a ICMP Internet Control Message Protocol ICMP là một giao thức nằm ở tầng mạng phục vụ việc truyền các thông báo điều khiển báo cáo về tình trạng lỗi trên mạng, … giữa các gateway hoặc
Trang 1Mục lục
BÀI 1 KIẾN TRÚC TCP/IP 1
1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT 1
1.1 TCP/IP là gì, lịch sử .1
1.2 Kiến trúc TCP/IP, các tầng, chuẩn, so sánh mô hình phân tầng TCP/ IP với OSI 2
1.3 Các giao thức: ICMP, IGMP, IP, UDP .3
1.4 Các tiện ích TCP/IP: FTP, Telnet .4
2 ĐỊA CHỈ IP 5
2.1 Địa chỉ vật lí, địa chỉ tầng mạng 5
2.2 Địa chỉ IP,các lớp địa chỉ, địa chỉ mạng con, mặt nạ mang con Error! Bookmark not defined 2.3 Giao thức phân giải địa chỉ: giao thức ARP, giao thức RARP 11
3 DỊCH VỤ DHCP 12
3.1 Cấu hình động là gì, cơ chế hoạt động của DHCP 12
3.2 Các lựa chọn DHCP 13
4 DỊCH VỤ DNS 14
4.1 Tại sao cần DNS .14
4.2 Hệ thống tên miền .15
4.3 Phân giải tên (ánh xạ địa chỉ) 15
Trang 2BÀI 2 ĐỊNH TUYẾN TRONG TCP/IP 17
1 ĐỊNH TUYẾN - ROUTING 17
1.1 Khái niệm 17
1.2 Định tuyến như thế nào .17
1.3 Địa chỉ IP của router cục bộ 18
2 ROUTER HỌC TOPO MẠNG NHƯ THẾ NÀO .19
2.1 Bảng định tuyến .19
2.2 Lập bảng định tuyến 19
3 CÁC GIAO THỨC ĐỊNH TUYẾN IP - IP ROUTING PROTOCOL .20
3.1 Tại sao cần có các giao thức định tuyến 20
3.2 Phân lớp các giao thức định tuyến 20
3.3 Distance-vector routing 20
3.4 Link state protocol 21
3.5 Các giao thức .22
3.6 Đường đi của một gói tin IP 22
BÀI 3 TCP/IP TRÊN MẠNG WINDOW NT/2000 24
1 CÀI ĐẶT VÀ CẤU HÌNH .24
1.1 Giới thiệu chung 24
1.2 Cài đặt TCP/IP trên Windows NT/2000 24
1.3 Thiết lập cấu hình cơ bản 27
1.4 Cấu hình các lựa chọn nâng cao .29
Trang 32 SỬ DỤNG CÁC TIỆN ÍCH TCP/IP 35
2.1 Cấp địa chỉ động .35
2.2 Phân giải tên 36
2.3 Truyền tệp .37
BÀI 4 TCP/IP TRONG MÔI TRƯỜNG UNIX/LINUX 39
1 GIAO THỨC TCP/IP TRONG UNIX/LINUX 39
1.1 Thiết lập giao thức TCP/IP 39
1.2 Kết nối máy khách vào mạng .40
1.3 Các trình tiện ích mạng TCP/IP 41
2 CẤU HÌNH CÁC TIỆN ÍCH 43
2.1 Cấu hình DNS 43
2.2 Cấu hình FTP 46
Trang 4BÀI 1 KIẾN TRÚC TCP/IP
1.1 TCP/IP là gì, lịch sử
TCP/IP là một tập hợp các phần mềm được tạo ra qua nhiều năm, phần lớn với sự giúp đỡ của một nguồn tài trợ nghiên cứu to lớn của chính phủ Mỹ Ban đầu, TCP/IP được dự định dành cho cho Bộ Quốc phòng Mỹ (Departement of Defense - DoD) Dự án này xuất phát từ nhu cầu trao đổi thông tin giữa các hệ thống khác nhau Vào thời kì những năm 70, trước khi
có giao thức TCP/IP, gần như không thể làm cho một máy mainframe của IBM “nói chuyện” được với một mainframe của Apple vì hai máy tính này được thiết kế với những giao thức hoàn toàn khác biệt
Bạn có thể tưởng tượng như bạn nhấc điện thoại ở Mỹ gọi sang Tây Ban Nha Giả sử có một kết nối cứng tốt vì hệ thống điện thoại ở Tây Ban Nha tương thích Mặc dầu vậy bạn gặp phải sự bất tương thích về phần mềm, đó là một người nói tiếng Anh và một người nói tiếng Tây Ban Nha, ta gặp phải sự bất đồng ngôn ngữ Để giải quyết bất đồng này người ta đưa ra một ngôn ngữ chung để trao đổi, ngôn ngữ Esperanto Và mong muốn của những nhà thiết kế là đưa TCP/IP trở thành ngôn ngữ có vai trò như Esperanto trong truyền thông Cùng với thời gian, TCP/IP đã tiến hóa thành một bộ giao thức mạnh mẽ, phổ biến và hoàn thiện Nhiều nơi đã chấp nhận
nó như là ngôn ngữ truyền thông chính của họ
Trang 51.2 Kiến trúc TCP/IP, các tầng, chuẩn, so sánh mô hình phân tầng TCP/ IP với OSI
Mô hình OSI Mô hình kiến trúc TCP/IP
TCP/IP thực chất là một họ giao thức cùng làm việc với nhau để cung cấp phương tiện truyền thông liên mạng Bao gồm 4 tầng: Applycation, TCP (tương ứng với tầng Session trong mô hình OSI), IP (tương ứng với tầng Network) , Physical
Hai giao thức đáng quan tâm nhất trong bộ giao thức này là giao thức liên mạng IP (Internet Protocol) và TCP (Transmision Control Protocol)
Mục đích chính của IP là cung cấp khả năng kết nối các mạng con thành liên mạng để truyền dữ liệu Vai trò của IP tương tự vai trò của giao thức tầng mạng trong Mô hình OSI là chọn đường và chuyển tiếp IP là giao thức “không liên kết” (connectionless) có nghĩa là không cần có giai đoạn thiết lập liên kết trước khi truyền dữ liệu
Telnet
Transmission Control Protocol (TCP)
User Datagram Protocol (UDP)
RIP ICMP ARP Internet Protocol (IP)
Ethernet Token Bus Token Ring FDDI IEEE803.3 IEEE802.4 IEEE802.
5
ANSI X3T95
Trang 6TCP là giao thức kiểu “có liên kết” (connection – oriented) nghĩa là cần phải thiết lập liên kết (logic) giữa một cặp thực thể TCP trước khi chúng trao đổi dữ liệu với nhau
1.3 Các giao thức: ICMP, IGMP, IP, UDP
a) ICMP (Internet Control Message Protocol)
ICMP là một giao thức nằm ở tầng mạng phục vụ việc truyền các thông báo điều khiển (báo cáo về tình trạng lỗi trên mạng, …) giữa các gateway hoặc trạm của liên mạng Tình trạng lỗi có thể là: một datagram không thể tới được đích của nó, hoặc một router không đủ bộ nhớ đệm để lưu và chuyển một datagram, … Một thông báo ICMP được tạo và chuyển cho IP, IP sẽ “bọc” thông báo đó với một IP header và truyền đến cho router hoặc trạm đích
b) IGMP (Internet Group Management Protocol)
IGMP là giao thức Internet để các host kết nối hủy kết nối từ các nhóm multicast Nhóm multicast gồm các máy tính có thể nhận các gói từ một host đang truyền thông theo chế độ multicast (đa điểm đến) Các gói multicast được đánh địa chỉ IP trong lớp D Các host có thể có các địa chỉ lớp A, B hay C thông thường cùng với một hay nhiều địa chỉ lớp D Địa chỉ lớp D chỉ ra rằng chúng là một phần của nhóm multicast
c) UDP (User Datagram Protocol)
Trong khi TCP là dịch vụ truyền hướng kết nối với nhiều đặc điểm để đạt độ tin cậy cao trong truyền dữ liệu, UDP lại là dịch vụ truyền phi kết nối không cần độ tin cậy như TCP Như đã nói, các ứng dụng cần một giao diện với IP UDP đáp ứng được nhu cầu đó và đồng thời cung cấp khả năng nói chuyện với quá trình đang chạy trên máy chủ thông qua số hiệu cổng mà
Trang 7không cần thiết lập một phiên kết nối Trong nhiều trường hợp, điều này làm cho việc liên lạc d dàng hơn bởi vì toàn bộ dữ liệu truyền có thể được gởi
đi trong một hoặc hai gói UDP Việc thiết lập kết nối TCP sẽ tốn nhiều thời gian mặc dù chỉ gởi một lượng dữ liệu nh
d) IP (Internet Protocol)
IP (hiện nay là IP thế hệ 4, hay IPv4) là giao thức vận chuyển cơ bản cho các gói tin trên mạng Internet và các mạng dùng giao thức TCP/IP IP là giao thức liên mạng Nó cung cấp hệ thống truyền thông trên các mạng được nối với nhau Trong đó, một mạng riêng l nối vào được gọi là mạng con (subnetwork/subnet) Mỗi mạng con có thể khác nhau, tức là mạng con này
có thể là Ethernet trong khi mạng kia có thể là mạng token ring Vì vậy, mỗi mạng con có các phương thức MAC (medium access control) của riêng nó
để đặt thông tin vào các khung, đánh địa chỉ các khung này để truyền đến các nút khác trên cùng mạng IP cung cấp một cách thống nhất cho việc đóng gói thông tin để phân phối ngang qua các đường biên của các mạng con Trong khi các khung được dùng đề truyền thông tin trên mạng con, datagram IP như các “phong bì” để truyền thông tin qua các điểm giao tiếp liên mạng
1.4 Các tiện ích TCP/IP: FTP, Telnet
a) FTP (File Transfer Protocol)
FTP là một dịch vụ truyền tập tin trên hệ thống mạng Internet và trên các hệ thống mạng TCP/IP Về cơ bản, FTP là giao thức client/server (khách/chủ) trong đó một hệ thống đang sử dụng trình FTP server chấp nhận các yêu cầu từ một hệ thống đang chạy FTP client Dịch vụ này cho ph p các người dùng gửi đến máy chủ các yêu cầu tải lên hoặc ch p về các tập tin
Trang 8FTP hoạt động giữa nhiều loại hệ thống hỗn hợp và và cho ph p người dùng
từ hệ thống này tương tác với hệ thống khác loại mà không cần quan tâm đến các hệ điều hành tại đó
b) Telnet
Telnet cho ph p người sử dụng từ một trạm làm việc của mình có thể đăng nhập vào một trạm ở xa qua mạng và làm việc với hệ thống y như là từ một trạm cuối (Terminer) nối trực tiếp với trạm ở xa đó Telnet là giao thức tương đối đơn giản so với các chương trình ph ng tạo trạm cuối phức tạp hiện nay Lý do chính của sự phổ biến của Telnet là vì đó là một đặc tả mở
và khả dụng cho tất cả các hệ thống thông dụng hiện nay
c) DNS (Domain Name System)
Đây là hệ thống quản lý tên miền cho các phần tử của Internet Việc định danh các phần tử của liên mạng bằng các con số năm trong địa chỉ IP rõ ràng không làm cho người sử dụng hài lòng bởi nó khó nhớ và d nhầm lẫn
Vì thế người ta đã xây dựng hệ thống đặt tên cho các phần tử trên Internet cho ph p người sử dụng chỉ cần nhớ tên không cần nhớ địa chỉ IP Phương pháp quản lý các tên của DNS là phân cấp các nhóm tên Mỗi cấp trong hệ thống được gọi là “miền”, các miền được tách nhau bởi một dấu chấm, ví dụ
www.fpt.vn chỉ ra máy chủ web server trong miền của ISP “fpt” thuộc cấp quốc gia là “vn”
2.1 Địa chỉ vật lí, địa chỉ tầng mạng
Để che dấu tính phức tạp và đa dạng của các thiết bị mạng, TCP/IP định nghĩa khái niệm giao diện (interface) để truy cập vào phần cứng Giao
Trang 9diện này cung cấp tập hợp các thao tác như nhau cho tất cả các dạng thiết bị, dựa trên các thao tác gửi và nhận dữ liệu Để hoạt động trong mạng TCP/IP, mỗi giao diện mạng phải được gán một địa chỉ IP để định vị khi truyền thông với thực thể bên ngoài
Một địa chỉ vật lý hay còn gọi là địa chỉ MAC (do nó được định nghĩa trong phân tầng Media Access Control của tầng liên kết dữ liệu theo chuẩn giao thức của OSI) là địa chỉ của một NIC (network interface card - card giao tiếp mạng) Các địa chỉ MAC chỉ được dùng để truyền tải các khung dữ liệu giữa những máy tính trong cùng một mạng Chúng không được dùng để gởi khung đến những máy tính trên những mạng khác nhau được liên kết bằng các bộ định tuyến Việc định địa chỉ IP được dùng để gởi tiếp các khung ngang qua những biên giới của bộ định tuyến (dùng các mạng TCP/IP)
Lưu ý rằng MAC address không được sử dụng trong truyền nhận giữa các mạng
2.2
a) Địa chỉ IP
Giao thức liên mạng IP sử dụng loại địa chỉ 32 bit Mỗi máy trạm phải được gán một địa chỉ trong liên mạng Khi sử dụng mạng cục bộ không kết nối với các mạng khác, người sử dụng có thể tự gán địa chỉ IP tùy ý cho các máy trạm Tuy nhiên đối với các site Internet thì địa chỉ IP phải được cung cấp từ trung tâm phụ trách địa chỉ IP trên thế giới NIC (Network Information
Trang 10Mỗi địa chỉ IP được chia làm 4 phần, mỗi phần 1 byte Ví dụ, trạm quark.physics.groupcho.edu có địa chỉ là 0x954C0C04 hay 149.76.12.4 Dạng sau được gọi là ký pháp thập phân có chấm – dotted quad notation
Địa chỉ IP được chia thành 2 vùng: địa chỉ mạng (network address) và địa chỉ trạm (host address) Khi đề nghị NIC cung cấp địa chỉ IP thì ta sẽ không nhận được địa chỉ tương ứng của mỗi máy trạm, thay vào đó là địa chỉ mạng và ta có quyền gán địa chỉ cho các máy trạm của mạng trong phạm
vi địa chỉ đã được cung cấp
Những bit quan trọng nhất được sử dụng nhằm xác định có bao nhiêu bit dùng cho địa chỉ mạng (netid) và đại chỉ trạm (hostid) Năm lớp địa chỉ hiện tại được định nghĩa là: lớp A, B, C, D và E
Trang 11 Lớp B: điạ chỉ mạng là 2 byte đầu tiên cho ph p định danh tới
16320 mạng từ 128.0.0.0 đến 191.255.0.0, với tối đa 65024 host trên mỗi mạng
Lớp C: địa chỉ mạng là 3 byte đầu tiên cho ph p định danh gần 2 triệu mạng từ 192.0.0.0.1 đến 223.255.0.0 với tối đa 254 host trên mỗi mạng Lớp này được dung cho các mạng có ít trạm
Lớp D dùng để gửi IP datagram tới một nhóm các host trên một mạng
Lớp E dự phòng để dùng trong tương lai
Trong ví dụ trên, giả sử địa chỉ 149.76.12.4 thuộc lớp B thì địa chỉ mạng của nó là 149.76.0.0 và địa chỉ trạm là 12.4
Trong danh sách địa chỉ liệt kê ở trên, không phải mọi địa chỉ đều được gán cho các trạm Các thành phần 0 và 255 được dùng cho các mục đích đặc biệt, địa chỉ với phần trạm có các bit bằng 0 được dùng để chỉ ra mạng tương ứng Còn địa chỉ các các thành phần trạm là các bit bằng 1 là địa chỉ quảng bá định vị cho tất cả các trạm trên mạng đó Như vậy địa chỉ 149.76.255.255 không có ý nghĩa cho một trạm mà có nghĩa là tất cả các trạm trong mạng 149.76.0.0
Địa chỉ 0.0.0.0 được dùng cho địa chỉ chọn đường mặc định (default route) dùng trong việc chọn đường cho các gói tin IP Còn 127.0.0.0 gọi là địa chỉ quay ngược (loopback address)
Nguyên nhân của việc sử dụng các lớp địa chỉ cụ thể:
Các kiểu lớp địa chỉ khác nhau được định nghĩa để đánh địa chỉ cần thiết cho các mạng có kích thước khác nhau Theo yêu cầu cơ
Trang 12quan có thẩm quyền đăng ký mạng cấp một số tài liệu mạng cho một tổ chức Đây là trách nhiệm duy nhất của một tổ chức được cấp phát một địa chỉ mạng nhằm cấp cho số máy chủ trong mạng
Số lượng máy chủ có thể gán cho một nhóm mạng cụ thể tùy thuộc vào số bit trong vùng hostid Số bit trong vùng hostid tùy thuộc vào lớp địa chỉ trên đó nhóm mạng thuộc vào Một nhóm mạng lớp
A có số bit trong vùng hostid lớn nhất , và do đó có số máy chủ lớn nhất Tương tự một địa chỉ lớp C có số lượng bit trong vùng hostid
Một phương pháp xác định lớp địa chỉ IP là chuyển địa chỉ IP sang dạng nhị phân để kiểm tra một số bit quan trọng đầu tiên (các bit bên trái dạng nhị phân của địa chỉ IP) Những bit quan trọng nhất của địa chỉ IP xác
Trang 13định lớp địa chỉ IP Nếu bit quan trọng nhất của địa chỉ IP là 0 , địa chỉ IP là một địa chỉ lớp A Nếu 2 bit quan trong đầu tiên của địa chỉ IP là 10 thì địa chỉ IP là địa chỉ lớp B Nếu 3 bit quan trong đầu tiên của địa chỉ IP là 110 thì địa chỉ IP là địa chỉ lớp C Nếu 4 bit quan trong đầu tiên của địa chỉ IP là
Địa chỉ local broadcast hoặc limited broadcast 255.255.255.255 được sử dụng trong các mạng cục bộ, nơi một broadcast không bao giờ đi qua
Địa chỉ 0.0.0.0 được sử dụng để tham khảo đến chính mạng đó, nó cũng được sử dụng trong bảng định tuyến để chỉ đến điểm vào mạng cho địa chỉ bộ định tuyến mặc định hay cổng giao tiếp mặc định
Trang 14b) Mặt nạ mạng con (subnet mask)
Khi một máy tính trên mạng muốn xác định xem địa chỉ IP mà nó sở hữu có ở trên cùng mạng con với máy mà nó đang cố gắng liên lạc hay không? Điều này được trả lời bằng mặt nạ mạng con, tức là một sự kết hợp các bit 0 và 1 kiểu như sau:
11111111 11111111 11111111 00000000
Hai máy có cùng địa chỉ mạng và mặt nạ mạng thì thuộc cùng một mạng Chú ý ràng các mạng thuộc lớp A, B hoặc C người ta thường có nhu cầu chia các mạng này thành nhiều mạng con, mặt nạ mạng xác định các máy tính nằm trong mạng lớn có thuộc cùng mạng con hay không
2.3 Giao thức phân giải địa chỉ: giao thức ARP, giao thức RARP
a) ARP (Address Resolution Protocol)
Trên các mạng TCP/IP, giao thức ARP được dùng để tìm một địa chỉ MAC tương ứng với một địa chỉ IP Giao thức này sử dụng phương pháp quảng bá, ý tưởng cơ bản của nó là khi cần tìm ông X trong 100 người thì ta chỉ việc gọi to tên ông ta lên và ông X sẽ trả lời nếu ông có ở đó
Khi ARP muốn tìm một địa chỉ MAC tương ứng với địa chỉ IP, nó sử dụng một gói tin ARP và quảng bá gói tin đó tới các máy tính khác trên mạng Trên gói tin này có chứa địa chỉ IP cần chuyển đổi Các máy khác sẽ
so sánh địa chỉ này với địa chỉ IP của chúng, nếu trùng nhau nó sẽ gửi địa chỉ MAC của nó trở lại cho trạm có yêu cầu
Trang 15b) RARP (Reverse Address Resolution Protocol)
Trong một số trường hợp người ta cần tìm ánh xạ ngược: tìm một địa chỉ IP tương ứng với một địa chỉ MAC Chẳng hạn trong trường hợp khởi động máy tính qua mạng (network boot) Máy tính cần khởi động chỉ có thông tin về MAC, nó sẽ gửi các gói tin quảng bá và một boot server sẽ tìm địa chỉ IP tương ứng cho nó Giao thức này gọi là RARP Cùng với giao thức BOOTP, RAPP được sử dụng rộng rãi trong việc khởi động một máy tính không có ổ cứng qua mạng
Máy chủ DHCP tự động cho người dùng thuê địa chỉ IP khi họ vào mạng Bạn chỉ cần đặc tả phạm vi các địa chỉ có thể cho thuê tại máy chủ DHCP Bạn sẽ không bị ai quấy rầy về nhu cầu biết địa chỉ IP
DHCP tự động quản lý các địa chỉ IP và loại b được các lỗi có thể làm mất liên lạc Nó tự động gán lại các địa chỉ chưa được sử dụng
DHCP cho thuê địa chỉ trong một khoảng thời gian, có nghĩa là những địa chỉ nầy sẽ còn dùng được cho các hệ thống khác Bạn hiếm khi biết hết địa chỉ
Trang 16DHCP tự động gán địa chỉ IP thích hợp với mạng con chứa máy trạm này Cũng vậy, DHCP tự động gán địa chỉ cho người dùng di động tại mạng con họ kết nối
b) Cơ chế hoạt động
Bước 1: Máy trạm khởi động với “địa chỉ IP rỗng” cho ph p liên lạc với máy chủ DHCP bằng giao thức TCP/IP Nó chuẩn bị một thông điệp chứa địa chỉ MAC (ví dụ địa chỉ của card Ethernet) và tên máy tính Thông điệp nầy có thể chứa địa chỉ IP trước đây đã thuê Máy trạm phát tán liên tục thông điệp nầy lên mạng cho đến khi nhận được phản hồi từ máy chủ
Bước 2: Mọi máy chủ DHCP có thể nhận thông điệp và chuẩn bị địa chỉ IP cho máy trạm Nếu máy chủ có cấu hình hợp lệ cho máy trạm, nó chuẩn bị thông điệp “chào hàng” chứa địa chỉ MAC của khách, địa chỉ IP
“chào hàng”, mặt nạ mạng con (subnet mask), địa chỉ IP của máy chủ và thời gian cho thuê Địa chỉ “chào hàng” được đánh dấu là “reserve” (để dành) Máy chủ DHCP phát tán thông điệp chào hàng này lên mạng
Bước 3: Khi khách nhận thông điệp chào hàng và chấp nhận một trong các địa chỉ IP, máy trạm phát tán thông điệp nầy để khẳng định nó đã chấp nhận địa chỉ IP và từ máy chủ DHCP nào
Bước 4: Cuối cùng, máy chủ DHCP khẳng định toàn bộ sự việc với máy trạm
3.2 Các lựa chọn DHCP
DHCP không bổ sung thêm các vùng cố định vào định dạng thông điệp BOOTP, cũng không thay đổi ý nghĩa của hầu hết các vùng Ví dụ, vùng OP trong thông điệp DHCP chứa cùng giá trị như vùng OP trong thông
Trang 17điệp BOOTP, chúng hoặc là yêu cầu boot (1) hoặc là đáp lời boot (2) Để
mã hoá thông tin như là thời hạn thuê mượn, DHCP sử dụng options
Vùng tuỳ chọn có cùng định dạng như VENDOR SPECIFIC AREA,
và DHCP chấp nhận tất cả các thông tin theo đặc trưng của nhà sản xuất như
đã được định nghĩa cho BOOTP Cũng như trong BOOTP, mỗi chọn lựa bao gồm một vùng mã 1-octet và một vùng độ dài 1-octet, tiếp theo sau là các octet dữ liệu của chọn lựa này Như chúng ta thấy trong hình, chọn lựa được
sử dụng để xác định kiểu thông điệp DHCP bao gồm dùng ba octet Octet đầu tiên chứa mã 53, octet thứ hai chứa độ dài là 1, và octet thứ ba chứa một giá trị được dùng để định danh một trong các thông điệp DHCP
Việc định danh bằng tên cũng có những vấn đề của nó: tên phải là duy nhất và cần phải có cách để chuyển đổi tương ứng giữa các tên và các địa chỉ số Đối với một liên mạng tầm cỡ toàn cầu với hàng chục triệu người dùng như Internet đòi h i phải có một hệ thống đặt tên trực tuyến và phân tán thích hợp Hệ thống này được gọi là DNS( Domain Name System)
Trang 184.2 Hệ thống tên miền
DNS là một phương pháp quản lý các tên bằng cách giao trách nhiệm phân cấp cho các nhóm tên Mối cấp trong một hệ thống được gọi là một miền (domain), các miền được tách nhau bởi dấu chấm
Domain có dạng tổng quát là local-part @ domain name , trong đó local-part thường là tên của người sử dụng hay nhóm người sử dụng do người quản lý mạng nội bộ quy định, còn domain name được gán bởi các trung tâm thông tin mạng các cấp Domain cấp cao nhất là cấp quốc gia, mỗi quốc gia được gán bởi một tên miền riêng gồm 2 chữ cái (VD vn, us, uk ) Trong mỗi quốc gia lại chia thành 6 domain cao nhất và tiếp tục đi xuống các cấp thấp hơn
6 domain cao nhất của DNS
MIL US military organizations
4.3 Phân giải tên (ánh xạ địa chỉ)
Việc ánh xạ giữa các địa chỉ IP và các tên miền được thực hiện bởi 2 thực thể có tên là Name Resolver và Name Server Name Resolver được cài đặt trên trạm là việc (workstation), còn Name Server được cài đặt trên một máy chủ (server) Người sử dụng từ trạm làm việc gọi chương trình Name
Trang 19Resolver để gửi yêu cầu ánh xạ địa chỉ host name to IP address tới Name Server Nếu host name được tìm thấy thì Name Server sẽ gửi địa chỉ IP tương ứng về trạm l việc Sau đó trạm làm việc sẽ thử liên kết với host bằng cách dùng địa chỉ IP chứ không dùng tên nữa
Trang 20BÀI 2 ĐỊNH TUYẾN TRONG TCP/IP
1.2 Định tuyến như thế nào
Các gói dữ liệu được truyền từ một hệ thống này sang một hệ thống khác phải được định tuyến qua một dãy các nút Mỗi nút nhận gói dữ liệu từ một đường vào rồi chuyển tiếp nó tới một đường ra hướng đến đích của dữ liệu
Hoạt động định tuyến :
Khi một trạm muốn trao đổi thông tin với một trạm khác, IP sẽ xác định trạm này là trạm nằm ở trên mạng cục bộ hay là nằm ở mạng ngoài
Nếu trạm đích nằm ở mạng ngoài, IP sẽ kiểm tra bảng định tuyến
để tìm một tuyến tới trạm ở mạng ngoài hay một mạng ngoài
Nếu không tìm thấy một tuyến nào IP sẽ sử dụng một địa chỉ cổng gateway mặc định để chuyển gói tin đến một bộ định tuyến
Trang 21Ở bộ định tuyến, bảng định tuyến được truy vấn để tìm đường đến mạng ở bên ngoài Nếu không tìm thấy đường, gói tin sẽ được gửi đến một địa chỉ cổng mặc định của bộ định tuyến
Khi tìm thấy một tuyến, gói tin sẽ được gửi đến bộ định tuyến kế tiếp, được gọi là một ”hop” và cuối cùng sẽ được phân phát đến trạm đích Nếu không tìm thấy một tuyến nào cả thì một bản tin báo lỗi sẽ được gửi tới trạm gửi gói tin
Một quyết định routing phải thực hiện hai chức năng sau:
Quyết định chọn đường theo tiêu chuẩn tối ưu nào
Cập nhật thông tin chọn đường, tức là thông tin dùng cho chức năng trên
Có rất nhiều kỹ thuật chọn đường khác nhau Sự phân biệt giữa chúng chủ yếu căn cứ vào các yếu tố liên quan đến 2 chức năng trên Các yếu tố là:
Sự phân tấn của các chức năng chọn đường trên các nút của mạng
Sự thích nghi với trạng thái hiện hành của mạng
Các tiêu chuẩn tối ưu để chọn đường
1.3 Địa chỉ IP của router cục bộ
Địa chỉ IP được chia làm 2 phần là địa chỉ mạng và địa chỉ máy Điều này cho ph p chia các mạng IP thành các mạng con Theo mặc định thì mạng con được đặc trưng bởi phần địa chỉ mạng trong địa chỉ IP Do vậy các máy trạm trong một mạng con sẽ có chung một địa chỉ mạng và ngược lại các máy trạm có cùng địa chỉ mạng sẽ nằm trên cùng một mạng con
Trang 22Mỗi mạng con chịu trách nhiệm cho việc chọn đường cho các gói tin
IP trong mạng của mình, các gói tin này được nhận ra nhờ phần địa chỉ mạng của nó Các router cục bộ sẽ có cùng một địa chỉ mạng trong địa chỉ IP của nó giống địa chỉ mạng cục bộ
2.1 Bảng định tuyến
Bảng định tuyến (chỉ đường) bao gồm địa chỉ mạng, số cổng, chi phí
lộ trình, và địa chỉ của hop (bước) kế tiếp
Các bộ định tuyến lưu trữ thông tin trên bảng và kiểm tra bảng nhằm xác định đường đi tối ưu trên mạng cho các gói Nếu mạng bị tắc nghẽn hay nối kết thất bại, các tuyến thay thế khác có thể được tìm thấy trên bảng
2.2 Lập bảng định tuyến
Bạn có thể thêm các thông tin và bảng định tuyến bằng cách sử dụng lệnh route Lệnh route print được sử dụng để xem đầu vào mặc định trong một bảng định tuyến Đầu vào tĩnh nên được thêm vào bảng định tuyến của
bộ định tuyến tĩnh cho tất cả các mạng không có một giao diện đã được cấu hình Một đầu vào tĩnh bao gồm:
Địa chỉ mạng ID mạng hoặc tên mạng của mạng đích Nếu tên mạng được sử dụng thì nó sẽ được tìm ở trong file Networks
Mặt nạ mạng: một mặt nạ mạng cho địa chỉ mạng
Địa chỉ cổng: Địa chỉ IP hoặc tên trạm của giao diện đến mạng đích nếu tên trạm được sử dụng cho cổng, thì nó sẽ được tìm trong file Hosts
Trang 233 CÁC GIAO THỨC ĐỊNH TUYẾN IP - IP ROUTING PROTOCOL
3.1 Tại sao cần có các giao thức định tuyến
Một liên mạng như mạng intranet dựa trên TCP/IP hay Internet bao gồm rất nhiều bộ định tuyến và các kết nối giữa các bộ định tuyến này Mạng này bắt buộc phải có lược đồ cấu trúc để các bộ định tuyến xác định hoạt động với các gói sẽ được truyền đến các mạng và các máy khác Bộ định tuyến sử dụng các giao thức và thuật toán định tuyến tự động lập lược
đồ cấu trúc mạng và chia x thông tin đó với bộ định tuyến khác
3.2 Phân lớp các giao thức định tuyến
Có hai loại giao thức định tuyến :
Giao thức định tuyến cung cấp cấu hình định tuyến động (dynamic routing configuration) có sự trao đổi thông tin định tuyến trong mạng
Giao thức định tuyến tĩnh (static routing) khi không có các giao thức định tuyến, nhà quản trị mạng phải tự cấu hình bảng định tuyến trong mỗi bộ định tuyến đó gọi là định tuyến tĩnh
3.3 Distance-vector routing
Các giao thức định tuyến distance-vector xác định các tuyến dựa trên
số lượng các hop (bước nhảy) hoặc các chi phí được tính trước tới một đích đến Thông tin nầy được cung cấp bởi các bộ định tuyến gần nhất Kỹ thuật nầy chủ yếu dựa trên thuật toán Bellman-Ford
Trang 24Các thông tin định tuyến được trao đổi giữa các bộ định tuyến khoảng
30 giây một lần Với thông tin trên nầy, các bộ định tuyến tạo lại bảng định tuyến bằng cách thêm vào các lộ trình mới hoặc xoá các lộ trình cũ Tuy nhiên thuật toán định tuyến distance-vector không thích hợp cho các mạng lớn có hàng trăm bộ định tuyến hay mạng thường xuyên được cập nhật Trên các mạng lớn, quá trình cập nhật bộ định tuyến mất nhiều thời gian làm cho bảng của bộ định tuyến ở xa nhất không đồng bộ với các bảng khác Giao thức định tuyến “link state” (tình trạng nối kết) thích hợp hơn trong trường hợp nầy, được đề cập trong phần “Link State Routing Protocols”
3.4 Link state protocol
Định tuyến Link State đòi h i quá trình xử lý nhiều hơn so với kỹ thuật Distance-Vector nhưng kiểm soát hầu hết quá trình định tuyến và đáp ứng nhanh với những thay đổi Các lộ trình có thể dựa trên việc tránh những vùng tắc nghẽn, vận tốc của đường truyền, chi phí sử dụng đường truyền, hay các mức độ ưu tiên khác Thuật toán Dijkstra được dùng tính toán các lộ trình dựa trên các bước sau:
Số lượng các bộ định tuyến một gói phải đi qua để đến đích Con
số này gọi là hop, và số hop càng nh càng tốt
Tốc độ của các dòng truyền tải giữa các mạng LAN Vài đường truyền dùng các nối kết không đồng bộ có tốc độ chậm, trong khi các đường truyền khác nối kết kĩ thuật số có tốc độ cao
Chậm tr gây ra bởi tắc nghẽn lưu thông Nếu một máy đang truyền tải một tập tin lớn, bộ định tuyến phải truyền gói qua tuyến khác để tránh tắc nghẽn