người/năm - theo điều tra của TỔ
chức Y tế thế giới, năm 2002 nhu cầu chỉ cho chăm sóc sức khoẻ cần mức bình
8
Trang 17quân khoảng 22 USD/người/năm Vì vậy tổ chức y tế thế giới xếp Việt Nam vào hàng thứ 187/191 nước về mức công bằng tài chính y tế và là nước có đầu tư cho y
tế thấp nhất trong khu vưc
II 5.2 Ảnh hưởng của yếu tố giá cả thuốc chữa bệnh
Việc tăng giá thuốc sẽ tác động trực tiếp và gây thiệt hại đến quyền lợi trước hết là người bệnh và sau đó là khả năng thanh toán của BHYT Hiện nay Nhà nước
đã tìm ra các nguyên nhân tăng giá thuốc và cũng đã và để ra các giải pháp nhằm
quản lý giá thuốc như đấu thầu cung ứng thuốc tại các bệnh viện
II MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA BHYT Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN QUA
- Chính sách BHYT ra đời hoàn toàn thích ứng với sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong lĩnh vực y
tế và chăm sóc sức khoẻ toàn dân và khẳng định được định hướng tiến tới BHYT toàn dân
- Việc thanh toán một phần viện phí đã từng bước tạo nên quan hệ về giá trị, giá cả
và đi kèm với nó là việc xem xét đến các "sản phẩm dịch vụ y tế" và nâng cao chất
lượng sản phẩm dịch vụ y tế này Các yếu tố của thị trường sức khoẻ - hay thị trường y tế đã được hình thành và từng bước phát triển
- BHYT đã từng bước đi vào đời sống người dân nói chung và người lao động nói riêng Đặc biệt có ý nghĩa đốt với những người tham gia BHYT nhưng có thu nhập thấp, người nghèo, người mắc bệnh nặng, các bệnh mãn tính phải điều trị dài ngày, tốn kém Đồng thời hoạt động của BHYT đã từng bước khắc phục sự bất bình đẳng trong việc KCB giữa người giàu, người nghèo; góp phần thực hiện công bằng trong
công tác chăm sóc sức khoẻ toàn đân
Một bài học kinh nghiệm đồng thời cũng phản ánh một tính quy luật là: ”
Đối với các nước kinh tế đang phát triển, nguồn ngân sách quốc gia chưa déi
dào nhưng vẫn có thể thực hiện được các chính sách xã hội, cụ thể là hoạt động
điều tiết xã hội trong lĩnh vực BHXH nói chung và về BHYT nói riêng bằng việc
tập trung được nguồn quỹ huy động từ đóng góp của các bên tham gia vào một
đầu mối và do Nhà nước trực tiếp đứng ra điều tiết một cách linh hoạt" Việc
Trang 18phân tán quỹ trong điều kiện kinh tế còn co hẹp càng là tăng thêm su yếu thế của
từng quỹ riêng biệt và dẫn đến nguy cơ tan đã Đối với Việt Nam thì việc quỹ
BHYT duoc quan lý tập trung thống nhất chính là tạo ra sức mạnh của công đồng, cả cộng đồng cùng đồng lòng chung sức chống lại rủi ro bệnh tật và cũng đồng thời tạo ra cơ sở quan trọng cho Nhà nước thực hiện vai tro điều tiết xã hội
của mình trong nên kinh tế thị tường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Trong quá trình thực hiện, vẫn còn tồn tại như: phạm vi đối tượng tham gia
BHYT còn hạn hẹp; mức độ tiếp cận các địch vụ y tế của bệnh nhân BHYT còn hạn chế; chất lượng KCB chưa đảm bảo; việc thanh toán giữa BHXH với các cơ sở y tế
cũng còn nhiều bất cập, giá cả thuốc men tăng cao nếu không sớm có biện pháp
khắc phục sẽ trở thành rào cản trong tiến trình thực hiện BHYT toàn dân ở nước ta
CHUONG III
CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM TIẾN TỚI
THỰC HIỆN BHYT TOẢN DÂN
I.MỘT SỐ QUAN ĐIỂM XUNG QUANH VẤN ĐỀ
TIẾN TỚI THỰC HIỆN BHYT TOÀN ĐÂN
I 1 Sự cần thiết tất yếu phải thực hiện BHYT toàn dân
"Tiến tới BHYT toàn dân" theo Nghị quyết Đại hội Đảng dé ra vừa là mục tiêu của hoạt động BHXH, vừa là biện pháp tài chính để chăm sóc sức khoẻ toàn dân Đại được mục tiêu này chính là sự xác lập nên một mức sống xã hội - một tiêu
chuẩn sống cơ bản của Việt Nam Mức sống - tiêu chuẩn sống đó là: mọi người, kể
từ em bé ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ cho đến những người già cả - là người Việt Nam, sống trên đất nước Việt nam - đêu được chăm sóc sức khoẻ bằng mạng lưới BHYT quốc gia, "mọi người đêu có trách nhiệm chia sẻ rủi ro với người khác,
ai cũng được chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ, không có sự phân biệt địa vị xã hội,
nghề nghiệp, thành phần dân tộc, giới tính, tuổi tác, địa bàn cư trú" ( Điều 39, Hiến
pháp năm 1992, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Quyết định 35/TTg ) Đạt được mục tiêu này cũng đông nghĩa với với sự đạt được mục tiêu công bằng, bình đẳng xã hội đối với mọi người dân Việt Nam trong việc khám chữa bệnh
10
Trang 19Tiến tới BHYT toàn dân là cả một quá trình, nó liên quan đến nhiều yếu tố kinh tế - chính trị - xã hội - khoa học kỹ thuật (y tế) đồng bộ và chín muối Đó là từ vấn để nhận thức cho đến các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng đầy đủ cho
việc chăm sóc sức khoẻ cũng như các yếu tố của quá trình kinh tế như tăng trưởng kinh tế, việc làm và thu nhập của người lao động Vì vậy việc tiến tới BHY T toàn dân cũng là quá trình hội tụ được đầy đủ các yếu tố cần thiết mà trong đó Nhà nước giữ vai trò điều tiết hết sức quan trọng Sự nóng vội, mang tính phong trào, hình
thức có khi chỉ diễn ra được một vài tháng, một vài năm song sau đó không còn đủ
điều kiện thực hiện tiếp, phải dừng lại, đó cũng chưa phải là mục tiêu của BHYT toàn dân mà chúng ta đã đề ra Mục tiêu BHYT toàn dân không những đạt được về điện rộng mà còn phải đảm bảo tính bên vững lâu dài và phải trở thành nhu cầu
thiết yếu của mọi công đán
L2 Đặc điểm về ý thức và tập quán của người Việt Nam khi thực hiện
BHYT toàn dân ở Việt nam
I.2.1 Chuyển biến ý thức về tập quán truyền thống của người Việt nam trong
việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng: Từ tập quán chuyển sang thực hiện trách nhiệm thông qua các quy phạm pháp luật là thể hiện sự phát triển vượt bậc trong ý thức xã hội đông thời cũng thể hiện vai trò tổ chức xã hội của Nhà nước
1.2.2 Tập quán sử dụng thuốc nam trong việc chữa trị bệnh tật BHYT cũng cần coi trọng phương thức KCB này và người dân cảm thấy gần hơn đối với BHYT
1.3 Thu nhập của người lao động và các loại hình BHYT ở nước ta
Do việc quản lý thu nhập ở nước ta chưa chặt chẽ và có tới 70-80% dân cư có mức thu nhập ở mức trung bình và dưới trung bình nên chưa thể áp dung mô hình căn cứ vào mức thu nhập để phân loại nhóm đối tượng và loại hình tham gia BHYT(BHYT xã hội và BHYT tư nhân) Vì vậy để huy động mọi khả năng để đóng góp hình thành quỹ BHYT, chúng ta chỉ xây dựng một chế độ BHXH toàn dân
thống nhất Những người có thu nhập cao cũng được tham gia đóng và hưởng các chế độ BHYT cơ bản, nêu họ muốn hưởng các quyền lợi cao hơn ngoài khung chế
độ cho phép thì phải tự trả thêm tiền hoặc tham gia BHYT tư nhân BHYT tư nhân
chỉ dành cho những dịch vụ y tế cao
11
Trang 201.4 Nhimg yêu cầu cần thiết nhằm tiến tới thực hiện BHYT toàn dân ở
Việt nam
1.4.1 Người tham gia BHYT phải có trách nhiệm với sức khoẻ của chính bản
thân mình Từ đó chúng ta có thể bổ sung thêm vào khái niệm về BHYT như sau: " BHYT là một tổ chức cộng đông đoàn kết, tương trợ, chia xế rủi ro về ốm dau, bệnh tật của những người tham gia bảo hiểm y tế do Nhà nước lập nên BHYT
có nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ cho người tham gia BHYT thông qua việc huy động đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chỉ phí khám chữa bệnh và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người tham gia BHYT Đông thời người tham gia BHYT cần phải cùng có trách nhiệm với bản thân mình bằng cách tham gia vào các biện pháp rèn luyện và
chăm sóc sức khoẻ, phòng tránh hoặc ngăn cẩn bệnh tật cũng như tác động tích
cực vào việc chữa bệnh và khôi phục sức khoẻ và vượt qua những hậu quả do bệnh tát gây ra”
1.4.2 Can coi trọng loại hình BHYT bắt buộc: trong quá trình mở rộng diện
đối tượng tham gia BHYT, những đối tượng nào có đủ khả năng và điều kiện thì phải đưa vào điện BHYT bắt buộc Đồng thời loại hình BHYT tự nguyện chỉ là giải pháp tạm thời nhằm vận động một số nhóm đối tượng do những hoàn cảnh nhất định mà chưa tham gia BHYT bát buộc được
1.4.3 Sự đóng góp của Nhà nước đối với một số đối tượng chính sách xã hội:
Ở đây cần làm rõ một khái niệm quen dùng đó là: "mua thẻ BHYT với mệnh giá 50 nghìn đồng/năm" Cách nói như vậy không đúng với phương thức hoạt động của BHYT Do vậy nên nói rằng khả năng đóng góp của Nhà nước khi tham gia BHYT cho những nhóm người nghèo với mức là 50 nghìn đồng/người /năm
1.5 Mỗi người tại từng thời điểm chỉ tham gia một loại hình BHYT theo
một diện đối tượng nhất định
1.6 Cần gắn kết chế độ BHYT với các chế độ BHXH khác, đặc biệt trong
việc quản lý thu BHXH và thu BHYT
Trong chế độ BH hưu trí, nguyên tắc cơ bản của chế độ này là mối tương quan gần như tỷ lệ thuận giữa mức đóng và mức hưởng WMguyên tắc đoàn kết tương
12
Trang 21trợ càng chia xẻ rủi ro trong BHYT thiếu hẳn phân cơ bản về giá trị cân bằng giữa
mức đóng và mức hưởng Chính sự chia sẻ rủi ro của xã hội nếu không quan ly chat
chẽ sẽ dẫn đến sự lạm dụng, có những người sẽ giấu mức tiền lương cao mà chỉ
đăng ký mức lương thấp khi tham gia BHYT Do vậy, việc quản lý cả nguồn thu quỹ BHYT và nguồn thu quỹ BHXH vào một đầu mối là hết sức thuận lợi và cần được quan tâm nhiều hơn trong việc xây dựng chính sách BHXH tự nguyện trong
Dân số nước ta năm 2005 khoảng 83,0 triệu người và năm 2010 khoảng 88,5
triệu người Dân số trong độ tuổi lao động năm 2005 đạt 51,5 triệu; năm 2010 đạt 56,8 triệu Lực lượng lao động cả nước năm 2005 đạt 42,7 triệu; năm 2010 đạt 48,2
triệu Lực lượng lao động nông thôn năm 2005 chiếm tỷ trọng 66,5%; năm 2010
chiếm tỷ trọng 61,5% Dự báo lao động làm công ăn lương (có quan hệ lao động) năm 2005 là 9,26 triệu, năm 2010 là 12,5 triệu bằng 77,8% số lao động có việc làm
Il XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ BHYT CƠ BẢN LÀM NỀN MÓNG CHO VIỆC
THỰC HIỆN BHYT TOÀN ĐÂN
Cần xây dựng một chế độ BHYT cơ bản cho mọi người dân - đó là tiêu
chuẩn KCB cơ bản, thiết yếu - quyên lợi khung để thực hiện BHYT toàn dân Các quy định tại Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 13/8/1998 của Chính phủ Ban
hành điều lệ BHYT và các hướng dẫn của BHYT Việt Nam hướng dẫn thanh toán cho phí đối với các dịch vụ kỹ thuật được coi là chế độ BHYT cơ bản - chế độ
BHYT khung (tất nhiên cần có sự điêu chỉnh cho phù hợp hơn) vì:- Chế độ BHYT hiện hành đã đảm bảo” mọi người khi mắc bệnh đêu được KCB bằng các phương
pháp và các phương tiện y tế cân thiết, giúp người bệnh sớm trở lại trạng thái ban đầu” Mục tiêu này hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của đông đảo người dân, nhất là bộ phận dân cư có mức sống trung bình và dưới trung bình; - Mối tương
13
Trang 22quan giữa mức đóng và mức hưởng có thể tạm chấp nhận nếu so với mức tiền lương Những người có nhu cầu được sử dụng những dịch vụ y tế ngoài quy định của chế
độ BHYT cơ bản thì phải đóng gớp thêm hoặc có thể tham gia vào loại hình bảo hiểm bổ sung khác; - Trong một vài năm tới, để mở rộng diện tham gia BHYT, tiến
tới BHYT toàn dân cần phải tạm thời ổn định 2 yếu tố: mức đóng hiện hành và chế
độ BHYT cơ bản Tất nhiên quyền lợi của người tham gia BHYT sẽ được mở rộng,
nâng cao và phải được tiến hành vào những thời điểm thích hợp
Chế độ BHYT cơ bản cũng là trọng tâm của vấn đề tài chính BHYT hiện nay Điều đáng quan tâm là vấn đề giá các dịch vụ y tế và giá này vẫn được bao cấp từng phần một mặt là do quan hệ cung cấp ở nước ta cung còn thấp hơn cầu thứ hai là
Nhà nước vẫn đầu tư cơ bản cho việc xây dựng các cơ sở y tế và mua sẩmtng thiết
bị y tế
II CÁC GIẢI PHÁP MỞ RỘNG ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHYT
IL1 Khái quát chung về các bước đi trong tiến trình thực hiện BHYT toàn dân
a Phân chia các nhóm đối tượng:
- Nhóm đối tượng 1: bao gồm những người thuộc điện chính sách xã hội
- _ Nhóm đối tượng 2: người trong độ tuổi lao động
+ Người lao động có quan hệ lao động
+ Người lao động không có quan hệ lao động cần tách ra thành 2 đối tượng:
#đối tượng không có quan hệ lao động nhưng có việc làm và thu nhập ổn định
*đối tượng không có quan hệ lao động nhưng có việc làm và thu nhập không ổn
định
- Nhóm đối tượng 3: người chưa đến tuổi lao động, người đến tuổi lao động nhưng còn đang đi học và người hết tuổi lao động
Ngoài ra còn nhóm đối tượng là thân nhân của người đang tham gia BHYT
bắt buộc (bao gồm cả bố mẹ của họ) cũng sớm tham gia BHXH được
b Các giai đoạn chính trong tiến trình thực hiện BHYT toàn dân
* Giai đoạn I: từ nay đến năm 2005
14
Trang 23- BHYT bắt buộc cho mọi người lao động có quan hệ lao động từ 3 tháng trở
lên (không kể đến quy mô về số lượng người làm việc của doanh nghiệp)
- Tiếp tục thực hiện BHYT tự nguyện cho học sinh, sinh viên và triển khai thí điểm BHYT tự nguyện cho các đối tượng theo địa giới hành chính, và đối tượng
thuộc hội, đoàn thể, tổ chức nghiệp đoàn
- Thực hiện BHYT cho thân nhân người đang tham gia BHYT bắt buộc; phấn
đấu đến năm 2010 đạt từ 4-5 triệu người
- Tiếp tục thực hiện BHYT tự nguyện cho học sinh phổ thông năm 2004 có
khoảng 5 triệu học sinh và tăng đần số học sinh tham gia vào các năm sau
- Triển khai mở rộng BHYT tự nguyện cho các đối tượng theo địa giới hành chính, theo đoàn thể, hội quần chúng, tổ chức nghiệp đoàn; phấn đấu dén nam 2010 đạt 4- Š triệu người
- 'Thực hiện BHXH tự nguyện (theo để xuất dưới đây) trong đó có BHYT và cho người ăn theo của họ; phấn đấu đến năm 2010 đạt 4 - 5 triệu người
- Vào những năm 2009, 2010 thực hiện BHYT bắt buộc đối với học sinh phổ
thông dự kiến khoảng 17 - 18 triệu người
Như vậy, nếu cộng thêm với khoảng 12 triệu người nghèo, khoảng 8 triệu trẻ
em dưới 6 tuổi, khoảng 2 triệu người về hưu, khoảng hơn 1 triệu người có công với cách mạng; hơn 300 nghìn thân nhân sĩ quan quân đội đang tại ngũ và người bị chất độc màu da cam thì đến năm 2010 khả năng tham gia BHYT là trên 60 triệu người
- Giai đoạn sau năm 2010: đối tượng cần tập trung giải quyết là đối tượng tham gia BHYT tự nguyện theo địa giới hành chính, theo đoàn thể, hội quần chúng,
tổ chức nghiệp đoàn Đây là nhóm đối tượng khó khăn nhất trong việc vận động tham gia BHYT và được diễn ra trong suốt tiến trình thực hiện BHYT toàn dân
Trong tương lai có thể tiếp tục thực hiện hình thức BHYT tự nguyện cho những đối tượng này nhưng mức đóng sẽ có sự hỗ trợ của Nhà nước
15
Trang 24II.2 Các giải pháp cụ thể cho từng đối tượng như sau:
II.2.1 Tiếp tục thực hiện BHYT bắt buộc đối với người lao động có quan
hệ lao động trong các doanh nghiệp Mở rộng phạm vi đối tượng tham gia BHYT
bắt buộc như đối tượng tham gia BHXH bát buộc theo Điều 3 Nghị định số
01/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09/01/2003 tới mọi người lao động có quan
hệ lao động với thời hạn từ 3 tháng trở lên
Lực lượng trụ cột trong hệ thống BHYT vẫn phải là những người lao động có quan hệ lao động, có việc làm và thu nhập Vì vậy việc mở rộng đối tượng tham gia BHYT bắt buộc là một mũi nhọn chủ lực trong việc mở rộng diện tham gia BHYT
11.2.2.Thuc hiện BHYT bắt buộc đối với học sinh học nghề, sinh viên các
trường trung cấp, cao đẳng, đại học Đây là những người trong độ tuổi thanh niên, trẻ, khoẻ, có nhận thức tốt về mọi mặt, dễ tiếp cận với cái mới và dễ dàng chấp hành các chính sách chế độ cũng như pháp luật Mặt khác việc bắt buộc tham gia
BHYT cũng là một nội dung giáo dục về tiêu chuẩn sống, về nghĩa vụ cho thế hệ
mới Sự đóng góp của họ ngày hôm nay, một mặt là nghĩa vụ đối với bản thân họ, với cộng đồng xã hội trong việc chăm sóc sức khoẻ ở giai đoạn hiện tại, nhưng mặt khác cũng là sự đóng góp cho bản thân họ cho tương lại khi họ về già, đau yếu Sau này vào thời điểm khi họ già yếu, đến lượt mình các thế hệ con cháu sẽ có tránh nhiệm đóng góp để chăm sóc sức khoẻ cho thế hệ cha ông của họ Ý nghĩa của việc giáo dục thế hệ trẻ cũng như sự gắn kết trách nhiệm giữa các thế hệ trong cộng đồng xã hội từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác được thể hiện rất rõ trong hoạt động BHYT khi đưa đối tượng học sinh, sinh viên các trường chuyên nghiệp vào điện tham gia BHYT bắt buộc
Điều kiện bắt buộc sinh viên khi bước vào học tập là phải tham gia BHYT; Dự kiến mức đóng là 100 000 - 120 000 đồng/năm; Mỗi sinh viên đều được hưởng các chế
độ KCB hiện hành như người tham gia BHYT bắt buộc khác
II2.3 Thực hiện BHYT bắt buộc đối với người ăn theo trong gia đình
của người đang tham gia BHYT bát buộc Sự chia xẻ rủi ro mang tính xã hội
cũng phải quan tâm đến các thành viên của từng gia đình và các thành viên trong
gia đình đều cùng có trách nhiệm và quyền lợi trong việc thực hiện BHYT Đây
16
Trang 25chính là sự chia sẻ rủi ro giữa người có gia đình, có con cái với người chưa gia đình, chưa con cái
Mức đóng cho mỗi người ăn theo dự kiến sẽ là 1% theo mức lương làm căn cứ đóng
BHYT, từ người ăn theo thứ ba trở đi là 0,5%, và được hưởng toàn bộ các chế độ BHYT như thành viên chính thức của quỹ BHY”T theo chế độ hiện hành
11.2.4 Tiép tuc thực hiện KCB cho người nghèo theo hướng tham gia BHYT Về lâu dài, tham gia BHYT cho người nghèo vẫn là phương pháp tốt nhất đảm bảo được nhu cầu và sự chủ động của người nghèo trong KCB, thuận lợi hơn trong việc thanh toán cho các co sé KCB Việc tiến hành cấp phát thẻ BHYT cho
người nghèo được tiến hành mỗi năm một lần theo danh sách và nguồn kinh phí của
cơ quan chức năng địa phương đưa đến
Tuy nhiên xu thế phát triển lâu dài cho đối tượng người nghèo phải theo quy luật 1a: gidm số người nghèo tham gia BHYT bằng nguồn tài trợ từ ngân sách và tăng dân số người thoái cảnh nghèo và có đủ điêu kiện tham gia BHYT bắt buộc hoặc BHYT tự nguyện nhằm thực hiện BHYT toàn dân bên vững
II.2.5 Thực hiện BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi Có rất nhiều ý kiến ủng hộ
việc tham gia BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi, đặc biệt là Bộ Y tế Bởi lẽ nếu KCH theo phương thức thực thanh thực chỉ thì: - hàng năm ngành y tế phải thực hiện phân bố nguồn kinh phí,việc phân bổ kinh phí sẽ không hợp lý vì có trường hợp không có bệnh nhân cũng được phân bổ và ngược lại, tạo nên cơ chế "xin cho”; -
không thuận lợi cho việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho trẻ em ở ngay các xã, phường, thị trấn;- phải có hệ thống theo dõi thanh quyết toán và giám sát nguồn
kinh phí cho đối tượng này;- khi gặp trường hợp cấp cứu thì không thể phân biệt trẻ
em dưới 6 tuổi mới được miễn phí và sau đó mới làm thủ tục giấy tờ thì càng phức
tạp hơn Việc cấp phát thể BHYT kịp thời cho trẻ em mới sinh để một mặt là thực hiện chính sách xã hội, nhưng mặt khác là thể biện sự chào đón của xế hỏi đối
với công dân mới, sự quan tâm của xế hội, nhất là của mạng lưới BHYT xã hội đến từng trẻ em ngay từ khi mới cất tiếng khóc chào đời
IL2.6,7, 8 Tiếp tục thực hiện BHYT cho thân nhân sĩ quan tại ngũ, người về hưu, người có công với cách mạng theo chế độ hiện hành
II.2.9 Tiếp tục triển khai thực hiện BHYT tự nguyện
1?
Trang 26a Thực hiện BHYT tự nguyện cho đối tượng học sinh phổ thông:
Cần có sự chỉ đạo của UBND cấp tỉnh, thành phố và sự phối hợp chặt chế giữa các ngành Y tế, Giáo dục-đào tạo, Ban chỉ đạo y tế học đường và BHXH cùng phối hợp thực hiện: tuyên truyền vận động học sinh, thu đóng góp và cấp thẻ BHYT, thực hiện chăm sóc sức khoẻ ngay tại nhà trường, tổ chức KCB phân loại bệnh tật và những học sinh mắc bệnh sẽ thông báo cho gia đình BHXH cũng đã
ký hợp đồng với các bệnh viện, trung tâm y tế để tiếp nhận KCB cho học sinh được
thuận lợi
b Thực hiện BHYT tự nguyện cho đối tượng thuộc địa giới hành chính và đối
tượng thuộc hội, đoàn thể, tổ chức nghiệp đoàn
Việc tổ chức thực hiện phải được tiến hành từng bước, cho từng nhóm đối
tượng, vừa làm vừa rút kinh nghiệm Trước mắt phải chọn một số địa phương để làm điểm: mỗi huyện ở các tỉnh chọn ra l xã có trạm y tế chất lượng và người dân có khả năng đóng góp cũng như được chính quyển địa phương ủng hộ Ngoài ra cũng cần phải khai thác những yếu tố về phong tục, tập quán, dòng tộc, hương ước
tranh thủ sự giúp đỡ của những người có uy tín trong dòng tộc, những "già làng,
trưởng bản" mà đề ra biện pháp vận động tham gia BHYT một cách hợp lý Sau đó
mở rộng dần ra cả nước và chú ý vận động tham gia BHYT liên tục
Hiện nay còn có các mô hình trợ giúp đặc biệt khác: người dân được vay ưu
đãi từ nguồn cung cấp của một số tổ chức nước ngoài (như 2 xã của tỉnh Hà Tây) thông qua Tổ chức y tế thế giới để tham gia BHYT; nguồn hỗ trợ của Ngân hàng
phát triển Châu Á - ADB cam kết đóng góp hỗ trợ BHYT cho nhân dân tại 4 tỉnh Ninh Bình, Quảng Bình, Khánh Hoà, Long An thời gian 3 năm theo phương thức năm thứ nhất hỗ trợ 50%, năm thứ hai 40% và năm thứ ba 30% Bằng các hướng phát triển này, chúng ta càng có cơ may để tiếp tục nhận được các khoản trợ giúp rất cần thiết cho công tác chăm sóc sức khoẻ và hoạt động BHYT
IIL2.10 Triển vọng những năm tới với việc thực hiện BHYT bát buộc đối với học sinh phổ thông và đề xuất loại hình BHXH tự nguyện đối với lao động
tự hành nghề (trong đó có BHYT)
a Thực hiện BHYT bắt buộc đối với học sinh phổ thông: phải đảm bảo được
khả năng đóng góp chung của các gia đình và đảm bảo thực hiện chính sách giáo
18
Trang 27dục phổ thông, tránh tình trạng học sinh bỏ học vì không có tiền tham gia BHYT Việc thực hiện BHYT bắt buộc đối với học sinh phổ thông có thể được tiến hành từ
năm 2009, 2010
b Đề xuất loại hình BHXH tự nguyện ( trong đó có BHYT)
Mô hình BHXH tự nguyện bao gồm 3 chế độ: chế độ hưu trí, chế độ tử tuất
và chế độ KCB Đối tượng gồm những người tự hành nghề mà ổn định về việc làm
và thu nhập; những người lao động tự do mà bản thân họ đảm bảo đủ việc làm và thu nhập; những người làm việc có tính chất tạm thời hoặc phải làm việc theo nhiều quan hệ lao động khác nhau đưới 3 tháng, người giúp việc gia đình có thu nhập đảm bảo và có nguyện vọng tham gia; Người lao động đóng góp theo ty lệ toàn phần gồm: chế độ hưu trí và tử tuất là 15%, chế độ khám chữa bệnh là 3% : tự đăng
ký mức thu nhập làm căn cứ đóng BHXH nhưng không được thấp hơn mức tiền
lương tối thiểu do Nhà nước quy định hoặc có thể tham gia theo mức lương bình
quân chung làm căn cứ đóng BHXH của tất cả những người đang tham gia BHXH bắt buộc và lựa chọn cách đóng góp sao cho phù hợp ; được hưởng quyền lợi theo
chế độ bảo hiểm như một người lao động tham gia BHXH bắt buộc cùng chế độ
theo luật pháp hiện hành; Người tham gia BHXH tự nguyện có thể đóng góp cho thân nhân của gia đình họ tham gia BHYT với mức đóng và các quyển lợi được
hưởng tương tự như thân nhân người tham gia BHYT bắt buộc
IV MỞ RỘNG KHẢ NĂNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ Y TẾ, THUỐC
MEN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KHÁM CHỮA BỆNH CHO NGƯỜI THAM GIA BHYT
IV.1 Mở rộng mạng lưới y tế từ phường xã, huyện, tỉnh đến tuyến Trung
ương và đảm bảo đủ nguồn nhân lực cần thiết cho mạng lưới y tế: Theo hướng
hệ thống y tế dựa trên BHYT toàn dân
- Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở
- Tăng cường đầu tư và phát triển ngành y tế một cách thường xuyên và rộng khắp
bằng nhiều nguồn lực khác nhau kể cả trong nước và ngoài nước, theo nhiều hình thức kể cả y tế chuyên sâu, kỹ thuật cao
19
Trang 28- Chú trọng đầu tư về con người với trình độ chuyên môn cần thiết cho các cơ sở
nhất bằng hợp đồng với cơ quan BHXH
- Hệ thống sản xuất thuốc men và hệ thống cung ứng thuốc men (bao gồm cả nguồn thuốc men nhập ngoại) cũng cần được tăng cường quản lý nhằm bình ổn giá thuốc
và đảm bảo nguồn thuốc đầy đủ, kịp thời phục vụ cho người bệnh Khi nền kinh tế thị trường phát triển chưa đầy đủ, Nhà nước cần phải trực tiếp tham gia vào việc quản lý thuốc và phân phối thuốc Đây cũng là một giải pháp cần nghiên cứu và thực hiện trong giai đoạn hiện nay
- Ngành y cũng phải tiếp tục quán triệt, giáo dục, phát huy y đức, nêu cao tỉnh thần
chăm sóc và phục vụ người bệnh của người thầy thuốc, thực hiện tốt khẩu hiệu
"Lương y kiêm từ mẫu”
IV 2 Cải tiến thủ tục hành chính trong việc KCB cho người tham gia BHYT nhằm tạo điều kiện thuận lợi và thoải mái khi KCB bằng thẻ BHYT Trong
tương lai, cần cải tiến quản lý bằng việc sử dụng thẻ BHYT điện tử Khi đến KCB,
bệnh nhân chỉ cần mang thẻ BHYT để xác định được đúng đối tượng
IV 3 Cải tiến công tác quản lý viện phí: Hiện nay, phương thức thanh toán theo phí dịch vụ nhưng có “giá trần" đã dẫn đến bất cập trong quản lý giữa cơ quan BHXH và cơ sở KCB và phần nào hạn chế quyền lợi của người tham gia BHYT Cần từng bước thí điểm và áp dụng rộng rãi các phương thức thanh toán tiên tiến
khác phù hợp và tích cực hơn như thanh toán theo định xuất, theo nhóm chẩn
đoán nhằm trước hết phải đảm bảo những quyền lợi cơ bản, chính đáng của người
bệnh; sau đó mới đến lợi ích hợp pháp của cơ sở KCB Người bệnh cũng cần phải
hiểu biết đầy đủ những thủ tục hành chính cần thiết, những quyền lợi có thể được
20
Trang 29hưởng để tự giác chấp hành tốt các quy định, tránh những đòi hỏi không chính
đáng, vượt ra khỏi các quy định
V BAN HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BHYT VÀ TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC CẤP, CÁC NGÀNH TRONG VIỆC TRIỂN KHAI THỰC
HIỆN BHYT TOÀN DÂN
Sớm ban hành hệ thống luật pháp về BHYT nhằm khẳng định quyền và nghĩa
vụ BHYT của mọi công dân trong xã hội để có cơ sở pháp lý thực hiện BHYT toàn dán Việc xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật BHYT theo những đối tượng
tham gia và có bước đi hợp lý là điêu kiện tiên quyết để thực hiện BHYT toàn dân
- Thực hiện BHYT toàn dân đòi hỏi phải có sự lãnh đạo tập trung và phối hợp
kịp thời của nhiều ngành, nhiều cấp cả ở Trung ương và địa phương có liên quan Đặc biệt là vai trò lãnh đạo của các cấp bộ Đảng, các cấp Chính quyền từ tỉnh, thành phố đến các quận, huyện và xã, phường trong việc tổ chức thực hiện
- Mở các đợt tuyên truyền sâu rộng, thường xuyên về BHYT để mọi người
hiểu rõ được tính ưu việt, tính nhân đạo và sự cần thiết của chế độ BHYT để mọi người tự giác tham gia và chấp hành chính sách BHYT toàn dân
VI HOÀN THIỆN TỔ CHỨC, NÂNG CAO VAI TRÒ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGÀNH BHXH VIỆT NAM TRONG TIEN TRINH THUC HIỆN BHYT TOÀN DÂN
VỊ 1 Xây dựng mạng lưới BHXH cấp cơ sở (xã, phường) có những nhiệm
vụ thuộc phạm vi BHYT sau:- Nắm vững dân số và lao động trên địa bàn xã phường
và tình trạng việc làm;- Nắm vững các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, các tổ chức đoàn thể, các trường sở đóng trên địa bàn quản lý;- Bám sát địa bàn, làm tốt công tác tuyên truyền vận động chế độ, chính sách BHYT; - Tổ chức thu BHYT kịp thời, đúng chế độ;- Cấp thẻ BHYT kịp thời cho từng người đã đóng góp BHYT; - Hướng dẫn người tham gia BHYT khi mắc phải ốm đau phải đi KCB theo đúng thủ
tục, đúng tuyến và có sự can thiệp kịp thời khi cơ sở y tế gây khó khăn, phiền nhiễu
cho người bệnh
VI.2 Nâng cao vai trò và trách nhiệm của ngành BHXH Việt nam
21
Trang 30BHXH sẽ là người đại diện chính thức cho lợi ích của người tham gia BHYT, đứng ra bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của người tham gia BHYT theo quy định của pháp luật trước các cơ sở KCB, là đối tác chính thức khi “đàm phán "với các cơ
SỞ cung ứng dịch vụ y tế và thuốc men, gồm các việc sau:+ Phối hợp với ngành Y
tế trong việc tuyên truyền giáo dục sức khoẻ cộng đồng nhằm tăng cường sức khoẻ
và để phòng, ngăn ngừa bệnh tật xẩy ra; +Phối hợp với ngành Y tế, Tài chính rà soát
và điều chỉnh kịp thời những quy định về: các dịch vụ y tế, danh mục thuốc men và mức giá của từng loại dịch vụ y tế, giá cả thuốc men đó: +Cần phải thường xuyên
kiểm tra, chống sự lạm dụng về phía bác sĩ và cơ sở KCB cũng như người bệnh; +BHXH quản lý các nguồn quỹ tham gia BHYT và hạnh toán hàng năm để thấy
được quan hệ thực tế giữa khả năng đóng góp và chỉ trả của từng quỹ mà có cơ chế điểu chỉnh mức đóng cho những năm tới Đồng thời BHXH phải giữ vai trò điều tiết
kịp thời giữa các quỹ BHYT thành phần, không để tình trạng ví dụ như quỹ BHYT cho người nghèo bị thiếu hụt mà người nghèo không được KCB hoặc không được
đảm bảo các quyền lợi bình đẳng khi KCB
KẾT LUẬN
Để tiến tới thực hiện BHYT toàn dân chúng ta cần thực hiện tổng thể, đồng
bộ một hệ thống các biện pháp cơ bản sau:
1 Xây dựng chế độ BHYT cơ bản nhằm đáp ứng những nhu cầu KCB thiết yếu của đại bộ phận dân cư và huy động khả năng đóng góp của mọi người lao
động có mức thu nhập khác nhau Trên cơ sở đó đảm bảo cân đối tài chính giữa mức đóng góp và chỉ trả của cả cộng đồng
2 Từng bước mở rộng điện đối tượng tham gia BHYTvào những thời điểm và theo những phương thức thích hợp Nhà nước dém bảo nguồn tài chính để tham gia
BHYT cho một số đối tượng chính sách xã hội
3.Mở rộng và nâng cao khả năng cung ứng và ổn định giá cả các dịch vụ y tế
và thuốc men, đảm bảo cân đối với nhụ câu KCB của toàn bộ dân cư
4 Xây dựng hệ thống luật pháp về BHYT và phối hợp tổ chức triển khai thực
hiện giữa các ngành và các cấp mot cach kip thoi va dong bd
22
Trang 315 Ndng cao vai trò và trách nhiệm của ngành BHXH trong việc thực hiện chính sách BHYT cũng như cải tiến các thủ tục hành chính về KCB và phương thức thanh toán với các cơ sở KCB
Để tài được thực hiện với sự cố gắng của ban chủ nhiệm và không thể không còn nhiều khiếm khuyết Rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu, các chuyên gia về lĩnh vực này để hoàn thiện đề tài./
23
Trang 32BAO HIEM XA HOI VIET NAM
CAC GIAI PHAP co BAN DE TIEN TO THUC HIEN
BAO HIEM Y TE TOAN DAN
Hà Nội 2904
Trang 33L Những vấn đề lý luận cơ bản về BHYT 4
1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò và ý nghĩa của BHYT 4
I.2 Những nguyên tắc và những đặc trưng cơ bản của BHYT 10
IL Bảo hiểm y tế toàn dân và kinh nghiệm của một số nước
II.1 Khái niệm về BHYT toàn dân 18
I2 Kinh nghiệm thực hiện BHYT toàn dân của một số nước
CHƯƠNG II MỘT SỐ NÉT VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BHYT Ở VIỆT NAM 29
I Đặc điểm ra đời của chính sách BHYT ở Việt Nam 29
II Sự phát triển của BHYT ở Việt nam 30
II.1 Từng bước mở rộng đối tượng tham gia BHYT
Trang 34và thực hiện các hình thức BHYTT khác nhau
a BHYT bắt buộc đối với những người có quan hệ lao động
b BHYT đối với người có công với cách mạng
c BHYT tự nguyện
d Chính sách KCB đối với người nghèo
đ Chính sách KCB đối với trẻ em dưới 6 tuổi
e Chính sách KCPB đối với thân nhân sĩ quan tại ngũ
II.2 Mức đóng và các chế độ hưởng của BHYT hiện hành
I.2.1.Đối với BHYT bắt buộc
a Mức đóng
b Các chế độ được hưởng khi KCB ngoại trú và nội trú
c Phương thức đồng chi trả
1L2.2 Đối với BHYT tự nguyện
II.3 Quan hệ giữa cơ quan BHYT với các cơ sở KCB
H4 Một số kết quả về hoạt động của BHYT những năm qua
II4.1 Kết quả thực hiện BHYT tự nguyện
II.4.2 Kết quả thực hiện BHYT chung
II.5 Vài nết về thực trạng của các cơ sở cung ứng địch vụ y tế
và thuốc men có liên quan đến việc KCB
cho người tham gia BHYT
I.5.1 Thực trạng về đầu tư và cơ sở vật chất kỹ thuật của các
cơ sở KCB công
II.5.2 Ảnh hưởng của yếu tố giá cả thuốc chữa bệnh
II Một số nhận xét về hoạt động của BHYT ở Việt nam
trong thời gian qua
CHUONG III MOT SO GIAI PHAP CO BAN
NHAM TIEN TO! THUC HIEN BHYT TOAN DAN
I Một số quan điểm xung quanh vấn đề tiến tới thực hiện
BHYT toàn dân
1.1 Sự cần thiết tất yếu phải thực hiện BHYT toàn dân
1.2 Đặc điểm về ý thức và tập quán của người
Việt nam khi thực hiện BHYT toàn dân
1.2.1 Chuyển biến ý thức về tập quán truyền thống
của người Việt nam trong việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
1.2.2 Tap quán sử dụng thuốc nam trong việc chữa trị bệnh tật
Trang 3514.1 Người tham gia BHYT phải có trách nhiệm với sức khoẻ
1.4.2 Can coi trọng loại hình BHYT bắt buộc 57
1.4.3 Sự đóng góp của Nhà nước cho một số đối tượng
I.5 Mỗi người tại từng thời điểm chỉ tham gia một loại hình
BHYT theo một diện đối tượng nhất định 59
1.6 Cần gắn kết chế độ BHYT với các chế độ BHXH khác,
đặc biệt trong việc quản lý thu BHXH và thu BHYT 60
1.7 Mot s6 chi tiêu dự báo về phát triển kinh tế - xã hội
đến năm 2010 làm cơ sở cho việc tiến tới thực hiện
a Chiến lược phát triển kinh tế xã hội cho 10 năm đầu
Ii Xay dựng chế độ BHYT cơ bản làm nên móng cho
II Cac giải pháp mở rộng đối tượng tham gia BHYT 67 TIL1 Khái quát chung về các bước di trong tiến trình
b Các giai đoạn chính trong tiến trình
IH.2 Các giải pháp cụ thể cho từng đối tượng như sau 70 IH.2.1 Tiếp tục thực hiện BHYT bắt buộc đối với người lao động
có quan hệ lao động trong các doanh nghiệp 71
1I.2.2 Thực hiện BHYT bắt buộc đối với học sinh học nghề,
sinh viên các trường trung học, cao đẳng và đại học 7l II.2.3 Thực hiện BHYT bắt buộc đối với người ăn theo trong gia
đình người đang tham gia BHYT bắt buộc 74
HI.2.4 Tiếp tục thực hiện KCB cho người nghèo
II.2.5 Thực hiện BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi 78
II.2.6 Tiếp tục thực hiện BHYT cho thân nhân sĩ quan tại ngũ 80 IIL2.7 Tiếp tục thực hiện BHYT cho người về hưu 80 IH.2.8 Tiếp tục thực hiện BHYT cho người có công với cách mạng 80
II.2.9 Tiếp tục triển khai thực hiện BHYT tự nguyện 81
a Thực hiện BHYT tự nguyện cho đối tượng hoc sinh
Trang 36b Thuc hién BHYT tu nguyén cho đối tượng thuộc
địa giới hành chính và đối tượng thuộc hội,
đoàn thể, tổ chức nghiệp đoàn
IIL2.10 Triển vọng những năm tới với việc thực hiện BHYT
bắt buộc đối với học sinh phổ thông và đề xuất loại
hình BHXH tự nguyện đối với lao động tự hành nghề
(trong đó có BHYT)
a Thực hiện BHYT bắt buộc đối với học sinh phổ thông
b Đề xuất loại hình BHXH tự nguyện( trong đó có BHYT)
IV Mở rộng khả năng cung ứng dịch vụ y tế, thuốc men
và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người
tham gia BHYT
IV.1 Mở rộng màng lưới y tế từ phường xã, huyện, tỉnh đến
tuyến Trung ương và đảm bảo đủ nguồn nhân lực
cần thiết cho mạng lưới y tế
1V.2 Cải tiến thủ tục hành chính trong việc KCB
cho người tham gia BHYT
IV.3 Cải tiến công tác quản lý viện phí
V Ban hành pháp luật về BHYT và tăng cường sự lãnh đạo
của các cấp, các ngành trong việc triển khai thực hiện
BHYT toàn dân
VL Hoàn thiện tổ chức, nâng cao vai trò và trách nhiệm
của ngành BHXH Việt nam trong tiến trình
thực hiện BHYT toàn dân
VI.1 Xây dựng mạng lưới BHXH cấp cơ sở
Trang 37LỜI MỞ ĐẦU
Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng là một trong những nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng của mỗi quốc gia và được coi là một trong những mục tiêu chiến lược
Đối với Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì
nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng và sử dụng những phương thức quản
lý thích hợp để thực hiện nhiệm vụ này lại càng được Đảng và Nhà nước ta đặc
biệt chú trọng hơn Bởi vì một mặt chúng ta vẫn phải tiếp tục phát triển nền kinh tế quốc dân, tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định chính trị và phát triển
xã hội, nhưng mặt khác vẫn phải đảm bảo vững chắc mạng lưới an sinh xã hội, đảm bảo sự công bằng cũng như mọi điều kiện phát triển toàn diện cho từng thành viên trong cộng đồng xã hội
Điều này được thể hiện rất rõ trong nghị quyết của đại hội Đảng cộng
sản việt nam lần IX là : " Thực hiện đồng bộ các chính sách bảo vệ và chăm
sóc sức khỏe nhân dân nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi
thọ và phát triển giống nòi Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế, đặc biệt là
cơ sở Xây dựng một số trung tâm y tế chuyên sâu Đẩy mạnh sản xuất dược phẩm, bảo đảm các loại thuốc thiết yếu đến với mọi địa bàn dân cư Thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khoẻ ; đổi mới cơ chế chính sách viện phí, có chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo, wến tới bảo hiểm y tế toàn dân”
Bảo hiểm y tế (BHYT) ở nước ta đã được hình thành và phát triển hơn
10 năm qua Từ khi ra đời đến nay, hoạt động của BHYT đã khẳng định tính
đúng đắn của một chính sách mới, hoàn toàn phù hợp với bước chuyển đổi cơ
chế quản lý ở nước ta và đang từng bước hoà nhập với xu thế phát triển chung của các nước trên thế giới Tuy nhiên đến nay, mạng lưới BHXH trong lĩnh vực
y tế mới bao phủ trong phạm vi còn quá khiêm tốn đối với toàn bộ dân cư nước
ta Đến cuối năm 2003 cả nước mới có khoang 16,8 triệu người tham gia
Trang 38BHYT bằng khoảng 21% đân số, trong đó có 4,6 triệu học sinh, sinh viên tham gia BHYT tự nguyện
" Thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân "phải được coi vừa là mục tiêu vừa là biện pháp tích cực góp phần thực hiện công bằng xã hội trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, đảm bảo cho mọi thành viên trong xã hội, không
phân biệt thành phần kinh tế, điều kiện kinh tế, nghề nghiệp, vị trí địa lý, tuổi tác, giới tính đều được sự bảo vệ sức khoẻ, đều được khám chữa bệnh(KCB) bằng mạng lưới bảo hiểm y tế quốc gia Điều đó có nghĩa là mọi thành viên trong xã hội đều được bình đẳng về nghĩa vụ tham gia đóng góp vào hệ thống bảo hiểm y tế quốc gia và cũng đều có quyền lợi bình đẳng khi KCB theo chế
độ phúc lợi quy định thống nhất của hệ thống BHYT này
Tuy nhiên" Tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân" phải được thực hiện dựa
trên nền tảng kinh tế, chính tri, xã hội tổng thể của nước nhà; nó vừa chịu tác
động của các yếu tố về sức khoẻ và điều kiện kinh tế cũng như khả năng tham gia BHYT của từng nhóm dân cư trong xã hội, mặt khác lại chịu sự tác động mạnh mẽ của hoạt động điều tiết vĩ mô của một quốc gia trong từng giai đoạn
nhất định như: về khả năng đầu tư phát triển ngành y tế từ xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật của các bệnh viện, của các doanh nghiệp sản xuất thuốc men đến
công tác đầu tư nghiên cứu khoa học y học Do vậy để " Tiến tới BHYT toàn
dân " cần phải có những luận cứ khoa học và hệ thống để từng bước đưa dần từng bộ phận dân cư vào mạng lưới BHY”T quốc gia cũng như sự đảm bảo vững
chắc cho hoạt động của mạng lưới BHYT đó là rất cần thiết và vấn đề này còn
chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ Từ đó chúng tôi để xuất việc nghiên
cứu đề tài "Các giải pháp cơ bản để tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân ".
Trang 39Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu các giải pháp để từng bước mở rộng phạm vi tham gia BHYT theo điều kiện và khả năng của từng nhóm đối tượng tiến tới bao phủ
tới mọi tầng lớp dân cư; đồng thời cũng đề xuất các điều kiện cần thiết và đồng
bộ về vật chất kỹ thuật, về luật pháp và về tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo
cho quá trình thực hiện BHYT toàn dân đạt được mục tiêu dé ra
Phạm vỉ nghiên cứu:
Dựa vào chế độ BHYT hiện hành ở Việt Nam mà để tài tập trung chủ
yếu vào việc nghiên cứu mở rộng diện đối tượng tham gia BHYT với các khả năng và bước đi phù hợp nhưng có để cập đến những nội dung nhằm hoàn
thiện chính sách BHYT hiện hành và những điều kiện cần thiết để chính sách BHYT toàn dân thực hiện được Đẻ tài không đi sâu vào việc tính toán phân tích các mức đóng cho từng nhóm đối tượng tham gia BHYT mới phát sinh mà
chủ yếu dựa vào phương pháp phân tích, so sánh mà dự báo số liệu, không đi sâu vào việc phân tích về chất lượng KCB bảng thẻ BHYT cũng như phương thức thanh toán cụ thể mà chủ yếu đề xuất ý kiến mang tính khái quát Đồng thời đề tài cũng sử dụng các lý luận cơ bản về BHYT của các nước có sự phát triển lâu dài và bền vững về lĩnh vực này cũng như giới thiệu kinh nghiệm thực
hiện BHYT toàn dân của một số nước làm tư liệu tham khảo
Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử , phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh và phân tích.
Trang 40CHƯƠNG | NHUNG VAN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ BẢO HIỂM Y TẾ VÀ BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN
L NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
I.1 Khái niệm, bản chất, vai trò và ý nghĩa của Bảo hiểm y tế
BHYT được trình bày trong cuốn " Từ điển Bách khoa Việt Nam l xuất
bản năm 1995 "- Nhà xuất bản từ điển Bách khoa - trang 151 như sau:
" BHVT - loại bảo hiểm do nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự
đóng góp của cá nhân, tập thể và công đồng xã hội để chăm lo sức khoẻ, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân.”
Mặt khác BHYT là một trong 9 nội dung của BHXH được quy định tại Công ước 102 ngày 28.6.1952 của tổ chức lao động quốc tế (ILO) về các tiêu
chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH
Từ sự khái quát trên, cùng với những thực tế đã diễn ra trong lịnh sử
phát triển BHXH trên thế giới hơn 100 năm và trong nước hơn 10 năm nay,
chúng ta có thể phân tích đầy đủ hơn về bản chất của BHXH về Y tế
BHYT trước hết là một nội dung của bảo hiểm xã hội (BHXH) - một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống bảo đảm xã hội Cùng với các hệ thống cung cấp xã hội (hay còn gọi là ưu đãi xã hội, chế độ bao cấp) và cứu trợ
xã hội, hoạt động của BHYT nói riêng và hoạt động của BHXH nói chung, đã thực sự trở thành những hòn đá tảng xây dựng nên nền móng vững chắc cho sự bình ổn xã hội Chính vì vai trò cực kỳ quan trọng của BHXH như vậy cho nên
ở mọi quốc gia trên thế giới, hoạt động của BHXH luôn do Nhà nước đứng ra
tổ chức thực hiện theo hệ thống pháp luật về BHXH Đây cũng là một cơ sở
quan trọng để phân biệt giữa Bảo hiểm xã hội về y tế và Bảo hiểm tư nhân về y ©
tế Trong các nước công nghiệp phát triển thì loại hình BHYT tư nhân cũng được phát triển và cùng tồn tại song song với BHXH về y tế Vì vậy trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nói đến BHYT ở đây là chúng ta hiểu là đang
dé cap đến BHXH về y tế hay nói cách khác là BHYT theo luật pháp
4