Sử dụng mục lục đọc nhanh bên phải màn hình để đọc ngay chương, mục phù hợp ( nháy chuột vào tên chương, mục muốn đọc)
Trang 1dé doe ngay hương, Mue phi hop (uhdy chuét oào tên
& Su dung cae phim DageUp, PageDown,
inter, phim mai tén trén ban phim hode các biểu tuong
mii tén trén thanh: công cụ để lật trang:
Trang 2CƠ SỞ KHOA HỌC ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP
ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM TRONG BỔI CẢNH HỘI NHAP KINH TE QUOC TẾ
Co quan chủ trì: — Vụ CSTM Ðd biên —- Bộ Thương mgi
2;p$- 19- 2ÿ (cô
HÀ NỘI, 11/2002
4669 46/2/63
Trang 3Đà
Faa5
Trang 4CHUONG I: CƠ SG LY LUAN CUA TRG CAP VA THUE CHONG TRG CAP
2.2 Trợ cấp nông nghiệp và phi nông nghiệp
2.3 Trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu
2.4 Trợ cấp bị cấm, trợ cấp có thể dẫn tới hành động và trợ cấp không dẫn tới hành
2.5 Trợ cấp trực tiếp và trợ cấp gián tiếp 8-
1.1 Tác động đối với nước tiến hành trợ cấp trong nước
1.2 Tac dong đối với nước xuất khẩu sang nước tiến hành trợ cấp
2 TRỢ CẤP XUẤT KHẨU ` `
2.1 Tác động đối với nước tiến hành trợ cấp xuất khẩu
2.2 Tác động đối với nước nhập khẩu hàng được nước khác trợ cấp xuất khẩu
2.3 Tác động đối với nước thứ ba
CƠ SỞ ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP
KHÁI NIỆM VỀ THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ĐÁNH THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP
Tác động chia theo giai đoạn -
Tac động như một công cụ chính sách thương mại
HIỆU QUÁ CỦA VIỆC ĐÁNH THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP
TINH CAP THIET CỦA VIỆC ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP
GIA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
5 TIỀN ĐỂ ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG TRG CAP
5.1, Khung khổ pháp lý điều chỉnh trực tiếp và hỗ trợ
'WTOSMvNA_wto workVictai sem\bao ve cap bo dc tại scmMinal duftL.doc
ĐIỀU KIỆN VÀ THỦ TỤC ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP THEO QUY ĐỊNH
DIEU KIEN AP DUNG THUE CHONG TRO CAP THEO QUY DINH CUA WTO 30
1 Bằng chứng đầy đủ về hành vi trợ cấp của nước : ngoài M1 “ 2 Bằng chứng đây đủ về thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước
3 Bằng chứng về quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được trợ cấp và thiệt hại 41
THU TUC DIEU TRA VA AP DUNG THUE CHONG TRG CAP THEO QUY BINH
e0 77a = 44
2.1 Nộp hồ sơ
2.2 Quá trình điều tra
2.3 Nguyên tac dp dụng Và rà soát thuế chống trợ Cấp tee
THUC TIEN AP DUNG THUE CHONG TRG CẤP CỦA MỘT SỐ NƯỚC 51
Trang 51 XU HUONG AP DUNG THUG CHONG TRG CAP TREN THẾ GIỚI THỜI
3 KINHNGHIỆM CỦAEU 63 3.1 Khái quát c.e.e 63 3.2 Diéu kién Ap dung thu€ chéng trợ cấp
3.3 Trình tụ và thủ tục áp dụng thuế chống trợ cấp
3.4 Các quy định khác
3.5 Thực tiễn á ấp dụng của EU
4 KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC
5.4 Nhận xét chung về việc áp dụng thuế chống trợ cấp ở các nước ASEAN 86
CHƯƠNG II: CÁC KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP LIÊN QUAN TỚI VIỆC
ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP TẠI VIỆT NAM
I SUCAN THIET AP DUNG CÁC CÔNG CỤ BẢO HỘ MỚI
TỔ CHÚC BỘ MÁY Tl TỤC THI THUE CHONG TRO CẤP
3 XAY DUNG HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT ĐỒNG BỘ CHO VIỆC ÁP
PHU LUC I: CAC MAT HANG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM ĐƯỢC TRỢ CAP
PHỤ LỤC H: CÁC MẶT HÀNG NHẬP KHẨU VÀO VIỆT NAM CÓ THỂ ĐƯỢC
WTOSVA,_Wlo woikMIGlai senNbao ve cap be de tai seminal dưaf1L dọc ñ
Trang 6PHU LUC IM: TOM TAT HIỆP ĐỊNH VỀ TRỢ CẤP vA CAC BIEN PHAP DOL
PHU LUC V: CÁCH TÍNH GIÁ TRI TRG CAP VA ` THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP
Trang 7DANH MỤC CÁC BẰNG BIỂU.VÀ HỘP MINH HỌA
Bảng 1: Các biện pháp trợ cấp
Hộp 2: Ví dụ minh họa về tác động của trợ cấp xuất
Hình 1: Mô hình kinh tế về trợ cấp xuất khẩu “
Hộp 3: Tác động kinh tế của trợ cấp xuất khẩẨu - se sscse se sssneeee me neersre 17
Hình 2: Tác động của việc đánh thuế chống trợ cấp đổi với giá và lượng nhập khẩu 22 Hình 3: Hai nước X và Y sử dụng công cụ trợ cấp trong cạnh tranh quốc tế
Hộp 4: Danh mục mình hoa o 5< <<ccsscssseeceerxecee
các biện pháp trợ cấp xuất khẩu của Hiệp định SCM
Hình 4: Sơ đồ quá trình điều tra và áp dụng thuế chống trợ cấp
Hình 6: Điều tra và đánh thuế chống trợ cấp theo nước đánh thuế và nước bị đánh
Hình 9: Mô hình trợ cấp sẵn xuất eec.e
Hình 10: Mô hình Trợ cấp xuất khẩu «
WTOSc\_wio work\detui sem\bao ve cup be de tai seminal drafi.doc iv
Trang 8DANH MUC VIET TAT
Thuế chống trợ cấp (thuế đối kháng)
Bộ Thương mại Hoa kỳ
Uy ban chau Au Liên minh châu Âu
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại Quỹ Tiền tệ quốc tế
Uỷ ban Thương mại quốc tế của Hoa kỳ
Bộ Ngoại Thương và Hợp tác kinh tế Trung quốc
'Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế
Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO
Uỷ bạn Kính tế và Thương mại Nhà nước Trung quốc Ngân hàng Thế giới
"Tổ chức Thương mại Thế giới
WTOS\c\_wte work\telui seuNbao ve cup bu de bài seuMinal draftdoc
Trang 10CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRỢ CẤP VÀ THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP
Trợ cấp là một công cụ chính sách được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở hầu hết các nước nhằm đạt các mục tiêu của chính phủ về kinh tế ~ xã hội — chính trị, v.v Tuy vậy, việc đi đến một khái niệm tương đối chính xác và thống nhất về “trợ cấp”
là một chủ để gây tranh cãi không chỉ giữa các quốc gia mà còn giữa các học giả
Một vấn đẻ nữa cũng gây tranh cãi không kém là làm thế nào để phân biệt giữa các
hình thức trợ cấp chấp nhận được với các trợ cấp gây bóp méo thương mại, hay trả lời cho câu hỏi “Những trợ cấp nào không được chấp nhận trong thương mại quốc té?”,
Tuỳ theo mục đích mà định nghĩa trợ cấp có thể rộng hoặc hẹp Chẳng hạn,
định nghĩa rất hẹp về trợ cấp có thể chỉ bao gồm mỗi biện pháp cấp tiền trực tiếp cho một ngành hoặc một số doanh nghiệp cụ thể Nhược điểm của định nghĩa này là bỏ
qua nhiều biện pháp trợ cấp khác có ảnh hưởng về mặt kinh tế tương đương với biện
pháp cấp tiền trực tiếp này, do đó có thể gây khó khăn hoặc nhâm lẫn trong việc so
sánh mức trợ cấp giữa các nước khác nhau
Tuy nhiên, định nghĩa rộng hơn về trợ cấp lại cũng có những điểm yếu riêng như bao trùm cả ảnh hưởng do các hoạt động của chính phủ vào phạm vi định nghĩa, dẫn tới việc đánh đồng nhiều hoạt động bình thường của chính phủ cũng mang tính
chất của một biện pháp trợ cấp Ví dụ như bảo hiểm thất nghiệp có thể bị coi là trợ
cấp gián tiếp cho một số ngành nghề nhất định mang tính thời vụ hoặc chu kỳ Hay chỉ phí của chính phủ cho các hàng hóa công cộng như tư pháp, an ninh, giáo dục, đường sá, quốc phòng, v.v cũng có thể bị viện là trợ cấp
Theo định nghĩa của Từ điển Oxford đành cho giới kinh doanh (Nhà xuất bản
Đại học Oxford 1994), “trợ cấp là khoản tiền do nhà nước cấp cho các nhà sản xuất
một số hàng hóa nhất định để giúp họ có thể bán các hàng hóa đó cho dân chúng với
giá thấp, để cạnh tranh với các nhà sản xuất nước ngoài, để tránh hàng tồn đọng thừa
ế và tránh tạo ra thất nghiệp, v.v Nhìn chung, trợ cấp gây bóp méo thương mại
quốc tế và không phổ biến nhưng đôi khi vẫn được các chính phủ sử dụng để giúp
tạo dựng một ngành sản xuất mới trong nước” Từ điển Bách khoa toàn thư
Columbia! lại định nghĩa rằng “trợ cấp là sự hỗ trợ tài chính mà một chính phủ
dành cho một người hoặc một hiệp hội với mục đích thúc đẩy một doanh nghiệp được cho là có lợi cho phúc lợi công cộng Trợ cấp có thể nhằm giữ cho giá ở mức
thấp, để duy trì thu nhập hoặc công ăn việc làm” Còn Từ điển Ngôn ngữ tiếng Anh
American Heritage? đưa ra hai định nghĩa cho thuật ngữ “trợ cấp” (subsidy) là: @)
hỗ trợ dưới đạng tiền do một chính phủ đành cho một người hoặc một nhóm để hỗ
1 Từ điển Bách khoa toàa thư Columbia, ấn bản lần thứ sáu, 2001 của Nhà sách trudng dai hoc Columbia
? Từ điển Ngôn ngữ tiếng Anh American Heritage, an bin Min thứ tư, 2000 cia Nha xudt ban Houghton
Mifflin
WTOS¢_wio work\dletai sem\bav ve cap bo de tai sem\inal drafl.doc
Trang 111-trợ một doanh nghiệp được coi là đang phục vụ lợi ích công cộng; và (ii) hỗ 1-trợ tài chính do một người hoặc một chính phủ dành cho một đối tượng khác
Định nghĩa của các nhà kinh tế về trợ cấp khá đơn giản Chẳng hạn Roger N.Waud trong “Kinh tế học vi mô” tái bản lần thứ ba của Nhà xuất bản Harper & Row, 1986 khi xem xét mối quan hệ giữa trợ cấp với độ co giãn cung cầu đã định nghĩa rằng trợ cấp là “một khoản tiên mà chính phủ trả cho một nhà cung cấp tính
theo mỗi đơn vị hàng hóa được sản xuất" và “trợ cấp thường có tác động làm cho
giá hàng hóa liên quan giảm xuống và lượng cung hàng hóa đó tăng lên; mức độ giảm giá và tăng lượng phụ thuộc vào độ co giấn của đường cung và câu trương ứng”
Cũng có học giả nhìn nhận trợ cấp là “sự can thiệp vào quá trình định giá của thị trường tự do và làm sai lệch các lợi thế so sánh của các đối tượng tham gia thị
trường Trợ cấp tạo ra sự chênh lệch giữa chỉ phí cần thiết để sản xuất hàng hóa với
chỉ phí thực tế mà nhà sản xuất phải bỏ ra Sản phẩm được trợ cấp trở nên rẻ hơn
trong khi các sản phẩm cạnh tranh sẽ đắt hơn một cách giả tạo”3
Đơn giản nhất, trợ cấp là những khoản tiền do chính phủ cấp hoặc miễn không thu Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển của các công cụ chính sách, khái niệm trợ cấp được một số nhà nghiên cứu mở rộng sang bao trùm cả những chính sách làm chuyển của cải từ dối tượng này sang đối tượng khác (transfers) thông qua cơ chế thị trường Để phân tích chính sách can thiệp của chính phủ, một định nghĩa khá rộng được đưa ra như sau: “?rợ cấp bưo gốm tất cả các biện pháp giữ cho giá đối với người tiêu dùng ở dưới mức giá thị trường hoặc giữ cho giá đối với nhà sẵn xuất cao hơn mức giá thị trường hoặc các biện pháp làm giảm chỉ phí đối với người tiêu
dùng và nhà sản xuất bằng cách cung cấp hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp", Định nghĩa này có hai yếu tố quan trọng, đó là phân biệt giữa việc điều chuyển qua ngân
sdch (budgetary transfers) với điều chuyển qua thị trường (market transfers) va phan
biệt giữa trợ cấp cho sản xuất với trợ cấp cho tiêu dùng
Căn cứ vào định nghĩa này, trợ cấp bao gồm các biện pháp như sau:
Bảng 1: Các biện pháp trợ cấp
Trợ cấp từ ngân sách a) _ Trợ cấp trực tiếp như các khoản cấp phát, chuyển tiền cho người
tiêu dùng hoặc nhà sản xuất;
b) tác động của chính sách thuế đến ngân sách như ưu đãi thuế, miễn giảm thuế, khấu trừ hoặc loại một số khoản trong căn cứ
chịu thuế, cho nộp chậm thuế;
Cung cấp hàng hóa Cung cấp cơ sở hạ tầng, dịch vụ bổ trợ, chỉ phí nghiên cứu và phát
và dịch vụ dưới giá triển (R & D) của chính phủ
thành cho người dân
WTOS\A_wio workNletai scaNbao ve cap bo de tai seminal drafLdoe: 2
Trang 12toán, xóa nợ và các hình thức tương tự
Các chính sách điểu |a) Các chính sách định hướng chơ thị trường trong nước như quy
chuyển của cải thông định quản lý giá, kiểm soát chất lượng, chính sách và quy định về qua cơ chế thị trường mua sắm chính phủ, thủ tục đấu thầu hạn chế;
b) Các chính sách định hướng thương mại quốc tế như thuế quan xuất nhập khẩu, hoàn thu xuất khẩu, các hàng rào phi thuế
Nguồn: Nghiên cứu ca OECD va Shelby (1994)*
Có thể nói định nghĩa và minh họa trên đây khá rộng, bao gồm cả những khoản
trợ cấp không được thống kê trong ngân sách chính phủ Ví dụ như trợ cấp chỉ phí
vốn (trừ những khoản cấp phát vốn trực tiếp từ ngân sách) không hề xuất hiện trong bất kỳ khoản mục ngân sách nào của chính phủ, và rất khác với các hình thức chuyển khoản trực tiếp Trợ cấp này chẳng qua xuất phát từ những chính sách làm
giảm chỉ phí vốn hay gánh nặng tài chính đối với đối tượng liên quan Tuy vậy, về
cơ bản, định nghĩa này tương đối trùng với định nghĩa được sử dụng phố biến hiện nay trong hệ thống thương mại thế giới WTO
Theo Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO (Hiệp định SCM), một biện pháp được coi là trợ cấp nếu thỏa mãn đủ hai điều kiện sau:
> là một khoản đóng góp về tài chính” do chính phủ hoặc một tổ chức nhà nước/công (public body) cung cấp; hoặc là một khoản hỗ trợ thu nhập hoặc hỗ trợ giá”; và
> mang lại lợi ích cho đối tượng nhận trợ cấp”
Tài liệu đã dẫn
Đóng góp về tài chính được thể hiện dưới hình thức Chính phủ trực tiếp đứng ra thực hiện hoặc uỷ thác ` hay chỉ đạo một tổ chức tư nhân thực hiện một hoặc một số hoạt động như: Chuyển tiển/vốn trực tiếp (Cấp
phát, cho vay, tham gia góp vốn), Chuyển tiển/vốn gián tiếp (bảo lãnh vay); Miễn hoặc không thu các khoản
đáng lẽ phải thu (miễn giảm thuế); Cung cấp hàng hóa, dịch vụ (trừ cơ sở lạ tầng nói chung); Mua sấm hàng
hóa
1 "Hỗ trợ thu nhập và hỗ trợ giá thường không liên quan tới sự chuyển tiênlvốn từ chính phủ tới nhà sản xuất mà lại là sự chuyển tiền từ người tiên dùng tới nhà sản xuất thông qua việc chính phi duy trì hay ấn định
một nức giá nhất định buộc người tiêu dàng phải trd gid cao hon mute déng ra phdi trả trong một thị trường
tự do nhằm đem lại lợi nhuận cho nhà sẵn xuất Mặc dà có thể không xuất hiện bất kỳ sự đóng góp tài chính trực tiếp nào từ phúa chính phủ trong các chương trình này thì các hỗ trợ thụ nhập và hỗ trợ giá vẫn bị coi là thuộc phạm vì định nghĩa trợ cấp theo điểu Ì của Hiệp định SCM” (trích tài liệu “The new rules of global trade: A guide to the World Trade Organisation” cita Jeffrey S.Thomas & Michael A.Meyer, Carswell
Publisher, 997, trang 156) Chương trình hỗ trợ giá của chính phủ dẫn đến cung vượt cầu (tức dư thừa) tại
mức giá hỗ trợ Để hỗ trợ giá ở mức cao hơn mức giá cân bằng của thị trường, chính phủ buộc phải thực hiện
một trong số chính sách sau: mua và dự trữ lượng sắn phẩm dư thừa, ấn định hạn mức sản xuất nhất định, kích
cầu, hoặc thanh toán cho nhà sản xuất phần chênh lệch giữa giá hỗ trợ với mức giá mà nhà sản xuất thông thường nhận được nếu không có sự hỗ trợ của chính phủ (mức này luôn thấp hơn mức giá hỗ trợ)
* Một số ví dụ về lợi ích do trợ cấp như: Chính phủ cho một công ty vay với lãi suất thấp hơn lãi suất phổ biến trên thị trường tài chính đối với kh oẳn vay thương mại tương đương (Lợi ích đó chính là khoản chênh lệch giữa lãi suất cho vay của chính phủ và lãi suất cho vay thương mại thông thường); Chính phủ đứng ra bảo lãnh khoản vay của một công ty, nhờ vậy tổng chỉ phí mà công ty đó phải trả cho khoản vay được chính phủ bảo lãnh sẽ thấp hơn so với trường hợp không được chính phủ bảo lãnh (Khoản chênh lệch giữa tổng số tiền
mà công ty phải trả trong hai trường hợp chính là lợi ích mà công ty được hưởng); Chính phủ cung cấp hàng hóa với giá thấp hơn so với giá bán thông thường của mặt hàng đó trên thị trường thương mại; Chính phủ mua hàng hóa với giá cao hơn sơ với giá mua thông thường của mặt hàng đó trên thị trường thương mại
Trang 13Nhu vay, trợ cấp của chính phủ là một công cụ trực tiếp tái phân phối nguồn
thu ngân sách của chính phủ cho một số đối tượng Trợ cấp có thể dưới dạng cho vay, xoá nợ, hoàn hoặc miễn thuế Trong một số trường hợp khác, chính phủ không nhất thiết phải trích từ nguồn thu ngân sách của mình để trợ cấp mà có thể thông qua
công cụ luật pháp để hướng nguồn lực từ nhóm đối tượng này chuyển sang cho nhóm đối tượng khác, cụ thể ở đây là làm lợi cho nhà sản xuất bằng tiền từ túi người tiêu dùng thông qua việc hỗ trợ giá
Do các quy định của WTO về trợ cấp và các biện pháp đối kháng” cho đến nay
là khung pháp lý đa phương được phần lớn các nước nhất trí thông qua và áp dụng làm căn cứ cho nguồn nội luật của mình, nghiên cứu này sẽ thống nhất sử dụng các
khái niệm và định nghĩa trong Hiệp định SCM của WTO làm cơ sở nền tầng cho các
phân tích và lý luận về sau Đồng thời, để tài dựa trên một số giả thiết sau:
> Đối tượng hưởng lợi ích của trợ cấp là nhà sản xuất hoặc nhà xuất khẩu hàng hóa chứ không phải người tiêu dùng
> Lợi ích mà một đối tượng nhận trợ cấp được hưởng từ khoản trợ cấp được
phân tích dưới góc độ điều tra của nước nhập khẩu để đánh thuế chống
trợ cấp
> Các nội dung nghiên cứu của dé tài được xem xét trong bối cảnh điều tra
để đánh thuế chống trợ cấp
> Để lãi tập trung nghiên cứu về trợ cấp phi nông sản và thuế chống trợ cấp
theo quy định của Hiệp định SCM""
là những tiêu chí hoặc điều kiện không phân biệt dối xử giữa các doanh nghiệp, không ưu đãi doanh nghiệp này hơn so với doanh nghiệp khác và là những tiêu chí
chính phủ nước xuất khẩu hoặc cam kết tăng giá của nhá sắn xuất/xuất khẩu thay cho việc bị nước nhập khẩu
đánh thuế chống trợ cấp
!% Mặc dù vậy, lưu ý rằng trợ cấp cho nông sản, kể cá hỗ trợ trong nước lẫn trợ cấp xuất khẩu, dù thuộc
hay không, nếu gây ra thiệt hại cho thành viên khác đều có thể bị điển tra và đánh thuế chống trợ cấp theo
quy định của Hiệp định SCM Tro e ấp xuất khẩu nông sẵn lạm thời không bị khiếu kiện ra cơ chế giải quyết
tranh chấp da phương của WTO cho đến ngày 31/12/2003 Kể từ ngày 1/1/2004, Hiệp dịnh SCM sẽ dược coi
các thành viên WTO không đi đến một thỏa thuận nào mới vẻ việc gia hạn hay thay thé Hiệp dinh Nong nghiệp (AOA) hiện đang điểu chỉnh các biện pháp trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp Khi đó, để đối phó với trợ cấp của nước khác, nước thành viên WTO có thể lựa chọn khiếu kiện ra Cơ quan giải quyết tranh chấp
của WTO hoặc điều tra để đánh thuế chống trợ cấp theo các quy định của Hiệp định SCM
WTOScA_wlo workWetai scm\bao ve cap bo de tai sem\inal draftdọc 4
Trang 14hoặc điều kiện mang tính kinh tế, được áp dụng đồng loạt, chẳng hạn như số lượng nhân công, quy mô doanh nghiệp, v.v Trợ cấp chung này được áp dụng với tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề, thành phần kính tế, ví dụ như chính phủ giảm giá bán điện Trong trường hợp này, ảnh hưởng của trợ cấp đối với giá hàng hóa liên quan là không có vì tất cả các doanh nghiệp đều cùng được hưởng mức trợ cấp như nhau Khi đó, sự phân bổ nguồn lực trong nội bộ nền kinh tế sẽ không hề khác với khi không có các khoản trợ cấp chung (và do đó chỉ mang tính danh nghĩa,
hình thức kia) Đây cũng chính là lý do tại sao chỉ có trợ cấp riêng mới là đối tượng
điều chỉnh trong Hiệp định SCM của WTO Tuy nhiên, ngay cả một chính sách trợ
cấp chung trên văn bản lại có thể có ảnh hưởng riêng đối với ngành hoặc doanh nghiệp cụ thể trên thực tế, ví dụ như việc cho phép áp dụng phương pháp khấu hao nhanh có thể có lợi cho những ngành phải sử dụng nhiều tư liệu sản xuất
Trơ cấp riêng (hay còn gọi là trợ cấp mang tính riêng biệt) là trợ cấp dành riêng cho một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp cụ thể, hay trợ cấp dành riêng cho một ngành sản xuất hoặc một nhóm ngành sản xuất nhất định
Tro cap riéng theo luat (de jure specificity) la trợ cấp mà cơ quan cấp trợ cấp
có quy định rõ trong luật hoặc văn bản dưới luật là chỉ dành trợ cấp đó cho một số đối tượng nhất định được hưởng Chẳng hạn, chương trình cho vay với lãi suất ưu đãi theo luật chỉ đành cho ngành sản xuất thép là một ví dụ về trợ cấp riêng theo luật Trợ cấp riêng trên thực tế (đe facto specjicity) là trợ cấp mà mặc dù cơ quan cấp trợ cấp (hoặc văn bản pháp lý điều chỉnh việc cấp trợ cấp) không đặt ra điều kiện nào về đối tượng nhận trợ cấp nhưng việc quản lý hoặc áp dụng chương trình
trợ cấp đó lại dẫn đến kết quả là một hoặc một vài nhóm đối tượng nhận trợ cấp nhất định được nhận nhiều lợi ích hơn một cách đáng kể so với các đối tượng khác cùng được nhận trợ cấp Ví dụ: trợ cấp cho một vùng nhất định tuy có mục đích công khai
là trợ giúp phát triển vùng nhưng thực tế là chỉ trợ cấp cho các nhà máy sản xuất hàng xuất khẩu tại vùng đó trong khi các doanh nghiệp khác không được hoặc nhận được rất ít trợ cấp
2.2 Trợ cấp nông nghiệp và phi nông nghiệp
Dưới góc độ lĩnh vực kinh tế, người ta chia trợ cấp thành trợ cấp nông nghiệp
và trợ cấp phi nông nghiệp
Theo cách hiểu thông thường, trợ cấp nông nghiệp là trợ cấp dành cho các sản phẩm nông nghiệp và cho các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Ví dụ: trợ cấp nghiên cứu giống cây, giống con; trợ cấp cho nông dân trồng lúa; trợ cấp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp; thưởng theo kim ngạch xuất khẩu nông sản; áp dụng cước phí vận tải ưu đãi với nông sẵn xuất khẩu; v.v Trợ cấp công nghiệp là trợ cấp dành
cho các sản phẩm công nghiệp và cho các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp Ví dụ: thuế nhập khẩu ưu đãi với sản phẩm cơ khí thực hiện chương trình nội địa hóa;
áp dụng lãi suất cho vay ưu đãi với các dự án phát triển sản phẩm công nghiệp trọng
điểm; v.v
WTOSMA_wlo workVietai sem\hao ve cap bo de tai seimMinal dra[Ldoc 5.
Trang 15Các hiệp định của WTO cũng tạm chia ra điều chỉnh trợ cấp theo: trợ cấp nơng nghiệp (gồm hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu nơng sản), trợ cấp phi nơng sản,
và trợ cấp trong lĩnh vực dịch vụ
Hiệp định Nơng nghiệp điều chỉnh trợ cấp cho các sản phẩm nơng nghiệp từ
chương ! đến chương 24 của biểu mã HS (trừ cá và các sản phẩm cá), và trợ cấp cho
một số sản phẩm khác ngồi các chương này như tỉnh dầu các loại (HS 3301), da sống (HS từ 4101-4103), da lơng loại thơ (HS 4301), kén tằm và tơ sống, phế liệu tơ (HŠ từ 5001-5003), lơng cừu và lơng động vật (HS từ 5101-5103), bơng thơ, phế liệu bơng, bơng đã chải thơ hoặc chải kỹ (HS từ 5201-5203), lanh thơ (HS 5301), v.v Hiệp định SCM tạm thời được hiểu là chỉ điều chỉnh về trợ cấp phi nơng sản (tức là các sản phẩm ngồi phạm vỉ Hiệp định Nơng nghiệp) Ngồi ra, trong dich vụ
cũng cĩ khái niệm về trợ cấp (điều XV của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ
(GATS)
2.3 Trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu
Dưới gĩc độ thương mại quốc tế thì trợ cấp chia thành hai loại: trợ cấp trong
nước và trợ cấp xuất khẩu
Trợ cấp trong nước được hiểu là trợ cấp với đối tượng nhận trợ cấp là các
doanh nghiệp sản xuất hàng hĩa trước tiên hoặc chủ yếu là để phục vụ thị trường
trong nước, hay nĩi cách khác, hàng hố được trợ cấp phải là hàng hĩa được tiêu thụ tại thị trường nội địa của nhà sản xuất!!, Doanh nghiệp được trợ cấp khơng nhất thiết phải là doanh nghiệp 100% vốn trong nước Ví dụ: Chính phủ cung úng điện với giá
thấp cho ngành sản xuất phân bĩn trong nước (gồm cả doanh nghiệp 100% vốn
trong nước, đoanh nghiệp 100% vốn nước ngồi và doanh nghiệp liên doanh) Tuy nhiên, trợ cấp trong nước cĩ thể cĩ tác động gián tiếp tới hoạt động xuất khẩu nếu sản phẩm do doanh nghiệp nhận trợ cấp sản xuất ra cuối cùng lại được bán ra thị trường nước ngồi (xuất khẩu) Trong trường hợp đĩ, trợ cấp trong nước của một nước sẽ được nhìn nhận như một đạng “trợ cấp xuất khẩu” dưới gĩc độ của nước nhập khẩu hàng hĩa được trợ cấp Như vậy, tuy rằng mục đích thực chất ban đầu của trợ cấp này khơng phải nhằm khuyến khích xuất khẩu nhưng ảnh hưởng hay tác
động của trợ cấp đối với những sản phẩm được xuất khẩu lại giống với trợ cấp xuất khẩu, và do vậy mà cĩ thể bị nước nhập khẩu điều tra đánh thuế chống trợ cấp
Trợ cấp xuất khẩu hiểu theo nghĩa thơng thường là trợ cấp chỉ dành riêng cho hoặc liên quan tới hoạt động xuất khẩu, hay mục dích của trợ cấp là đẩy mạnh xuất khẩu Do đĩ, căn cứ để trợ cấp thơng thường là lượng hàng hĩa xuất khẩu thực sự hoặc dự kiến xuất khẩu, Ví dụ: chương trình thưởng xuất khẩu của Chính phủ theo
đĩ doanh nghiệp được thưởng 100 đồng cho mỗi sản phẩm xuất khẩu được Tuy
nhiên, việc chính phủ dơn thuần trợ cấp cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
xuất khẩu khơng thể nghiễm nhiên dẫn đến kết luận là trợ cấp xuất khẩu mà cịn cần
xem xét đến một số yếu tố khác Trợ cấp xuất khẩu thường cĩ hệ quả là hàng xuất
xuất khẩu hay khơng: (theo “Các vấn đẻ pháp lý trong quan hệ kinh tế quốc tế” của John H.lackson, William J.Davey Và Alan O.Sykes, Jr, Nhà xuất bán West Publishing, 1995, trang 757
WTOXc:\_wlo workNletai sein\bao ve cup bo de tai xenNinal dưaÏt đúc 6
Trang 16
khẩu được bán trên thị trường nước ngoài với giá thấp hơn trên thị trường nội địa của
nước xuất khẩu
2.4 Trợ cấp bị cẩm, trợ cấp có thể dẫn tới hành động và trợ cấp không dẫn tới
hành động
Hiệp định SCM chia trợ cấp thành 3 dạng dựa trên mức độ ảnh hưởng đến thương mại của chúng:
> Trợ cấp bị cẩm áp dụng (trợ cấp đèn đỏ) bao gôm trợ cấp xuất khẩu và
trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu Hai
dạng trợ cấp này bị cấm sử dụng vì tác động tiêu cực tới thương mại và ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của các nước thành viên WTO khác
Trợ cấp xuất khẩu là trợ cấp phụ thuộc hoàn toàn hoặc một phần, dù theo luật (de jure) hay trên thực tế (đe facto), vào việc thực hiện hoạt động
xuất khẩu (export performance)!2
Trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu (hay còn được gọi là trợ cấp thay thế nhập khẩu) là trợ cấp phụ thuộc hoàn toàn hoặc một phần vào việc sử dụng hàng sản xuất trong nước so với hàng nhập khẩu Ví dụ các doanh nghiệp lắp ráp ô tô sử dụng phụ tùng,
linh kiện sản xuất trong nước chiếm ít nhất 60% giá trị ô tô thành phẩm được hưởng ưu đãi thuế
Nhiều trường hợp các nước còn sử dụng kết hợp cả hai dạng trợ cấp bị
cấm này, như trợ cấp 60 USD/tấn bột mỳ xuất khẩu nhằm bù dap lai việc công ty phải chấp nhận chỉ sử dụng lúa mỳ trong nước với giá cao hơn
thông thường để sản xuất bột mỳ
> Tro cdp có thể dẫn tới hành động (trợ cấp đèn vàng) là trợ cấp có khả năng bị khiếu kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO hoặc có thể
bị đánh thuế chống trợ cấp nếu trợ cấp đó gây thiệt hại đối với nước thành
viên WTO khác' Trong mọi trường hợp, nếu một nước muốn áp dung
hành động khắc phục thương mại chống lại hành vỉ trợ cấp của nước
khác, nước đó phải chứng tỏ được rằng trên thực tế, hành vi của nước khác đúng là trợ cấp theo định nghĩa tại Điều I Hiệp định SCM, là trợ cấp
riêng biệt theo Điều 2 Hiệp định này, và gây tác động thương mại bất lợi cho nước muốn áp dụng hành động khắc phục thương mại
!? Riêng các biện pháp trợ cấp xuất khẩu nông sản tuân thủ các quy định của Hiệp định Nông nghiệp của WTO thi sẽ không bị coi là trợ cấp bị cấm theo quy định của SCM và chỉ phải cam kết cất giảm dần trợ cấp xuất khẩu này theo lộ trình và mức độ thoả thuận trong WTO
!* Lu ý rằng thuế chống trợ cấp chỉ được phép sử dụng để xử lý vấn để hàng nhập khẩu được trợ cấp gây thiệt hại cho ngành sản xuất liên quan tại nước nhập khẩu, chứ không dược phép sử dụng để xử lý tình trạng hàng xuất khẩu của nước mình gặp bất lợi trong cạnh tranh so với hàng xuất khiẩu của nước khác được trợ cấp
trên thị trường nước thứ bạ
WTOSc:\_wio work\detai scm\bao ve cap bo de tai seminal draft.doc 7
Trang 17> Trợ cấp không dẫn tới hành động (trợ cấp đèn xanh) là trợ cấp không bị khiếu kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO hay bị đánh thuế chống trợ cấp Trợ cấp dạng này gồm các trợ cấp không riêng biệt theo cách hiểu của Điều 2 và các trợ cấp thỏa mãn một số điều kiện và tiêu chí
nhất định đối với (ï) chương trình hỗ trợ của nhà nước cho hoạt động nghiên cứu công nghiệp và phát triển tiền cạnh tranh; hoặc (ii) hỗ trợ của nhà nước cho phát triển vùng; hoặc (ii) hỗ trợ của nhà nước nhằm giúp các doanh nghiệp đáp ứng những yêu cầu mới về môi trường Lý do để các dạng trợ cấp này được duy trì là vì người ta cho rằng chúng hầu như không thể gây tác động bất lợi đến lợi ích của các nước thành viên khác, hoặc do việc áp dụng chúng có ích lợi nhất định và không nên bị ngăn chặn Để được công nhận là trợ cấp đèn xanh, các nước thành viên muốn
ấp dụng trợ cấp này phải thông báo về biện pháp trợ cấp cho Uỷ ban về Trợ cấp trước khi áp dụng để Uỷ ban này kiểm tra và kết luận
2.5 Trợ cấp trực tiếp và trợ cấp gián tiếp
Căn cứ vào đối tượng mục đích của chương trình trợ cấp mà người ta chia
thành trợ cấp trực tiếp và trợ cấp gián tiếp
“Trợ cấp trực tiếp là trợ cấp mà đối tượng trực tiếp nhận trợ cấp cũng chính là đối tượng được trợ cấp (là mục tiêu của chương trình trợ cấp hoặc là dối tượng được chọn để thực hiện hoạt động nhất định được thiết kế trong chương trình trợ cấp) Ví dụ: trợ cấp nhằm tăng khả năng cạnh tranh của ngành thếp trong nước bằng cách trợ cấp trực tiếp cho nhà máy cán thép Căn cứ tiến hành trợ cấp là dựa trên số lượng đơn vị đầu ra (thành phẩm) hoặc đầu vào của hoạt động sản xuất liên quan, hoặc dựa trên giá trị kim ngạch của mỗi đơn vị đầu ra (thành phẩm) hoặc đầu vào Trợ cấp cố định theo đơn vị số lượng được gọi là trợ cấp cụ thể còn trợ cấp cố định theo đơn vị
giá trị được gọi là trợ cấp theo giá trị Trợ cấp có thể gấn hoặc không gắn với điều
kiện nhất định Ví dụ, trợ cấp một doanh nghiệp với điều kiện doanh nghiệp đó phải sản xuất lượng sản phẩm tối thiểu quy định hoặc phải sử dụng lượng đầu vào tối thiểu quy định trong quá trình sản xuất
Trợ cấp gián tiếp là trợ cấp mà đối tượng trực tiếp nhận trợ cấp không phải là đối tượng được trợ cấp, nhưng thông qua khoản trợ cấp đó, chính phủ tác động tới
quyết định hoặc hoạt động tác nghiệp của đối tượng nhận trợ cấp theo cách thức có lợi cho đối tượng cần được trợ cấp Dạng trợ cấp gián tiếp này sử dụng cơ chế tác động lan truyễn hoặc cơ chế tác động từ ngành công nghiệp thượng nguồn để đạt được mục đích mong muốn Thông thường, doanh nghiệp trực tiếp nhận trợ cấp nhờ
có khoản trợ cấp sẽ thực hiện hoạt động nhất định dẫn đến hệ quả là giá hàng hóa do đối tượng thực sự của trợ cấp cung cấp trên thị trường sẽ được nâng lên và/hoặc giá đầu vào phục vụ sản xuất của đối tượng đó sẽ được giảm theo hướng có lợi cho đối tượng thực sự của trợ cấp Ví dụ: để giúp nông đân tiêu thụ được lúa gạo trong vụ thu hoạch khi giá xuống quá thấp, chính phủ trợ cấp cho doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo để khuyến khích hoặc bắt buộc doanh nghiệp mua lúa của nông dân với giá đảm bảo thu nhập cho người nông dân Hoặc chính phủ cũng có thể trợ cấp gián tiếp thông qua các ngành cung cấp đầu vào cho ngành cần được trợ cấp Ví dụ, chính
WTOS\c:\_wio workMdelai sem\hao ve cạp bọ de tại semNinal drail dọc 8
Trang 18phủ trợ cấp cho nhà máy cán bông để các nhà máy dệt có thể mua được bông nguyên liệu với giá rẻ
2.6 Trợ cấp hiển thị và trợ cấp không hiển thị
Căn cứ vào sự thể hiện của trợ cấp trên mục lục ngân sách mà người ta tạm
phân thành trợ cấp hiển thị và không hiển thị
Trg cap hién thi (cash subsidy) 1A trợ cấp được kê khai trong mục lục ngân
sách với số liệu tương đối đầy đủ và chính xác vì đây là những khoản cấp tiền hoặc miễn thuế có thể liệt kê như một hình thức chi phí bỏ ra của chính phủ
Trợ cấp không hiển thi (implicit subsidy) là dạng trợ cấp mà đối tượng được trợ cấp không phải trả toàn bộ chỉ phí cần thiết thông thường như quan hệ giữa các thực thể kinh tế thuần tuý trên thị trường để nhận được hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định
Ngoài ra, các hỗ trợ dạng này nhìn chung không được kê khai trong các tài liệu của chính phủ Do vậy thường chỉ có thể ước tính được giá trị của hỗ trợ mang tính trợ cấp này cũng như những ảnh hưởng, tác động của nó trên thực tế
1.1 Tác động đối với nước tiến hành trợ cấp trong nước
Chính phủ các nước thường chủ động tiến hành trợ cấp cho các doanh nghiệp
và sản phẩm của nước mình nhằm đạt được một số mục tiêu kinh tế-xã hội nhất định như bảo hộ sản xuất trong nước, hỗ trợ phát triển ngành non trẻ hay ngành trọng
điểm của nền kinh tế, khuyến khích đầu tư, cải thiện thu nhập của nhà sản xuất, bù
đấp chi phí đầu tư ban đầu quá lớn, v.v Quyết định trợ cấp của chính phủ thường
được đưa ra nhằm phục vụ lợi ích của một đối tượng nhất định có vai trò chỉ phối và ảnh hưởng chính trị lớn đối với chính phủ
Hộp 1: Tác động của trợ cấp đối với ngành sản xuất là đối tượng được trợ cấp Chính phủ có thể trợ cấp trực tiếp cho nhà sản xuất hoặc trợ cấp gián tiếp thông qua đầu vào cho nhà sản xuất Với mọi hình thức trợ cấp lợi thế và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong
những ngành được trợ cấp luôn được cải thiện và nâng cao
Ví dụ ngành sản xuất bút bị của Việt Nam sản xuất mỗi chiếc bút với chí phí là 1.000 đồng, trong
khi bút bi nhập ngoại được bán tại Việt Nam với giá 900 đồng/ chiếc Rõ ràng là bút bi ngoại có khả năng cạnh tranh cao hơn bút bí Việt Nam Giả sử chính phủ Vị ệt Nam trợ cấp 200 đồng cho
mỗi chiếc bút bí sản xuất trong nước Khi đó, giá bút bi Việt Nam bán ra có thể rẻ hơn trước kia tới 200 đồng/ chiếc, và thấp hơn giá bút bi nhập khẩu Như vậy, nhờ có trợ cấp của chính phủ,
ngành sản xuất bút bị của Việt Nam có thể cạnh tranh với hàng nhập ngoại và thậm chí có thể
đẩy lùi bút bi nhập khẩu tại thị trường trong nước
Chẳng những có thể ngăn cản, hạn chế hàng nhập khẩu, trợ cấp sản xuất nội
địa đồng thời còn có thể khiến cho cam kết ràng buộc thuế quan trong khuôn khổ 'WTO mất tác dụng, duy trì bảo hộ sẵn xuất nội địa
Trang 19Đối với những ngành công nghiệp non trẻ, bước đầu còn nhỏ bé về quy mô, yếu kém về năng lực cạnh tranh thì trợ cấp từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh,
mở rộng quy mô, góp phần khởi động và đẩy nhanh sự phát triển của ngành Đối với những công ty mới giả nhập thị trường, thiếu vốn để trang trải chí phí rất cao trong thời gian đầu, khó cạnh tranh nổi với những công ty “đàn anh” đã trụ vững trên thị
trường thì hỗ trợ của chính phủ có thể bù đấp cho những khoản thua lỗ phát sinh
trong những năm đầu, đưa công ty vào quỹ đạo phát triển ổn định
Ngoài ra; trợ cấp góp phần duy trì ổn định công ăn việc làm, hạn chế thất nghiệp, bảo đảm trật tự và én định xã hội, đặc biệt là những khoản trợ cấp dành cho
các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, đứng trước nguy cơ bị đóng cửa, phá sản Sự hỗ trợ của chính phủ có thể giúp các doanh nghiệp này khỏi bị sụp đổ nhanh chóng, thúc đẩy các doanh nghiệp cơ cấu lại sản xuất, tự điều chỉnh khả năng thích nghỉ và cạnh
tranh trong thời kỳ quá độ do những khó khăn mà môi trường thương mại quốc tế
bên ngoài thay vì tự cố gắng sản xuất và cung cấp những sản phẩm kém cạnh tranh
với chỉ phí đầu tư tốn kém
Trợ cấp một ngành nhất định có thể có tác động ngược chiều đến các ngành
khác trong nền kinh tế Nếu Chính phủ chọn đúng ngành cần được trợ cấp, theo
` nguyên lý hiệu ứng lan truyền tích cực (ex/ernal benefit), trợ cấp sẽ có khả năng tạo
ra hiệu ứng tích cực theo dây chuyển Chẳng hạn khi chính phủ trợ cấp cho ngành xi
măng thì các ngành xây dựng cơ sở hạ tầng cũng có điều kiện phát triển Như vậy,
lợi ích của trợ cấp có thể lan rộng sang cho cả các ngành khác ngoài chính bản thân ngành được trợ cấp
Tuy nhiên, xét trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, trợ cấp ngăn cản sự phân bổ tối ưu hiệu quả các nguồn lực quốc gia Trợ cấp cho một hoặc một số ngành nhất định sẽ hạn chế khả nang duge nhà nước hỗ trợ của các ngành, đối tượng khác vì
ngân sách nhà nước và nguồn lực xã hội có giới hạn Việc Chính phủ quyết định hỗ
trợ cho một ngành sản xuất trong nước “thay thế nhập khẩu” có thể dẫn đến xu hướng vốn đầu tư và nguồn lực trong xã hội đổ xô vào ngành đó Tham chí ngay cả nguồn lực trong các ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu cũng có thể bị thu hút chuyển sang phục vụ ngành sản xuất nội địa Về lâu dai, tình trạng này dẫn đến cung vượt cẩu trên thị trường Hậu quả tất yếu là hàng loạt doanh nghiệp không đủ năng lực cạnh tranh bị thua lỗ và đào thải, Nền kinh tế-xã hội bị tổn thất, đồng thời mục đích mong muốn của việc trợ cấp cũng không đạt được
Trợ cấp cho một ngành sản xuất nhất dịnh cũng có thể tạo ra gánh nặng cho
những ngành khác Chi phí cho các yếu tố sản xuất của các ngành khác (vốn đã phải
chịu sự bất lợi về mặt chiến lược) sẽ bị tăng lên khi ngành sản xuất được trợ cấp ngày một phát triển với quy mô, sản lượng sản xuất ngày một tũng và thu hút các nguồn lực sản xuất ra khỏi các ngành khác Nhập khẩu sản phẩm của các ngành có
WTOS\c\_wio work\delai sen\buo ve cap bo de tai sem\iaal drafidoe 10
Trang 20chỉ phí sản xuất nội địa cao sẽ gia tăng vì sản xuất trong nước đã trở nên kém cạnh tranh Như vậy, ưu đãi đành cho một hoặc một nhóm nhà sản xuất này lại có ảnh hưởng giống như một khoản thuế đánh lên những nhà sản xuất khác Lợi ích thu được nhờ việc hỗ trợ một ngành nhất định không chắc sẽ đủ bù đắp cho tổn thất mà
những ngành khác phải gánh chịu
Về phía chính phủ, trợ cấp trong mọi trường hợp đều có ảnh hưởng bất lợi cho ngân sách nhà nước, cho dù ảnh hưởng bất lợi đó thể hiện trực tiếp hay gián tiếp, có
thể kê khai được hay không kê khai được thành một khoản chỉ ngân sách cụ thể
Vẻ phía người tiêu dùng: Người tiêu dùng/sử dụng sản phẩm được trợ cấp có
lợi do giá sản phẩm giảm xuống
1.2 Tác động đối với nước xuất khẩu sang nước tiến hành trợ cấp
Trợ cấp trong nước của nước này có thể gây tổn hại đến lợi ích xuất khẩu của
nước khác Nếu trợ cấp của một nước giúp bảo hộ hoặc nâng cao sức cạnh tranh của
ngành sản xuất trong nước thì hiển nhiên gây bất lợi cho nước khác như ngăn cản
nhập khẩu sản phẩm tương tự từ các nước khác vào thị trường nước áp dụng trợ cấp, làm vô hiệu hoá hoặc làm giảm tác dụng các cam kết ràng buộc thuế quan của nước
trợ cấp Tác động bất lợi đối với sản phẩm của một nước xuất khẩu vào thị trường
nước tiến hành trợ cấp sản xuất trong nước tôn tại khi:
> sản phẩm nhập khẩu bị hạn chế hoặc đẩy lùi (mất thị phần) trên thị trường nước nhập khẩu (nước trợ cấp) Biểu hiện cụ thể của tình trạng này là sự thay đổi thị phần theo hướng bất lợi cho sản phẩm nhập khẩu cạnh tranh
không được trợ cấp như: có sự gia tăng thị phần của sản phẩm được trợ
cấp; thị phần của sản phẩm được trợ cấp vẫn giữ nguyên không đổi, trong khi nếu không có trợ cấp thì thị phần này chắc chắn sẽ suy giảm; thị phần
của sản phẩm được trợ cấp bị thu hẹp nhưng với tốc độ giảm chậm hơn so với trường hợp không được trợ cấp
> giá của sản phẩm nhập khẩu cạnh tranh tại thị trường nước nhập khẩu (nước trợ cấp) bị “làm đất lên một cách tương đối” so với giá của sản phẩm được trợ cấp, vì giá của sản phẩm trong nước nhập khẩu được cắt
giảm so với trước nhờ có khoản trợ cấp của chính phủ trong khi giá của
sản phẩm nhập khẩu gần như không đổi
> lợi ích mà nước xuất khẩu trông đợi được hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp
từ cam kết ràng buộc thuế quan của nước nhập khẩu trong khuôn khổ
WTO bị vô hiệu hóa hoặc bị suy giảm Chẳng hạn như nước nhập khẩu cam kết ràng buộc thuế quan ở mức 10% với sản phẩm màn hình máy
tính Với mức thuế nhập khẩu này, nước xuất khẩu màn hình máy tính có
thể trông đợi mỗi năm sẽ xuất khẩu được 200.000 sản phẩm vào thị trường nước nhập khẩu Nếu nước nhập khẩu áp dụng trợ cấp với sản
phẩm màn hình sản xuất nội địa, dù thuế nhập khẩu không thay đổi
nhưng lượng sản phẩm mà nước xuất khẩu có thể xuất vào thị trường
nước nhập khẩu (nước trợ cấp) khi đó sẽ không thể đạt mức trông đợi bình thường là 200.000 sản phẩm như trước nữa do nước nhập khẩu tiến
hành bảo hộ sản xuất nội địa Trong trường hợp này, lợi ích mà nước xuất
Trang 21khẩu đáng ra được hưởng từ cam kết ràng buộc thuế quan của nước nhập
khẩu đã bị trợ cấp của nước nhập khẩu không chỉ làm mất tác dụng mà
còn bị suy giảm ,
2 _ Trợ cấp xuất khẩu
2.1 Tác động đối với nước tiến hành trợ cấp xuất khẩu
Các nước áp dụng trợ cấp xuất khẩu vì nhiều lý do Có nước lập luận trợ cấp
xuất khẩu để đảm bảo công ăn việc làm, hay để hỗ trợ vùng khó khăn, v.v Tuy
nhiên, mọi lý đo biện minh cho trợ cấp xuất khẩu xét cho cùng cũng đều hướng tới
mục tiêu thực sự là để đẩy mạnh xuất khẩu thông qua tác động trung gian là cải thiện lợi thế cạnh tranh xuất khẩu, mở rộng thị trường xuất khẩu, v.v Trợ cấp xuất khẩu có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức, từ thưởng theo kim ngạch xuất khẩu đến cho vay với lãi suất ưu đãi đối với hàng xuất khẩu hay áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi với ngành nghề xuất khẩu, v.v Về lý thuyết,
nhờ có trợ cấp xuất khẩu, thị phần sản phẩm liên quan của nước xuất khẩu trên thị
trường thế giới có thể được mở rộng hơn mức hợp lý mà thực lực nước xuất khẩu có thể tự mình giành được không có sự can thiệp của trợ cấp xuất khẩu
Để thúc đẩy ngành máy tính phát triển, chính phủ Việt Nam quyết định trợ cấp cho 20% (tức 1 triệu đồng) cho mỗi chiếc máy tính được xuất khẩu ˆ
Các nhà sản xuất máy tính của Việt Nam khi đó sẽ thu được 6 triệu đồng/chiếc khi xuất khẩu máy tính Rõ ràng sẽ không có công ty máy tính nào chịu bán máy tính tại thị trường Việt Nam và thu về 5 triệu đồng/chiếc trong khi có thể xuất khẩu ra nước ngoài và kiếm được 6 triệu đồng/chiếc Nguồn cung ứng máy tính cho thị trường Việt Nam do vậy
sẽ thw# hẹp chỉ còn ở mức Q”d để người tiêu dùng trong nước quen với mức giá phải trả
'WTOSMA wlo workdetai sem\buo ve cap bo de tai scmNinal dratidec 7 12
Trang 22tương đương với 6 triệu đồng/chiếc máy tính Tổng sản lượng máy tính sản xuất tại Việt Nam sẽ tăng lên tới mức Q°s và lượng xuất khẩu khi đó là AB = Q°s-Q°d
Mặc dù trợ cấp làm gia tăng xuất khẩu nhưng xã hội chịu thiệt hại thể hiện qua hai tam
giác H và K Tam giác H thể hiện thiệt hại của xã hội do mức tiêu dùng máy tính trong nước bị giảm từ Qd xuống chỉ còn Q°d Tam giác K thể hiện thiệt hại của xã hội vì sản lượng sản xuất máy tính vẫn gia tăng từ Qs lên đến mức Q”s, trong khi chỉ phí sản xuất cận biên của các công ty máy tính Việt nam đối với lượng sản phẩm gia tăng này còn cao
hơn cả mức giá bán máy tính cho người mua nước ngoài
Tuy nhiên tác động tổng thể của trợ cấp xuất khẩu đối với nước trợ cấp không
phải lúc nào cũng tích cực Bản chất của trợ cấp là làm lợi cho một đối tượng nhất
định cũng đồng nghĩa với việc làm giảm lợi ích hoặc gây tổn hại đến lợi ích của đối tượng khác Do vậy, trong khi các nhà xuất khẩu có thể gia tăng xuất khẩu hàng hóa
thì người tiêu dùng trong nước phải chấp nhận mua cùng loại hàng hóa đó tại thị trường nội địa với giá cao và lượng hàng hóa tiêu thụ tại thị trường trong nước cũng
bị giảm sút -
Nhiều trường hợp, lợi ích do tăng xuất khẩu khi tiến hành trợ cấp xuất khẩu
thậm chí còn không đủ để bù đắp cho những tổn phí liên quan đến trợ cấp của nhà
nước Về khía cạnh kinh tế, trong những trường hợp như vậy, rõ ràng trợ cấp là một chính sách phi kinh tế của nước xuất khẩu, vừa thiệt hại cho ngân sách lại vừa không đạt được mục tiêu mong muốn
Ngoài ra, nhiều nhà kinh tế cho rằng để thực hiện mục tiêu tăng xuất khẩu, cân
chú trọng đầu tư hỗ trợ từ gốc, tức là nâng cao sức cạnh tranh của tự than hàng hóa
bằng chất lượng, v.v hơn là hỗ trợ “ngọn” theo kiểu trợ cấp xuất khẩu Trợ cấp
xuất khẩu chắc chắn không phải là một biện pháp chính sách mang lại lợi ích bền vững Trên thực tế, các nước hầu như không thể theo đuổi trợ cấp xuất khẩu lâu dài
vì ngân sách hạn hẹp của chính phủ không thể kham nổi các khoản chỉ (cũng như bỏ
qua những khoản đáng ra phải thu) mang tính dài hạn
Hơn thế, trợ cấp xuất khẩu sẽ làm cho tỷ suất mậu dịch của nước trợ cấp bị suy giảm (cung so sánh tăng mà cầu so sánh lại giảm), trong khi đó lại cải thiện tỷ suất
mậu dịch cho các đối tác thương mại khác Do đó, có thể nói, việc sử dụng trợ cấp xuất khẩu như một công cụ chính sách thường chủ yếu nhằm đạt được những mục tiêu chính trị của thương mại hơn là dựa trên căn cứ kinh tế
Cũng tương tự như trợ cấp sản xuất trong nước, trợ cấp xuất khẩu có thể gây bóp méo sự phân bổ nguồn lực xã hội khi khuyến khích ngành sản xuất và xuất khẩu
vốn không mang tính kinh tế nếu không có sự hỗ trợ của chính phủ Trợ cấp xuất khẩu cũng gây bất lợi cho ngành sản xuất khác khi thu hút nguồn lực khỏi các
ngành sản xuất phục vụ thị trường nội địa, ngăn cản cơ hội được đâu tự phát triển
Dưới giác độ tác động xã hội, trợ cấp xuất khẩu có thể kéo theo nhiêu hiện
tượng như khai khống, khai man lượng xuất khẩu hoặc cố tình quay vòng lô hàng xuất khẩu để được hưởng trợ cấp, tạo cơ hội cho hoạt động vận động phát triển khi
!4- Mô hình minh họa và giải thích theo “Kinh tế học” của David Begg, Nha xudt ban McGraw-Hill, 1991
WTOS\e:\_wto work\detai sem\buo ve cap bo de tai seminal drifi.doe 13
Trang 23trợ cấp mang tính phân biệt đối xử, tức là chi đành cho một hoặc một số đối tượng, sản phẩm hay địa phương nhất định
3.2 Tác dộng dối với nước nhập khẩu hàng được nước khác trợ cấp xuất khẩu Trợ cấp xuất khẩu của một nước làm cho hàng xuất khẩu của nước đó sang nước khác (nước nhập khẩu) có lợi thế cạnh tranh hơn Ngành sản xuất sản phẩm
tương tự với sản phẩm nhập khẩu được trợ cấp sẽ gặp khó khăn do bị tăng áp lực
cạnh tranh, thậm chí có thể bị thiệt hại vật chất hoặc có nguy cơ bị thiệt hại vật chất
- Nhờ có trợ cấp, hàng nước ngoài xuất sang thị trường nước nhập khẩu sẽ tăng
đáng kể về lượng tuyệt đối hoặc tương đối so với lượng sản xuất trong nước của nước nhập khẩu Hoặc giá hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp có thể sụt mạnh so với giá sản phẩm tương tự do nước nhập khẩu sản xuất Hoặc nữa là hàng nhập khẩu
được nước ngoài trợ cấp sẽ chèn ép giá sẵn phẩm cạnh tranh trên thị trường nước nhập khẩu hay ngăn cản không cho giá tăng trong khi lẽ ra theo quy luật thị trường
bình thường thì giá phải tăng
Tác động của hàng nhập khẩu được nước ngoài trợ cấp đến sản phẩm tương tự
do nước nhập khẩu sản xuất có thể biểu hiện qua những biến động trong chỉ số kinh
tế của ngành sản xuất tại nước nhập khẩu theo hướng bất lợi cho ngành này Chẳng
hạn như xuất hiện sự suy giảm sản lượng, doanh số bán, lợi nhuận, năng suất, tỷ suất thu hồi vốn đầu tư, sự thu hẹp thị phần, huy giảm khai thác sử dụng công suất, giảm luồng tiển mặt, lưu kho, công ăn việc làm, lương bổng, tốc độ tăng trưởng, khả năng thu hút vốn, v.v Không nhất thiết là các tác động này phải xuất hiện đồng thời với
sự xâm nhập của hàng nhập khẩu được trợ cấp mới chứng tổ được tác hại đối với
ngành sản xuất tương ứng ở nước nhập khẩu Nhiều trường hợp chỉ xuất hiện dấu
hiệu hoặc nguy cơ tiềm tàng về sự suy giảm và thu hẹp của các chỉ số kinh tế liên quan cũng đủ cho thấy ảnh hưởng nghiêm trọng của việc nước ngoài trợ cấp
tương tự trong nước nhập khẩu phải đối diện với đối thủ cạnh tranh có hậu thuẫn tài
chính quá mạnh, tất yếu sẽ bị thiệt hại, thậm chí di đến phá sản nếu tình trạng lượng hàng nhập khẩu được trợ cấp quá lớn, giá thị trường bị làm suy giảm quá nhiều kéo đài mà chính phủ không áp dụng biện pháp chống đỡ hay đối phó nào Đối với những ngành tuy chưa thực sự đi vào sản xuất hàng hóa tương tự với hàng nhập khẩu
được trợ cấp nhưng chính phủ đã có kế hoạch phát triển ngành thì trợ cấp xuất khẩu
của nước ngoài hiển nhiên khiến cho sự “chào đời” của ngành gặp quá nhiều trở
ngại, bị trì hoãn, thậm chí không thể xuất hiện
Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng mặc dù các nhà sẵn xuất hàng hóa cạnh
tranh với hàng nhập khẩu được nước ngoài trợ cấp có thể bị thiệt hại lớn do hành vi
mà họ cho là “không công bằng” của nước ngoài thì người tiêu dùng hay các ngành
công nghiệp hạ nguồn (là những ngành sử dụng hàng hóa đó làm đầu vào trong quá
trình sản xuất) lại được lợi do mua được hàng hóa cần thiết với giá rẻ hơn Rõ ràng,
WTOScA_wto workNletai sem\hao ve cap bo de tài semNinal drafLdoc 14
Trang 24
đối tượng thứ nhất sẽ phản đối kịch liệt trợ cấp của nước ngoài còn nhóm đối tượng
thứ hai thì có thể lại ing ho Mau thuẫn lợi ích giữa hai nhóm cùng có quyền lợi liên
quan đến loại hàng hoá được nước ngoài trợ cấp trong nội bộ nền kinh tế nước nhập
khẩu sẽ đặt chính phủ nước nhập khẩu trước một bài toán chính trị khó khăn: nên
đặt quyên lợi của nhóm nào lên đầu?
2.3 Tác động đối với nước thứ ba
_ Trợ cấp xuất khẩu còn làm tăng lợi thế cạnh tranh của hàng xuất khẩu được trợ
cấp so với hàng xuất khẩu không được trợ cấp của các nước khác vào thị trường thứ
ba và ngăn cản hàng xuất khẩu của các nước khác vào thị trường này
Với lợi thế cạnh tranh “thiếu công bằng” nhờ trợ cấp, chẳng hạn có thể chủ
động cắt giảm giá xuống mức rất thấp, hàng xuất khẩu của nước trợ cấp có thể đẩy
lùi các đối thủ cạnh tranh trên thị trường nước khác và chiếm được “thị phẩn vượt
mức hợp lý trong thương mại xuất khẩu thế giới
các nước xuất khẩu cạnh tranh khác bị tổn hại Hậu quả dễ thấy do trợ cấp xuất khẩu
của một nước là gây tổn hại đến ngành sản xuất sản phẩm tương tự của không chỉ
nước nhập khẩu sản phẩm được trợ cấp mà cả nước xuất khẩu sản phẩm cạnh tranh
„H3 , khiến cho lợi ích thương mại của
với sản phẩm được trợ cấp trên thị trường nước nhập khẩu
Pẹr là giá tự do thương mại trên thế giới (không có bất kỳ hạn chế hay bóp méo
thương mại nào)
S°%, - D°Xy = lượng xuất khẩu của nước xuất khẩu trong bối cảnh tự do thương
mại
DM, — 8M, = lượng nhập khẩu của nước nhập khẩu trong bối cảnh tự do thương
mại
!% Điều XVI GATT 1994, doan 3 Phần B
WTOS\c:\_wto work\dclai sen\bao ve cap bơ đe tài scmMinal drafLdoc 15
trợ cấp
Trang 25Pg là giá tại thị trường nước nhập khẩu sau khi có trợ cấp của nước xuất khẩu
Ps”Ÿ là giá tại thị trường nước xuất khẩu sau khi có nước này trợ cấp xuất khẩu
PPX - DjM= biên độ trợ cấp = mức thuế chống trợ cấp tối đa
ẢNH HƯỚNG CUA TRG CẤP XUẤT KHẨU
Đối với nước nhập 1 ed
’ Đối với nước xuất khẩu
khâu
du dự người ven | }(G+H+T+J+K) -(a+b)
Thang du nha sản xuất -G@G+H) +(a+b+c+d+e)
Thu ngân sách của 0 -(Œ+c+d+e+fth+i+j+k
Lợi ích quốc gia +Ĩ+J+K -(b+f+h+itj+k+)
II CƠ SỞ ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP
Tuỳ theo mục đích khác nhau, thuế chống trợ cấp có thể được định nghĩa một cách khác nhau
ns Nhìn chung, thuế chống trợ cấp là “một loại thuế nhập khẩu đặc biệt nhằm
chống lại trợ cấp của Chính phủ nước ngoài cho hàng xuất khẩu, thường được áp
dụng sau khi đã có điều tra cho thấy có tổn hại do trợ cấp đó gây ra"!4
Về mặt pháp lý, các nước thường đùng định nghĩa của WTO làm định nghĩa chuẩn cho thuế chống trợ cấp Theo WTO, “(huế chống trợ cấp được hiểu là một khoản thuế đặc biệt nhằm mục đích bồi hoàn cho khoản trợ cấp đã được cung cấp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong quá trình chế tác, sẵn xuất hoặc xuất khẩu
của bất kỳ loại hàng hoá nào”, Đây là định nghĩa chặt chế về mặt luật pháp và
thường được các nước chấp nhận Tuy nhiên, dịnh nghĩa này phải được hiểu trong bối cảnh rộng của WTO, có nghĩa là các quy định của WTO liên quan đến quá trình điều tra, thủ tục áp dụng v.v cũng phải được tuân thủ đầy đủ
Về mặt kinh tế, thuế chống trợ cấp là một hình thức thuế đánh vào hàng hoá được trợ cấp nhằm triệt tiêu lợi thế do khoản trợ cấp đó đem lại Để đạt được mục tiêu trên, thuế chống trợ cấp phải tương đương với lợi ích mà trợ cấp đem lại cho
hàng hoá, hay chính xác hơn, thuế chống trợ cấp phải triệt tiêu được lợi thế hàng
6 Deardortf, Alan V and Stern, Robert M 1985 "Methods of Measurement oŸ Nontari[F Barriers,” United Nations Conference on Trade and Development, UNCTAD/ST/MD/28 Geneva: United Nations
? Đoạn 3, Điều VI, Hiệp định GATT
WTOSMEA_wo wordAlelai senàbao ve cap họ de tai sem\Vinal draldoc ` 16
Trang 26nhập khẩu có được do nhận được trợ cấp của chính phủ so với loại hàng tương tự
được sản xuất tại nước nhập khẩu Do đó, sau khi đánh thuế chống trợ cấp, hàng hoá nhận được trợ cấp không còn lợi thế so với hàng tương tự được sản xuất trong nước không được trợ cấp Tuy nhiên, thuế chống trợ cấp cũng không được đánh quá cao, vượt quá lợi ích thực sự mà hàng nhập khẩu nhận được Do phải đánh “đúng mức”,
thuế chống trợ cấp chỉ được áp dụng sau khi đã có điều tra rõ ràng về mức độ trợ cấp cũng như thiệt hại trợ cấp đó gây ra đối với sản xuất trong nước Với khái niệm trên,
có một số điểm đáng chú ý khi áp dụng thuế chống trợ cấp:
() Xét về mặt kinh tế, lợi ích một mặt hàng nhất định thu được không nhất thiết phải bằng với hỗ trợ về tài chính mà nhà nước bỏ ra cho mặt hàng đó
Lợi ích kinh tế hàng hoá thu được từ trợ cấp có thể thấp hơn hoặc cao hơn khoản trợ cấp tài chính mà hàng hoá đó nhận được
Trong phần lớn các trường hợp, lợi ích kinh tế hàng hoá thu được nhỏ hơn
sơ với chỉ phí thực sự của khoản trợ cấp Ví dụ đơn giản nhất là trường hợp phát sinh một số chỉ phí hành chính để quản lý khoản trợ cấp đó Điều này
được thể hiện rõ nhất nếu chúng ta phân tích một ví dụ điển hình về trợ cấp
xuất khẩu tại một nước nhỏ có nên kinh tế mở như sau'Š:
mức bằng với giá quốc tế (P„) để có thể xuất khẩu
Tổng giá trị trợ cấp là các hình (a + b + c + d) trong khi lợi ích nhà sản xuất thu được (producer surplus) chi là tổng các hình (a + b + c) Như vậy, lợi ích nhà sẵn xuất nhận được nhỏ hơn khoản tiền trợ cấp tương đương với hình d (deadweight loss) ngay cả khi trợ cấp được quản lý một cách có hiệu quả
Trang 27(ii) Loi ich mét hang hoá nhất định nhận được không nhất thiết nhờ trợ cấp trực tiếp cho mặt hàng đó Ví dụ như khi Nhà nước trợ cấp cho một mặt hàng thì các ngành sử dụng mặt hàng đó cũng được hưởng lợi Đồng thời, những mặt hàng gần tương tự với mặt hàng đó cũng có thể chịu những tác động nhất định do phải cạnh tranh với mặt hàng được trợ cấp
Trong một số trường hợp cá biệt, một mặt hàng có thể nhận được trợ cấp nhưng một mặt hàng khác lại được hưởng lợi ích kinh tế cuối cùng Ví dụ như một nước A có 100.000 nông dân nuôi bò với giá thành sản phẩm sữa
là P„ = P„ + a (cao hơn giá thế giới một khoản a), toàn bộ sản phẩm được
bán cho 5 nhà chế biến bơ trong nước Để hỗ trợ phát triển sản phẩm sữa, nhà nước A có thể trợ cấp một khoản a trên mỗi đơn vị sản phẩm sữa cho tất cả 100.000 người nuôi bò Tuy nhiên, nếu làm như vậy rõ ràng chỉ phí hành chính để quản lý chương trình trợ cấp sẽ rất cao, đôi khi không thể
thực hiện được Nhà nước A có thể chọn một cách khác hiệu quả hơn nhiều, đó là trợ cấp cho 5 nhà máy chế biến bơ khoắn tiễn tương đương a
với điều kiện các nhà máy này phải thu mua sữa của người nuôi bò trong
nước Như vậy, về hình thức nhà nước trợ cấp cho mặt hàng bơ nhưng thực
tế là trợ cấp cho mặt hàng sữa
Do trợ cấp và ảnh hưởng của trợ cấp phức tạp như vậy, việc đánh thuế chống
trợ cấp cũng phải được điểu tra và thực hiện một cách hết sức thận trọng Chính vì vậy, thường chỉ có một số ít nước tương đối phát triển là có điều kiện áp dụng biện
pháp này Các nước đang phát triển do năng lực yếu kém, lại thiếu nguồn thông tin
nên khó có thể áp dụng một cách chuẩn xác thuế chống trợ cấp
Về mặt quản lý nhà nước, thuế chống trợ cấp được coi là một biện pháp quản
lý phi thuế quan Phần lớn các tài liệu nghiên cứu chuyên ngành về các biện pháp phi thuế quan đều xếp thuế chống trợ cấp là một biện pháp phi thuế quan Trong hệ
thống phân loại của UNCTAD, thuế chống trợ cấp cũng được coi là một trong những
biện pháp phi thuế quan'?
Mặc dù vậy, về hình thức bên ngoài, thuế chống trợ cấp lại có nhiều điểm tương đồng với thuế nhập khẩu Vì vây, xét về mặt hình thức, ở một chừng mực nhất định cũng có thể coi thuế chống trợ cấp là một hình thức thuế nhập khẩu đặc biệt
> Thuế chống trợ cấp giống với thuế nhập khẩu ở các điểm sau:
© Đối tượng chịu thuế là hàng nhập khẩu;
He thống phân loại các biện pháp phi thuế quan của UNCTAD (chỉ giới hạn ở các biện pháp liên quan đến
Policies"
Trang 28
© Phương pháp quản lý thuế tương đối giống với thuế thông thường: cùng
được cơ quan hải quan thư tại cửa khẩu; -
s Tác động tương đối rõ ràng và minh bạch ở khâu áp dụng nếu so với các
biện pháp phi thuế quan khác (mặc dù quá trình điều tra có thể bị các cơ
© Thuế nhập khẩu thông thường mang tính ổn định, trong khi thuế chống
trợ cấp mang tính tình huống rõ rệt Dù là nhằm bảo hộ cho san xuất
trong nước, tạo nguồn thu cho ngân sách hay đảm bảo công bằng xã hội, thuế nhập khẩu đều được áp dụng theo một định hướng tương đối ổn
định Trong khi đó, thuế chống trợ cấp chỉ xuất hiện khi phát sinh trợ cấp
_ làm ảnh hưởng đến nhà sản xuất trong nước Thuế chống trợ cấp sẽ mất di khi không còn trợ cấp nữa hay khi các nhà sản xuất trong nước không còn chịu ảnh hưởng bất lợi của hàng hoá được nước ngoài trợ cấp nữa
Mặc dà có những điểm khác nhau trên, thuế chống trợ cấp thường được coi là một sắc thuế có mối liên hệ hết sức chặt chế đến thuế nhập khẩu, cả về mặt hình thức cũng như phương pháp quản lý việc thu thuế:
Xem Hình 1: Mô hình kinh tế của trợ cấp xuất khẩu
Đối với nước nhập khẩu Đối với nước xuất khẩu Thặng dư người tiêu -(G+H+1+J+K) taab
Thặng dư nhà sản xuất +(G+H) -(a+b+c+d+e)
Thu ngân sách của
Đối với nước xuất khẩu
WTOSNX wto WerkVictai sem\bao ve cap bạ ức tài seinnMinat drafi.doc 19
Trang 29
Thăng dư nhà sản xuất 0 0
Thu ngân sách của tủy
Chính phủ +(C+D+E+]) -(d+i+j+k) Loi ich quốc gia +(C+D+E+]) -(d+it+j+k)
Lợi ích toàn cầu 0
Như đã phân tích ở trên, thuế chống trợ cấp là một biện pháp vừa mang tính chất thuế quan, vừa mang tính chất phi thuế quan Vì vậy, khi áp dụng, thuế chống trợ cấp vừa có tác động của một biện pháp phi thuế quan, vừa có tác động của một biện pháp thuế quan Tác động phi thuế quan thể hiện rõ nhất trong giai đoạn đầu, tức là giai đoạn tố tụng (nộp hồ sơ để nghị đánh thuế chống trợ cấp, điều tra về trợ cấp và thiệt hại, quyết định việc đánh thuế chống trợ cấp) Sau khi đã được áp dụng,
thuế chống trợ cấp có có tác động không khác so với việc ấp dụng thuế thông
thường
2.1 Tác động chia theo giai đoạn
2.1.1 Tác động của quá trình điều tra
Nguyên nhân chính khiến cho thuế chống trợ cấp thường được coi là một biện pháp phi thuế quan là đo quá trình điều tra thuế chống trợ cấp khá phức tạp về mặt
kỹ thuật, vì vậy trong nhiều trường hợp thường dược các nước lạm dụng nhằm hạn
chế nhập khẩu Quá trình điều tra có thể làm hạn chế nhập khẩu do ba nguyên nhân
chính sau:
1 Quá trình điều tra làm tăng chỉ phí Quá trình điều tra có thể coi như một
công đoạn của quá trình tố tụng trong đó nhà sản xuất/xuất khẩu phải
chứng minh được mình “vô tội” (không được hưởng trợ cấp) Trong phần lớn các trường hợp, người bị điều tra phải khai nhiều giấy tờ mang tính
chuyên môn nên phải thuê luật sư với chỉ phí cao để có thể giảm tối đa rủi
ro bị đánh thuế chống trợ cấp
2 Quá trình điều tra có thể làm lộ một số thông tin mật trong kinh doanh Khi bị điểu tra, các nhà sản xuất phải cung cấp thông tin do cơ quan điều
tra yêu cầu, trong đó có nhiều thông tín thuộc loại bí mật kinh doanh như
giá thành sản phẩm, nguồn cung ứng nguyên liệu, kênh phân phối sản phẩm v.v Mặc dù phần lớn các cơ quan điều tra đảm bảo các thông tin
trên sẽ được giữ kín nhưng chắc chắn nhà kinh doanh rất e ngại khi phải
cung cấp các thông tin trên
3 Quá trình điều tra tạo tâm lý lo ngại về tương lai đối với các nhà kinh doanh khi bị điều tra Do việc điều tra tương đối phức tạp, kết quả không thể lường trước được nên nhà kinh đoanh khi bị điều tra sẽ lo ngại về rủi
ro bị đánh thuế chống trợ cấp Nhà sản xuất hàng hoá bị điều tra sẽ cố tìm WTOSe:A_wio work\etai scm\bao ve cup bo de tai semNinal drafLdoc 20
Trang 30thị trường khác ổn định, ít rủi ro hơn để bán hàng còn nhà nhập khẩu
hàng hoá đó có thể sẽ phải đi tìm nguồn cung cấp khác an toàn hơn
"Trên thực tế, dù nhà kinh doanh lớn hay nhỏ, nhiều hay ít kinh nghiệm đều chịu ảnh hưởng của một trong số các tác động trên Đối với các nhà kinh doanh lớn,
đã có chỗ đứng vững chấc trên thị trường thì tác động về thông tin và tâm lý (tác động 2 và 3) là quan trọng hơn cả Đối với các nhà kinh doanh nhỏ hoặc đối với các
thị trường nhỏ, mới thì tác động về chỉ phí (tác động L) nhiều khi được quan tâm
nhất
Do có tác động hạn chế nhập khẩu như trên nên trong một số trường hợp, các nhà sản xuất trong nước có thể lợi dụng đệ đơn yêu cầu điều tra áp dụng thuế chống trợ cấp chỉ nhằm lợi dụng tác động tiêu cực của quá trình điều tra đến hàng nhập
khẩu Theo một điều tra tại thị trường Hoa kỳ, có từ 3-4% số vụ đệ đơn rơi vào
trường hợp này” Trường hợp các nhà sản xuất trong nước đã lợi dụng sự phức tạp của thủ tục điều tra để gây khó khăn cho hàng nhập khẩu như vậy tuy không nhiều nhưng có tác động tiêu cực đến hàng của nước ngoài, nhiều khi làm mất hẳn khả
năng xuất khẩu của các nhà cung cấp nhỏ, thiếu kinh nghiệm ứng phó
Trong các trường hợp còn lại, người nộp đơn yêu cầu đánh thuế chống trợ cấp
có thể thực sự muốn cơ quan có thẩm quyền đánh thuế chống trợ cấp để bảo vệ họ
Tuy nhiên, chắc chấn cũng không ít trường hợp muốn có “một mii tên trúng hai
đích”: vừa hạn chế nhập khẩu khi áp dụng thuế, vừa gây phiển nhiễu cho hàng nhập khẩu là đối tượng bị điều tra đánh thuế chống trợ cấp
2.1.2 Tác động khi đánh thuế chống trợ cấp
() _ Tác động đến hàng nhập khẩu
Khi đã đánh thuế chống trợ cấp thì tác động của loại thuế này đối với hàng nhập khẩu không khác gì khi đánh thuế nhập khẩu thông thường: thuế chống trợ
cấp làm tăng giá hàng nhập khẩu và giảm lượng nhập khẩu Biểu đồ sau minh họa
tác động của việc đánh thuế chống trợ cấp đến giá và lượng hàng nhập khẩu theo
thời gian Trong biểu đồ này, T là thời gian, P”, là giá nhập khẩu trong một đơn vị
thời gian t, Q", là lượng nhập khẩu trong một đơn vị thời gian t
?" Theo Staiger & Wolak, 1994, NBER
Trang 31(a) Giá nhập khẩu (b) Lượng nhập khẩu
(1ñ) Tác đông đến các đối tương khác nhau
> Tác động đối với chính phủ nước áp dụng:
Cũng giống như khi đánh thuế nhập khẩu thông thường, thuế chống trợ cấp đem lại nguồn thu cho nhà nước Tuy nhiên, nguồn thu trên thường không lớn, chỉ
chiếm một bộ phận không đáng kể trong nguồn thu ngân sách của các quốc gia
Thêm nữa, việc điều tra trước khi đánh thuế và công tác quản lý thuế khi đã đánh
thuế cũng tương đối phức tạp, tốn nhiều kinh phí Đồng thời, tuy thuế tăng nhưng lượng nhập khẩu lại giảm nên chưa chắc tổng thu đã tăng đáng kể Chính vì vậy, việc đem lại nguồn thu chỉ có vai trò thứ yếu và do vậy thường không làm ảnh
hưởng đến quyết định có đánh thuế chống trợ cấp hay không
Như đã trình bày ở trên, việc đánh thuế chống trợ cấp có tác dụng làm tăng giá
sản phẩm nhập khẩu và giảm lượng nhập khẩu Do vậy, nhà sản xuất mặt hàng bị
đánh thuế hoặc nhà sẳn xuất các mặt hàng trực tiếp cạnh tranh với mặt hàng đó tại
nước nhập khẩu sẽ được hưởng lợi Có thể nói việc đánh thuế chống trợ cấp trong tất
cả các trường hợp đều nhằm bảo vệ lợi ích cho các nhà sẵn xuất trong nước
> Tác động đối với người tiêu thụ sản phẩm (người tiêu dùng hoặc người sử
dụng sản phẩm nhập khẩu làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất):
Ngược lại với các nhà sản xuất trong nước, người tiêu thụ sản phẩm lại là đối
tượng chịu thiệt khi một nước quyết định đánh thuế chống trợ cấp Trước khi đánh
thuế chống trợ cấp, người tiêu thụ được hưởng khoản trợ cấp của chính phủ nước
2) Alan V Deardorff va Robert M Stern, OECD 1997, “Measurement Of Non-Tariff Barriers”, trang 81
WTOS\cA_wlo workMletai scm\buo ve cap bo de tai semNinal drafldoc 22
Trang 322.13
ngoài do được mua sản phẩm với giá rẻ Sau khi đánh thuế, phần lợi đó đã được
chuyển sang cho nhà sản xuất (và có thể một phần sang cho chính phủ nước đánh
thuế) Do vậy, chính phủ cũng cần tính đến lợi ích của người tiêu thụ trước khi quyết định có đánh thuế chống trợ cấp hay không
Tác động khi nước xuất khẩu thôi không trợ cấp hoặc nhà xuất khẩu đưa ra cam kết
về giá
Ngay cả khi cơ quan điều tra nhận thấy cần đánh thuế chống trợ cấp, quy định của WTO cũng như luật các nước cho phép nước tiến hành trợ cấp cam kết thôi
không trợ cấp hoặc nhà xuất khẩu mặt hàng đó cam kết tăng giá lên mức thích hợp
để đánh đổi lấy việc nước nhập khẩu không đánh thuế đối với mặt hàng đó nữa
Cam kết như trên có lợi cho nước sản xuất/xuất khẩu mặt hàng bị điều tra:
lợi vì nếu vẫn trợ cấp, hàng xuất khẩu sẽ bị đánh thuế chống trợ cấp khiến cho
số tiền trợ cấp mất tác dụng do nó chỉ đơn thuần chuyển từ chính phủ nước
tiến hành trợ cấp sang chính phủ nước đánh thuế chống trợ cấp Tuy nhiên, trường hợp này khó thực hiện nếu hàng được trợ cấp được xuất khẩu đến nhiều thị trường một lúc Khi đó, việc huỷ bỏ khoản trợ cấp sẽ làm ảnh hưởng
đến lợi thế xuất khẩu ở các thị trường thứ ba
> Trường hợp nhà kinh doanh đưa ra cam kết về giá (cao hơn mức giá được trợ
cấp): nhà kinh doanh hàng hoá đó vẫn được hưởng lợi từ khoản tiền trợ cấp
Tuy nhiên, khi đó hàng hoá sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh do giá đã được nâng
lên Cam kết về giá có thể đẫn đến việc mất thị trường nếu mức giá quy định
quá cao so với hàng cùng loại tại thị trường nhập khẩu, vì vậy đây cũng là điều doanh nghiệp thường cân nhắc và không phải doanh nghiệp nào cũng chấp nhận đưa ra cam kết về giá dù thoạt nhìn đây là hình thức có lợi hơn là
> Tác động răn de đối với chính phủ nước ngoài:
Một nước tiến hành trợ cấp với mục tiêu giúp cho một nhóm đối tượng nhất
định (đối tượng được hưởng trợ cấp) Vì vậy, trợ cấp chỉ phát huy tác dụng khi tạo ra
được lợi thế nhất định cho một số ngành sản xuất hoặc một số nhà sản xuất
nhất định
'WTOSNVA wto workVletat scnồbao ve cap bo de tai seminal draftdoe 23
Trang 33Trong thương mai quốc tế, trợ cấp là một: công cụ chính sách thương mại để
tăng cường khả năng cạnh tranh của một ngành đối với ngành tương tự của nước
khác Giả sử có hai nước X và Y cùng sản xuất và tiến hành xuất nhập khẩu một mặt hàng nhất định (Hình 4)
(i) Nếu hai nước cùng không trợ cấp, không nước nào có lợi thế so với nước kia
(0; 0)
Gi) Nếu nước X tiến hành trợ cấp:
© nước Y có thể đáp lại bằng cách trợ cấp đúng một khoản tương đương nước X, khi đó 2 nước cùng bị thiệt (-I; -L) đo phải trợ cấp mà không tạo được bất kỳ lợi thế nào trong cạnh tranh với nước kia;
® nước Y sẽ bị thiệt trong cạnh tranh nếu không có khả năng trợ cấp như nước nước X (-l; 1)
Nước X Không trợ cấp (0) "Trợ cấp (1) Nước Y
Hình 3: Hai nước X và Y sử dụng công cụ trợ cấp trong cạnh tranh quốc tế
Tuy nhiên, trong thương mại quốc tế, một nước nhỏ, thiếu thông tin và tiểm lực
kinh tế (như Việt Nam) rất có thể chịu thiệt trong cạnh tranh Trong phần lớn các trường hợp, nước nhỏ không có đủ tiền để trợ cấp bằng với khoản nước lớn khác đã trợ cấp (trường hợp -l; 1) Ngay cả khi có tiền để trợ cấp, không phải lúc nào một
nước nhỏ, thiếu thông tin cũng có thể áp dụng ngay trợ cấp (cần thời gian để thu thập số liệu, tổng hợp thông tin, xây dựng chương trình trợ cấp và các văn bản pháp
lý, v.v )
Một trong những công cụ giúp tránh được thiệt hại trong các trường hợp trên là dùng công cụ thuế chống trợ cấp Nếu nước X trợ cấp để xuất khẩu hàng hoá sang nước Y; nước Y có thể không cần trợ cấp lại cho ngành sản xuất trong nước của
mình mà chỉ cần áp dụng thuế chống trợ cấp đối với hàng của nước X Vì vậy, nếu biết chắc rằng nước Y sẽ đánh thuế chống trợ cấp đối với hàng của nước mình, nước
X sẽ không tiến hành trợ cấp nữa
'WTOSMvA wlo workVlctai senÀbao ve cấp họ de tái semNinal drafLdoc 24
Trang 34Trong nhiều trường hợp, nước X có thể trợ cấp cho hàng của nước mình để
bán sang nhiều nước khác nhau (ví dụ nước Y và Z) Khi đó, nước X vẫn tiến hành trợ cấp mặc dù biết nước Y sẽ đánh thuế chống trợ cấp vì hàng của nước X vẫn có
thể được hưởng lợi khi bán vào nước Z Tuy nhiên, trong trường hợp này, tác dụng
răn đe của thuế chống trợ cấp vẫn còn Nếu biết nước Y sẽ đánh thuế chống trợ cấp, các nhà kinh doanh khi muốn bán hàng của nước X vào nước Y sẽ tự động
tăng giá ngang với giá trị thực của hàng hoá (giá nếu không được trợ cấp) vì sợ bị
đánh thuế chống trợ cấp Như vậy, sản xuất trong nước tại nước Y không bị ảnh
hưởng của khoản trợ cấp của nước X
2.2.2 Tác động nlut con bai trong dam phan
Tính chất của thuế chống trợ cấp rất phức tạp, việc áp dụng hay không áp dung thuế chống trợ cấp phụ thuộc rất nhiều vào cách điều tra, tính toán Đồng thời, trong thương mại quốc tế ngày nay, rất nhiều nước tiến hành trợ cấp cho hàng hoá xuất khẩu nên khả năng có thể áp dụng thuế chống trợ cấp ngày càng cao
Vì vậy, khi xảy ra một cuộc “chiến tranh” hay tranh chấp trong thương mại, một nước có thể điều tra hoặc áp dụng thuế chống trợ cấp để làm con bài mặc cả trước khi bước vào đàm phán Công cụ thuế chống trợ cấp đặc biệt hiệu quả trong
trường hợp này vì đây là công cụ có thể đánh trực tiếp vào một nước
"Trong thương mại quốc tế, thuế chống trợ cấp là một công cụ tương đối khó áp
dụng do tính chất phức tạp của nó Tuy nhiên, khi có thể áp dụng, loại thuế này là một công cụ chính sách thương mại tương đối hiệu quả:
tế cho phép Trợ cấp được coi là một biện pháp tạo lợi thế cạnh tranh bất bình
dẳng trong thương mại quốc tế Vì vậy, việc áp dụng thuế chống trợ cấp để triệt tiêu lợi thế hàng hoá nước ngoài nhận được là công cụ được nhiều nước
áp dụng và được WTO công nhận
>_ Đây là công cụ tương đối đỡ tốn kém cho chính phủ Để chống lại khoản trợ
cấp của nước ngoài, chính phủ có thể sử dụng một số các công cụ khác nhau:
trợ cấp lại cho sản xuất trong nước; khiếu kiện ra WTO và áp dụng thuế chống trợ cấp Trong số các công cụ trên, chỉ có thuế chống trợ cấp là tạo ra
nguồn thu cho chính phủ Để áp dụng các công cụ khác chính phủ phải mất một khoản kinh phí tương đối lớn Chính vì vậy, đây là công cụ hiệu quả cho
các nước nghèo
được áp dụng sau khí đã điều tra và xác định có tổn tại trợ cấp và chỉ được áp dụng tối đa bằng mức trợ cấp hàng nước ngoài đã nhận được Do vậy, việc áp dụng thuế chống trợ cấp giúp cho chính phủ có thể tránh được việc bảo hộ thái quá hoặc sai đối tượng
Trang 35> _ Thuế chống trợ cấp mang tính nhanh nhạy vì sử dụng các thông tin do doanh
nghiệp cung cấp Nếu hàng nước ngoài đo nhận được trợ cấp gây cạnh tranh bất bình đẳng thì trong phần lớn các trường hợp, các doanh nghiệp bị ảnh hưởng sẽ là những người đầu tiên nắm được thông tin này Thuế chống trợ cấp
được áp dụng chủ yếu dựa trên khiếu nại và thông tin của doanh nghiệp Vì
vậy, đây là công cụ hiệu quả, nhanh nhạy hơn so với các công cụ truyền thống khác
Tuy nhiên, khi áp dụng thuế chống trợ cấp cần lưu ý một số yếu tố sau:
- Thuế chống trợ cấp đánh vào biện pháp trợ cấp được một chính phủ nước ngoài thực hiện Vì vậy, thuế chống trợ cấp gián tiếp đánh vào chính phủ nước
ngoài Khi áp dụng thuế chống trợ cấp cần lưu ý rất dễ gây phản ứng tiêu cực từ nước áp dụng trợ cấp Đây là lý do khiến nhiều nước muốn áp dụng thuế chống bán phá giá hơn là thuế chống trợ cấp vì thuế chống bán phá giá đánh vào doanh
nghiệp;
không sẽ rất dễ gây phản ứng tiêu cực từ các đối tác thương mại
mại quốc tế
Như đã phân tích ở phần trên, thuế chống trợ cấp là một công cụ góp phần đảm bảo hiệu quả, tạo sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài khi tham gia thương mại quốc tế
Thực tế thuế chống trợ cấp cũng là công cụ bảo vệ trong thương mại được hình thành sớm nhất Thuế chống trợ cấp đã xuất hiện trên thế giới từ những năm 1890,
trước cả thuế chống bán phá giá (năm 1904) và các biện pháp tự vệ?? Điều này cho
thấy thuế chống trợ cấp là một công cụ rất cần thiết trong thương mại quốc tế và cũng được các nước công nhận Thuế chống trợ cấp đặc biệt cần thiết trong các bối cảnh sau:
- _ Nền kinh tế hội nhập càng sâu càng cần thuế chống trợ cấp: Khi nền kinh tế
hội nhập sâu cũng có nghĩa là sản xuất trong nước “nhạy cảm” hơn với các
biến động trên thị trường quốc tế, trong- đó có trợ cấp của nước ngoài Chính
vì vậy, khi nên kinh tế hội nhập sâu cũng là lúc cần các công cụ chính sách
để đảm bảo sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài Thực tế, công cụ thuế chống trợ cấp cũng như thuế chống
bán phá giá phát sinh vào những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 là giai
đoạn các hoạt động xuất nhập khẩu ở các nước phương Tây có phát triển vượt bậc do có sự phát triển của đội tầu biển cũng như lợi nhuận lớn trong giao thương với các nước thuộc địa;
?2 Tài liệu của WTO: TN/R1/W/27 ngày 22/10/2002
Trang 36- _ Thuế chống trợ cấp cần thiết khi các hàng rào bảo hộ truyền thống mất đi:
Khi các công cụ bảo hộ truyền thống được giảm dần thì nhu cầu đối với các
công cụ thay thế cũng tăng lên Thuế chống trợ cấp chính là một công cụ
giúp doanh nghiệp trong nước yên tâm hơn khi nhà nước cắt giắm và loại bỏ
các công cụ bảo hộ truyền thống như các biện pháp hạn chế định lượng, thuế
nhập khẩu v.v Thực tế trong hoạt động của WTO, các nước đều công nhận thuế chống trợ cấp và các công cụ bảo vệ trong thương mại chính là một hình
thức “bôi trơn” giúp đàm phán thương mại tiến xa hơn Chính vì vậy, mặc dù chỉ có một số ít nước thực tế áp dụng thuế chống trợ cấp nhưng hầu hết các
nước đều xây dựng khung khổ pháp lý để có thể áp dụng thuế chống trợ cấp;
- _ Thuế chống trợ cấp cần thiết trong bối cảnh chưa có các quy định quốc tế loại trừ triệt để các công cụ trợ cấp bóp méo thương mại Như đã phan tích ở phần
trên, nhiều hành vi trợ cấp có tác động xấu đến thương mại quốc tế trong khi
hiện tại WTO chưa có các quy định để loại bỏ chúng một cách triệt để Trợ
cấp chính là chủ đề gây nhiều tranh cãi, tranh chấp trong thương mại quốc tế
và là đối tượng đàm phán gay go tại vòng đàm phán mới của WTO (Chương
trình Nghị sự Doha vì sự phát triển) Trong bối cảnh các nước vẫn áp dụng các hình thức trợ cấp một cách khá tràn lan như vậy, công cụ thế chống trợ
cấp luôn là công cụ cần thiết, kể cả trong trường hợp một nước không có nhu cầu áp dụng nhiều để làm công cụ răn đe và tạo lợi thế trong đàm phán
5 _ Tiền đề áp dựng thuế chống trự cấp
Để áp dụng thuế chống trợ cấp cần có những tiền để cơ bản về pháp lý (hệ
thống văn bản pháp luật), hạ tầng cơ sở hữu hình và vô hình (bộ máy thực thi phối hợp hiệu quả với các cơ quan liên quan), nguồn nhân lực (cán bộ đủ năng lực) cũng
như cần có sự hiểu biết đáng kể của các giới, đặc biệt là doanh nghiệp
5.1 Khung khổ pháp lý điêu chỉnh trực tiếp và hỗ trợ
5.1.1 Văn bản điêu chỉnh trực tiếp:
Do thuế chống trợ cấp chỉ được áp dụng sau khi có điều tra theo một trình tự,
thủ tục chặt chế nên đồi hỏi trước tiên để áp dụng được công cụ thuế chống trợ cấp
là phải có một hành lang pháp lý điều chỉnh công cụ này Tuy nhiên, tuỳ điều kiện
cụ thể mà mỗi nước có thể thiết kế bộ khung pháp lý điều chỉnh thuế chống trợ cấp theo cách riêng của mình
tế về thuế chống trợ cấp, cụ thể trong trường hợp này là các quy địng của WTO Điều này chỉ có thể thực hiện được với điều kiện hệ thống luật pháp của các nước
này cho phép áp dụng trực tiếp các quy định của quốc tế mà không cần nội luật hoá Các nước lựa chọn làm theo cách này cũng thường là những nước không có dự định
- 4p dụng thuế chống trợ cấp một cách thường xuyên Thực tế trên thế giới cũng chỉ
có một vài nước (Hoa kỳ, EU, Canada, Brazil) thường xuyên áp dụng thuế chống trợ
Trang 37cấp, các nước còn lại không áp dụng hoặc áp dụng rất ít Vì vậy, một số nước quyết
định không cần thiết phải xây dựng hệ thống văn bản pháp luật của riêng mình
- Nhiều nước đã lựa chọn cách xây dựng hệ thống văn bản riêng phù hợp với các chuẩn mực của WTO Tuy nhiên, những văn bản này có thể được quy định một cách chi tiết hoặc lương đối chung chung Những nước lớn, có tiểm lực mạnh, có nhu cầu thường xuyên áp dụng thuế chống trợ cấp (ví dụ như BU, Hoa kỳ, Canada) thường quy định một cách chỉ tiết nhất có thể Các quy định của họ thường đi trước và chỉ tiết hơn các quy định của WTO Việc quy định chung thường rơi vào trường hợp các nước còn ít kinh nghiệm, muốn xây dựng các quy định không quá cụ thể để tránh đưa ra những quy định không hoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực quốc tế (ví dụ như Trung quốc, Indonesia v.v )
3.1.2 Các văn bản hỗ trợ cho việc áp dụng thuế chống trợ cấp:
Để áp dụng thuế chống trợ cấp còn cần có sự hỗ trợ của một số văn bản khác như quy tắc xuất xứ hàng hoá và các quy định về thu thuế nhập khẩu áp dụng riêng
cho thuế chống trợ cấp
Thuế chống trợ cấp được đánh vào hàng hoá của một nước cụ thể Vì vậy, không thể áp dụng thành công thuế chống trợ cấp nếu không xây dựng được các quy định về xuất xứ hàng hoá và thực thi có hiệu quả các uy định này Các quy định về xuất xứ hàng hoá có thể được xây dựng chung cho nhiều mục đích khác nhau như quản lý chung về nhập khẩu, thuế nhập khẩu mang tính phân biệt giữa các nguồn khác nhau, thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, ghi nhãn sản phẩm v.v nhưng cũng có thể được xây dựng riêng cho trường hợp áp dụng thuế chống trợ cấp cũng như các công cụ phòng vệ trong thương mại khác (tự về và thuế chống bán
phá giá)
Nhìn chung, việc thu thuế chống trợ cấp có nhiều điểm không khác biệt nhiều
so với thu thuế nhập khẩu Vì vậy, phần lớn các quy định về thu thuế nhập khẩu có thể được mở rộng cho việc áp dụng thuế chống trợ cấp Tuy nhiên, quá trình thu thuế chống trợ cấp cũng có nhiều điểm đặc thù, cần có quy định riêng Ví dụ, thuế chống trợ cấp có thu tạm thời (khi chưa có quyết định cuối cùng và thu chính thức (sau khi cơ quan điều tra ra quyết định chính thức) là hình thức không có đối với thuế nhập khẩu thông thường Đồng thời, trong quá trình thu thuế chống trợ cấp, cơ quan thu thuế cũng cần thường xuyên rà soát thuế suất và nguồn hàng để tránh các hình thức trốn thuế Do vậy, các quy định về thu thuế chống trợ cấp cần có một số
điểm chặt chế hơn so với thuế nhập khẩu thông thường
5.2 Tổ chức bộ máy:
Để có thể áp dụng được thuế chống trợ cấp, về mặt quản lý nhà nước cẩh có sự
tham gia của:
WTOSc:\_wio work\dctai semhae ve cap bo de tài scinMinal draft.doc 28
Trang 38- Co quan tiển hành điều tra có thẩm quyén xem xét hồ sơ khiếu kiện, điều tra trợ cấp, thiệt hại và mối quan hệ giữa chúng để làm cơ sở ra quyết định đánh thuế hoặc áp dụng các biện pháp khác;
- Cơ quan hành thu chịu trách nhiệm thu thuế sau khi đã có quyết định đánh
thuế;
- _ Các cơ quan phối hợp đóng vai trò cung cấp thông tin và phối hợp trong quá
trình điều tra, thực thi các biện pháp chống trợ cấp
5.3 Yéu edu vé nhdn luc
Đội ngũ cán bộ tham gia trực tiếp vào quá trình điều tra phải có trình độ
chuyên môn sâu và có nhiều kinh nghiệm, do đó cần liên tục được đào tạo về lý
thuyết và tập huấn kinh nghiệm Việc phân tích và đánh giá mức độ trợ cấp đòi hỏi phải có hiểu biết về thực tiễn thương mại, trình độ kế toán, trình độ về kinh tế và khả
năng phân tích pháp luật cao Việc xác định mối quan hệ giữa trợ cấp và thiệt hại cũng có những đòi hỏi tương tự, đặc biệt là về trình độ kinh tế
Để quản lý tốt công tác thu thuế đối với hàng nhập khẩu được trợ cấp đòi hỏi
phải có một đội ngũ cán bộ hải quan được huấn luyện chuyên môn về lĩnh vực này,
đặc biệt là những cán bộ trực tiếp hoạt động tại các cửa khẩu Cán bộ hải quan thường liên quan đến những khâu như: kiểm soát hàng nhập khẩu khi có yêu cầu của
cơ quan điều tra nhằm ngăn chặn hậu quả phát sinh (sau khi có kết luận điều tra sơ
bộ); tính toán và thu thuế trên cơ sở quyết định của cơ quan có thẩm quyền; truy thu hoặc bồi hoàn thuế tạm thời
Ngoài việc chú trọng đầu tư đào tạo để xây dựng một đội ngũ cán bộ có trình
độ và chuyên môn sâu, điều kiện làm việc là yếu tố không thể tách rời Việc áp dụng
thuế chống trợ cấp cũng đòi hỏi phải đầu tư một chỉ phí đắng kể vào các trang thiết
bị và cơ sở vật chất phục vụ điều tra, thu thuế
5.4 Nhận thức của doanh nghiệp:
Tương tự như bán phá giá, đa số các vụ tranh chấp về trợ cấp thường phát sinh khi có tín hiệu từ phía các doanh nghiệp đại diện cho ngành sản xuất trong nước Một khi đã xây dựng các quy định về chống trợ cấp, nước áp dụng công cụ chống
trợ cấp cần phổ biến rộng rãi cho các doanh nghiệp về sự tồn tại của công cụ này và
cách thức áp dụng để bảo vệ quyên lợi của họ
Trang 39CHUONG II: QUY ĐỊNH CUA WTO VA THUC TIEN
AP DUNG THUE CHONG TRO CAP CUA MOT SO NUGC
I DIEU KIEN VA THU TUC AP DUNG THUE CHONG TRO CAP THEO QUY
DINH CUA WTO
"Theo qui định của WTO, nước nhập khẩu có quyền áp dụng thuế chống trợ cấp khi chứng minh được:
(i) có trợ cấp mang tính riêng biệt: hàng nhập khẩu được hưởng lợi ích từ một khoản trợ cấp có thể bị đánh thuế chống trợ cấp;
() có thiệt hai vat chat: ngành sản xuất hàng hóa tương tự trong nước nhập khẩu
bị thiệt hại;
(1ñ) có quan hệ nhân quả: hàng nhập khẩu được trợ cấp là nguyên nhân gây ra
thiệt hại đối với ngành sản xuất của nước nhập khẩu
Các nội dung trên đây có quan hệ đan xen và liên kết chặt chế với nhau Do vậy, việc tách thành các mục nhỏ dưới đây chỉ mang ý nghĩa tương đối, nhằm mục đích thuận tiện và đễ hiểu hơn trong khi phân tích
1.1 Bằng chứng đầy đủ về hành vi trợ cấp của nước ngoài
Để có thể đánh thuế chống trợ cấp, bước đầu tiên là nước nhập khẩu phải chứng minh được rằng sản phẩm nhập khẩu đang được hưởng lợi ích từ một khoản
trợ cấp có thể bị đánh thuế chống trợ cấp (countervailable subsidy) theo quy định của Hiệp định SCM
Điều 11.2 của Hiệp định SCM quy định nước nhập khẩu chỉ bắt đầu điều tra để
xác định sự tồn tại, mức độ và tác động của biện pháp bị cáo buộc là trợ cấp khi có
để nghị bằng văn bản của một ngành sản xuất hoặc đại diện của ngành sản xuất
trong nước Kèm theo văn bản này, người để nghị phải cung cấp các bằng chứng mô
tả đây đủ về sản phẩm bị coi là trợ cấp, tên nước (hay những nước) xuất xứ (hoặc xuất khẩu) sản phẩm đó và bằng chứng về sự tôn tại, số lượng và tính chất của trợ cấp
1.1.1 Khái niệm về trợ cấp của WTO
Trước khi Hiệp định SCM ra đời, quy định của GATT liên quan tới trợ cấp chủ yếu là Điều XVI GATT 1947, trong đó bất kỳ hình thức hỗ trợ giá hoặc hỗ trợ thu nhập nào cũng bị coi là trợ cấp Năm 1960, Báo cáo của Ban hội thẩm về Trợ cấp khi xem xét trường hợp ấn định giá trong nước của hàng hóa ở mức cao hơn giá thế giới có thể bị coi là trợ cấp hay không theo Điều XVI đã đi đến nhận định: “Nhìn chung, người ta nhất trí rằng một chương trình theo đó chính phủ, bằng các biện
pháp trực tiếp hoặc gián tiếp, duy trì một mức giá nội địa cao hơn giá thế giới thông
qua việc mua vào và sau đó bán ra chịu lỗ là trợ cấp Tuy nhiên, cũng có những trường hợp khác khí chính phủ duy trì một mức giá cố định cao hơn giá thế giới mà
WTOS\c:\_wlo workVlcti senÀbao ve cấp bố de túi scmNinal drafL dọc 30
Trang 40lại không bị coi là trợ cấp như trường hợp chính phủ ấn định mức giá tối thiểu đối với nhà sản xuất thông qua việc duy trì hạn chế định lượng hoặc cơ chế thuế quan
lình hoạt Trong những trường hợp như vậy, chính phủ không có thiệt hại hay thua
lỗ, do đó, biện pháp của chính phủ không chịu sự điều chỉnh của Điêu XVT"
Theo Điều 1 của Hiệp định SCM, zrợ cấp (subsidy) được định nghĩa như một
khoản đóng góp tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp của chính phủ (hoặc tổ chức nhà
nước/công) của một nước thành viên mà khoản đóng góp đó đem lại lợi ích cho ngành (hoặc doanh nghiệp) được nhận trợ cấp
Định nghĩa này gồm ba ¥ quan trong: (i) một khoản đóng góp tài chính (ii) của một chính phủ (hoặc bất kỳ một tổ chức nhà nước/công nào) của một nước thành viên, và (111) đem lại lợi ích cho ngành hoặc doanh nghiệp được nhận trợ cấp Trợ
cấp chỉ tồn tại khi cả ba yếu tố này cùng được thoả mãn
a _ Đóng góp tài chính: Hiệp dịnh quy định rằng các trường hợp dưới đây được coi là có sự đóng góp tài chính:
khả năng chuyển vốn hoặc chuyển nghĩa vụ trực tiếp (ví dụ như bảo lãnh vay);
Gi) Chính phủ miễn hoặc không thu các khoản mà đáng lẽ ra đối tượng liên
quan phải nộp (ví dụ như miễn, giảm thuế);
(iii) Chính phủ cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ khác ngoài cơ sở hạ tầng nói chung (ví dụ như nguyên vật liệu, nhà xưởng, v.v ) hoặc chính phủ mua hàng hoá của đối tượng liên quan;
Œv) Chính phủ trả tiền cho một cơ chế tài trợ, hoặc uỷ thác hoặc chỉ đạo một
tổ chức tư nhân đứng ra thực hiện các chức năng nói trên
Ví dụ: Chính phủ tạm thời miễn cho một cơ sở sản xuất đang lâm vào tình
trạng khó khăn về tài chính không phải tuân thủ luật chống ô nhiễm môi trường
Như vậy, chính phủ đã dành cho cơ sở sản xuất đó những ưu đãi về pháp luật (regulatory privileges) chứ không phải ưu đãi về tài chính Do không có yếu tố về sự
đóng góp tài chính, biện pháp nói trên của chính phủ không phải là trợ cấp (mặc dù
doanh nghiệp được hưởng lợi từ việc không phải đầu tư khoản tiền nhằm mục đích
bảo vệ môi trường)
b Do chính phủ (hoặc một tổ chức nhà nước/công nằm trong lãnh: thổ của
nước thành viên) thực hiện
Cần lưu ý rằng sự đóng góp tài chính phải do chính phủ hoặc một tổ chức nhà nước/công đứng ra trực tiếp thực hiện hoặc được thực hiện theo chỉ đạo của chính phủ hoặc một tổ chức nhà nước/công thì mới được coi là trợ cấp Như vậy, Hiệp định SCM không chỉ áp dụng với các biện pháp của chính quyển trung ương mà cả chính quyên địa phương, cũng như các biện pháp do các tổ chức nhà nước/công như công
ty thuộc sở hữu Nhà nước tiến hành
Ví dụ: Nếu một tổ chức phi chính phủ tư (private non-governmental body) hỗ
trợ kỹ thuật và tài chính cho người trồng cà phê thì đây chỉ là trợ giúp tư nhân chứ
3 1