Ta biết rằng mọi phương trình của các hàm sóng đều có thể suy ra từ một nguyên lý biến thiên.. Muốn cho lời giải của hệ này tồn tại, các hệ sốphải thỏa mãn điều kiện Giải phương trình 1.
Trang 1LÝ THUYẾT CHẤT RẮN VÀ
BÁN DẪN
GVHD: PGS TS TRƯƠNG MINH ĐỨCNhóm HV: TRƯƠNG HỮU SINH
PHẠM TÙNG LÂMLớp VLLT_VLT K21
Trang 2Phương trình Schrodinger trong phép gần đúng một điện
tử
Các hàm riêng thỏa mãn điều kiện Bloch
Trang 31 Phương pháp biến thiên
Trong phương pháp này ta xuất phát từ một phương trình tích phân tương đương với phương trình Schrodinger (1.1)
Để viết phương trình này ta đưa vào hàm Green thỏa
mãn phương trình
Với điều kiện Bloch
Trang 5Ta biết rằng mọi phương trình của các hàm sóng đều
có thể suy ra từ một nguyên lý biến thiên Đặc biệt là
phương trình tích phân (1.5) có thể thu được từ nguyên lý
biến thiên
Với
Trang 6Trong biểu thức I ta coi và là hai đại lượng có thể biến đổi một cách độc lập với nhau
k
*
k
Đại lượng là biến thiên của tích phân khi hàm
hay biến thiên một lượng vô cùng bé tùy ý
Giả sử là một hệ hàm đã biết thỏa mãn điều kiện
Bloch (1.2) Ta khai triển hàm sóng phải tìm theo hệ hàm
Trang 8Nếu ta làm biến thiên một lượng thì
cũng chịu một biến thiên tương ứng:
Trang 9Muốn cho lời giải của hệ này tồn tại, các hệ số
phải thỏa mãn điều kiện
Giải phương trình (1.12) chúng ta tìm được
và từ phương trình Schrodinger ta giải ra được năng
Để có thể áp dụng phương trình vừa trình bày ta phải
biết biểu thức của hàm Green
Trang 10Chúng ta nhắc lại rằng hàm Green thỏa mãn phương
Trang 11Thực vậy, ta tác dụng lên cả hai vế phương trình (1.16)
bởi toán tử rồi dùng phương trình (1.15) và điều
kiện đủ của hệ hàm riêng
Trang 12Trong trường hợp hàm Green trong biểu thức (1.3)
Các hàm riêng bây giờ là các sóng phẳng chuẩn
hóa trong thể tích của tinh thể
Trang 14Khi áp dụng phương pháp biến thiên có thể phối hợp nó
với phương pháp ô và giả thiết rằng thế năng đối
xứng hình cầu Ngoài ra, thế năng này không đổi ở bên
ngoài hình cầu bán kính nào đó nằm trong ô đối xứng
Khi giả thiết rằng ở bên ngoài hình cầu bán
kính ta có thể biến đổi phương trình (1.5) của
cũng như biểu thức thế nào đó để chúng không chứa
V tường minh, nhưng lại chứa tích phân theo mặt cầu S
Trang 15Vì hàm Green có điểm bất thường cho nên khi
biến đổi các công thức chúng ta cần phải thận trọng
r r
Đầu tiên ta xét hình cầu bán kính r0
Cho rồi sau đó sẽ dần tới giới hạn
Trang 16Dùng công thức Ostrogradski – Gauss, ta có thể viết
lại tích phân trong vế phải như sau
Trang 17Từ phương trình (1.3) đối với hàm Green ta thấy
rằng tích phân thứ nhất trong vế phải của phương trình
Trang 19Dùng công thức
Tích phân theo trong vế phải công thức trên lại có
thể xem là giới hạn của tích phân theo thể tích của
chứng minh giống như công thức (1.21), ta thu được biểu
thức cuối cùng sau đây của
r0 2
I
Trang 201lim
Và dùng biểu thức của hàm Green dưới dạng
khai triển theo các hàm cầu
G r r
Trang 21Nhận xét:
Phương pháp biến thiên là chúng ta khai triển hàm
sóng theo một hệ hàm đã biết nào đó rồi biến đổi phương
trình Schrodinger về một dạng thích hợp, cụ thể là biến
đổi phương trình tích phân (1.5) Giải phương trình này
ta sẽ thu được làn sóng electron trong tinh thể
Mặt khác mọi phương trình của các hàm sóng đều có
thể suy ra từ một nguyên lý biến thiên do đó giải phương
trình (1.13) ta sẽ tìm ra được các yếu tố ma trận đồng
thời ta cũng sẽ tìm được năng lượng
ij k
I
E k
Trang 222 Phương pháp gần đúng điện tử liên kết mạnh.
Phương pháp gần đúng điện tử liên kết mạnh được áp dụng trong trường hợp thế năng của
trường tuần hoàn của mạng tinh thể là không bé Vì
thế ta không thể xem thế năng tuần hoàn này như
Trang 23là lớn, không thể xem là một nhiễu loạn Do đó,
hàm sóng ban đầu không phải là hàm sóng của điện
tử tự do mà hàm sóng ban đầu được chọn là hàm
sóng của điện tử nằm trong nguyên tử riêng biệt ,cô
lập và gọi là hàm sóng nguyên tử thỏa mãn
Trang 24Khi các nguyên tử tiến lại gần nhau, liên kết tạo thành mạng tinh thể thì thế năng do các nguyên
tử còn lại tác động lên điện tử trong một nguyên tử
ở nút mạng ta xét là yếu, được xem như là một
nhiễu loạn Do đó ta áp dụng lý thuyết nhiễu loạn để
Trang 25nguyên tử ở tọa độ là Vì mạng
tinh thể có N nguyên tử và các nút mạng là tương
đương nhau nên trạng thái điện tử trong nguyên tử
có thể suy biến N lần, do đó trong gần đúng bậc 0,
Trang 26Vì hàm sóng của điện tử trong tinh thể phải có dạng Bloch nên ta chọn
Hàm sóng của điện tử trong tinh thể thỏa mãn tính chất tuần hoàn
1 ik R j n
Trang 27Năng lượng của điện tử trong gần đúng bậc nhất được viết dưới dạng:
Thay các giá trị của toán tử nhiễu loạn và của hàm
sóng điện tử từ (2.6), (2.9) vào (2.10) ta được: W
( )
k r
Trang 29a) Xét trường hợp n=0 thì ta xác định được năng lượng
Do không có sự chồng phủ hàm sóng của điện tử mà ta
xét với các điện tử khác lên nhau
Trang 30- Với n bé tương ứng với các nguyên tử lân cận ta có:
Trang 313 Phương pháp LCAO
LCAO = Lincar Combimation of Atomic Orbitals ( là tổ
hợp tuyến tính các quỹ đạo nguyên tử)
Kết quả tính E trong phương pháp liên kết mạnh chỉ đúng cho trường hợp mức năng lượng của nguyên
tử không suy biến, tức là chỉ có một hàm sóng tương ứng với một giá trị
Trang 32a) Khi các điện tử trong nguyên tử không phải là s
điện tử
- Nếu không tính đến spin thì hàm sóng của điện tử
trong nguyên tử được đặc trưng bởi ba số lượng tử
Điều này xảy ra trong hai trường hợp:
Trang 33- Nếu xét các p- điện tử khi đó l=1 làm cho m=-1,0,1
và như vậy có 3 hàm sóng cùng tương ứng với một
năng lượng (vì gần đúng bậc một chỉ phụ thuộc vào n)
đó là:
- Nếu xét các điện tử có l>1 thì số hàm sóng tương
ứng với một giá trị năng lượng còn nhiều hơn nữa.En(0)
b) Trong một số tinh thể các mức năng lượng nguyên
tử không phải tách biệt nhau mà chồng lấn lên nhau
(thí dụ có sự chồng lấn giữa vùng năng lượng s và
vùng năng lượng p) Khi đó hàm sóng mô tả điện tử
trong trạng thái s và trạng thái p đều có thể cùng
tương ứng với một giá trị năng lượng
Trang 344 Hàm Wannier
Như chúng ta đã chú ý ở trên, các hàm sóng mà ta
dùng trong phương pháp liên kết mạnh không phải là lời
giải chính xác của phương trình Schrodinger Chúng là tổ
hợp bậc nhất của các hàm sóng , là hàm sóng của
điện tử trong mỗi ô riêng biệt khi tách rời hẳn khỏi các ô
khác Ta sẽ gọi là các hàm sóng nguyên tử Thay
cho các hàm sóng nguyên tử này chúng ta sẽ tìm các
Trang 35Chú ý rằng các hàm sóng nguyên tử ứng với hai ô khác
nhau không trực giao với nhau
Điều đó sẽ dẫn tới khó khăn khi tính toán Các hàm
Wannier không có nhược điểm này
Giả sử là lời giải chính xác của phương trình
Schrodinger với vectơ sóng Chỉ số gián đoạn j đặc
trưng cho các trạng thái khác nhau với cùng một vectơ
sóng Ta chuẩn hóa hàm này như sau
Trang 36Theo định nghĩa, hàm Wannier tương ứng với ô chứa
Trong đó N là số ô Wigner-Seitz trong tinh thể có thể
tích , còn dấu tổng ký hiệu phép cộng theo các giá trị
của trong vùng Brillouin
Trang 37Với là hàm tuần hoàn, ta có:u jk
Trước hết ta thử lại rằng các hàm Wannier trực giao
chuẩn hóa như sau
Trang 39Thế (4.6) vào (4.5) ta có được biểu thức (4.4)
Để biểu diễn hàm sóng qua các hàm Wannier ta
nhân cả hai vế của công thức (4.2) với rồi cộng
theo tất cả các giá trị của vectơ
Trang 41Rõ ràng công thức (4.8) giống hệt như biểu thức (2.9)
của qua các hàm sóng nguyên tử Hàm Wannier
chính là sự mở rộng của hàm sóng nguyên tử Chúng
trực giao chuẩn hóa, và các tổ hợp bậc nhất (4.8) của
chúng là lời giải chính xác của phương trình Schrodinger
Trang 42e E k a r R N
Trang 43Ta có thể viết tác dụng của toán tử lên
Từ công thức này và tính chất trực giao chuẩn hóa
của các hàm Wannier ta thu được ngay các yếu tố ma
Trang 44Cuối cùng ta chú ý rằng từ các yếu tố ma trận này thì
ta có thể tìm được năng lượng từ công thức đảo
Trang 45Nhận xét
Hàm Wannier thực ra là hệ số khai triển Fourier của
hàm Bloch trong không gian đảo Nhưng như vậy cũng
có thể nói rằng hàm Bloch là hệ số khai triển Fourier của
hàm Wannier trong không gian thuận Từ đây ta thấy
rằng hàm Bloch và hàm Wannier là hai hàm có giá trị
hoàn toàn tương đương như nhau, tùy vào từng trường
hợp cụ thể mà dùng hàm nào cho thích hợp
Trang 46Hàm Wannier và hàm sóng nguyên tử khác nhau ở
những điểm sau:
- Đối với bất kì vùng năng lượng nào (dù vùng hóa trị
hay các vùng tương ứng với các mức nằm sâu bên
trong nguyên tử) bao giờ cũng tồn tại các hàm
gọi là hàm Wannier để có thể biểu diễn các hàm sóng
của điện tử thuộc các vùng năng lượng khác nhau có
Trang 47Điều này chứng tỏ rằng các hàm Wannier là khác
hẳn và có ứng dụng rộng lớn hơn rất nhiều so với hàm
sóng nguyên tử vì các hàm sóng nguyên tử trong gần
đúng liên kết chặt chỉ có thể áp dụng cho các vùng năng
lượng tương ứng với các mức nằm sâu bên trong
Trang 48KẾT LUẬN
Tất cả các kết quả thu được trong chương này đều dựa trên cơ sở gần đúng một điện tử Như ta đã thấy, gần đúng một điện tử đã cho ta nhiều kết quả rất có giá trị về phổ năng lượng của điện tử dù sao cũng chỉ là một phép gần đúng đơn giản, do đó nó không thể không có hạn chế
Gần đúng một điện tử là phương pháp tính một cách trung bình tác động của tất cả các hạt nhân và điện tử khác của tinh thể lên điện tử đang xét thông qua một thế năng có tính chất tuần hoàn V r R V r
Trang 49Như vậy, trong gần đúng này mỗi một điện tử được
coi là một hạt hoàn toàn độc lập chuyển động trong một
trường thế cho trước và ta bỏ qua tương tác giữa các
điện tử với nhau
Do không tính đến tương tác giữa các điện tử, gần
đúng một điện tử có thể dùng tốt cho bán dẫn hoặc điện
môi, vì ở đó có ít điện tử, nhưng sai số sẽ lớn đối với
kim loại vì trong kim loại khó có thể bỏ qua tương tác
giữa các điện tử dẫn