1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học một số loài sâu hại chủ yếu cây thầu dầu làm cơ sở cho việc đề xuất phòng trừ tổng hợp tại thị trấn xuân mai, huyện chương mỹ, thành phố hà nội​

78 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 7,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (10)
    • 1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước (12)
    • 1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước (17)
  • Chương 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (20)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (20)
      • 2.1.1. Mục tiêu chung (20)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (20)
    • 2.2. Địa điểm nghiên cứu (20)
    • 2.3. Thời gian nghiên cứu (20)
    • 2.4. Nội dung nghiên cứu (20)
    • 2.5. Phương pháp nghiên cứu (21)
  • Chương 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (32)
    • 3.1. Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ và sự phân chia hành chính (32)
    • 3.2. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu (32)
      • 3.2.1. Địa hình (32)
      • 3.2.2. Đất đai (32)
    • 3.3. Điều kiện kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu (33)
  • Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (35)
    • 4.1. Thành phần các loài sâu hại chủ yếu trên cây Thầu dầu (35)
    • 4.2. Xác định các loài sâu hại chủ yếu (39)
    • 4.3. Đặc điểm sinh vật học các loài sâu hại Thầu dầu (42)
      • 4.3.1. Sâu hại lá Thầu dầu .............................................................................................................................................................. 31 4.3.2. Sâu Vòi voi hại quả Thầu dầu .............................................................................................................................................................. 37 4.3.3. Bọ hung nâu nhỏ hại rễ Thầu dầu .............................................................................................................................................................. 38 4.4. Đặc điểm sinh thái học của các loài sâu hại Thầu dầu chủ yếu (42)
      • 4.4.1. Quan hệ của loài sâu hại chủ yếu với cây Thầu dầu .............................................................................................................................................................. 40 4.4.2. Ảnh hưởng của một số nhân tố phi sinh vật đến loài sâu hại chủ yếu .............................................................................................................................................................. 45 4.4.3. Quan hệ của loài sâu hại chủ yếu với thiên địch .............................................................................................................................................................. 48 4.5. Đề xuất một số biện pháp phòng trừ đối với các loài sâu hại cây Thầu dầu (51)

Nội dung

Việc nghiên cứu tạo giống Thầu dầu cho năng xuất cao là điều mới mẻ ở nước ta và là điều cần thiết.Tuy nhiên, trong khi trồng cây không thể tránh khỏi một số loài sâu bệnh nguy hiểm, ảnh

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Từ năm 2000 đến nay do nhu cầu về nhiên liệu sạch thay thế dầu khí cạn kiệt và gây ô nhiễm môi trường đang trở thành nhu cầu không thể thiếu được Cho nên, nhiều nước đã phát triển các loài Thầu dầu lai cho năng xuất cao Các nước có Thầu dầu phân bố là Angola, Kenia, Xudang, Ecuador, Paraguay, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Iran, Thái Lan, Nga, Rumania Các nước có sản xuất dầu từ Thầu dầu là: Ấn Độ, Trung Quốc, Brazin, Philippin, Pakistan và Nga Theo thống kê năm 1985 - 1986 đạt 1.126.800 tấn, năm

1987 - 1988 là 883 nghìn tấn, năm 1989 - 1990 tổng sản lượng hạt Thầu dầu là 1.046.000 tấn Các nước nhập khẩu dầu là Pháp, Mỹ, Nga, Nhật, Đức, Anh,

Hà Lan Ngày nay nước sản xuất hạt nhiều nhất là Ấn Độ (72%) Trung Quốc (20%), Brazin (8%) Diện tích trồng Thầu dầu trên thế giới là 1.100.000 ha. Hàng năm thế giới cần 700.000 tấn dầu, mà khả năng cung cấp chỉ được một nửa.(Zhong Deyu, 2011)

Dầu Thầu dầu lấy từ hạt được 50%, lấy từ hạt bóc vỏ được 70%, hàm lượng protein 18% Theo Po Wenwei (2011) lượng dầu Thầu dầu thế giới chỉ 2,5 triệu tấn, không đủ nguyên liệu để chế biến dầu của các nhà máy Giá hạt Thầu dầu hiện nay là 16.000 NDT/tấn ≈ 50 triệu VND dùng cho nhu cầu dầu đốt sinh học Năm 2008 Trung Quốc cần 12 triệu 400.000 tấn dầu sinh học.

Về ý nghĩa kinh tế cây Thâu dầu: Phải nói rằng cây Thầu dầu là cây được sử dụng khá triệt để từ lá, cành, ngọn, hạt, rễ không loại bỏ một phần nào Hiện nay sản phẩm Thầu dầu không chỉ là nhu cầu trong nước mà cả trên thế giới Thầu dầu có giá trị kinh tế rất cao tỷ lệ cho dầu đạt 40 – 60% [hạt Cọc rào (Jatropha curcas) chỉ đạt 20 – 30%] Theo phân tích của Công ty công nghiệp Quý Châu, dầu Thầu dầu có 70% dầu, 18% protein trong dầu chủ yếu có 80% ricinoleic acid Thầu dầu không chỉ là nguyên liệu quan trọng mà còn là sản phẩm dầu “ màu xanh” hay “ nhiên liệu sinh học” thay thế dầu khí Dầu

Thầu dầu còn chứa nhớt nên làm dầu bôi trơn trong công nghiệp, làm dầu ăn, hương liệu, làm thuốc chữa bệnh, hóa mỹ phẩm, thuốc nhuộm, sợi nilon, chất dẻo, xà phòng, mực in, dầu máy, dầu da giầy.

Một đặc tính quan trọng của dầu Thầu dầu là không biến chất khi nhiệt độ cao 500 - 600 o C, không đông đặc ở nhiệt độ thấp dưới - 18 o C Cho nên dầu Thầu dầu là nguyên liệu duy nhất dùng bôi trơn máy bay, tàu thuyền, xe ô tô và các máy móc tinh vi Theo phân tích của Mỹ, Tây Âu, dầu Thầu dầu có hơn 3.000 chất hoá học, nếu cần 1 tấn nilon -11 - chất (nếu cách nhiệt cường độ cao) cũng cần 3 - 4 tấn hạt Thầu dầu Theo tính toán năm 2010 cần 1 triệu tấn dầu, phải cần 2,4 triệu tấn hạt Thầu dầu Cũng theo điều tra của các chuyên gia Trung Quốc, hiện nay thị trường thế giới cần 10 triệu tấn hạt Thầu dầu mỗi năm, nhưng tổng sản lượng chỉ đạt 2 triệu tấn/năm Theo dự báo đến năm 2010 năng xuất hạt Thầu dầu có thể lên tới 5.000kg/ha.năm, nhưng cũng chỉ đáp ứng được một nửa nhu cầu (Zhong Deyu,2011)

Hạt Thầu dầu cũng dùng để chữa tiêu viêm, trừ tả, kết hạch đại tiện, kiết lỵ, viêm mũi họng

Một tài liệu của Thái Lan cho biết, thuốc Ayurverdic từ lâu đã được sử dụng dầu Thầu dầu chữa đau thần kinh tọa, đau lưng và thấp khớp Tại quần đảo Canary dầu Thầu dầu được sử dụng để ngăn ngừa núm vú bị đau ở bà mẹ cho con bú và cũng được cọ xát vào tóc để ngăn ngừa rụng tóc sau khi sinh. (Pattaya, 2006).

Cũng theo nhiều tài liệu nước ngoài lá Thầu dầu có thể nuôi tằm Mỗi ha cho 15.000kg lá, nuôi 10.000 con tằm chỉ cần 350kg thu được 4kg tơ, 15 – 20kg nhộng cho thu nhập 1 triệu đến 1,2 triệu VNĐ (tính chuyển đổi), thu được 150kg phân tằm đây là loại phân rất tốt Như vậy nếu chỉ thu nhập từ lá Thầu dầu đã được 5 -7 triệu đồng/ha.

Một số tài liệu trong và ngoài nước đều đề cập đến bã ép Thầu dầu chứa nhiều protein, axit amin nên có thể làm thức ăn gia xúc sau khi khử chất độc ricin Cây Thầu dầu có mọc ở các vùng đất hoang hóa trong đó phần lớn là ở miền núi tạo cho dân nghèo có nguồn thu nhập rõ rệt cũng còn có thể lục hóa đồi trọc và có hiệu ích sinh thái rõ rệt.

Hiện nay, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc là những nước phát triển cây Thầu dầu rất mạnh Họ đã lai tạo được các giống mới cao sản như giống Sơn Đông, giống Quý Châu, giống Vân Nam, giống Thái Lan Năng xuất từ 1.000kg/ha.năm lên đến 3.000kg – 6.000kg/ha.năm (Zhong Deyu, 2011).

Về tác dụng của Thầu dầu nhiều tài liệu của Trung Quốc đề cập đến thành phần hoá học y dược như Protein 18%-26%oil 64%-71% , Carbohydrate 2%,Phe-nolic dubstance 2.50%, Ricin và Ricinine 0.087%- 0.15%, Triglyceridev và Glycerol ester còn có một số ít các chất Sterol, Phospholipid , Free fattyacid , Hydrocarbon,Wax , Ricinoleic acid 84%- 91% , Oleic acid 3.l%-5.9% Linoleic acid 2.9%-6.5%, Stearic acid1.4%- 2.1% , Palmitic acid 0.9%-1.5% Trong đó, Phosphatidyl ethanolamine 83%,Phosphatidyl choline 13%

Chúng có thể chữa được 17 loại bệnh trong cơ thể con người đặc biệt là các bệnh về nội tạng.

Về sâu hại Thầu dầu có thể nói như cây nông nghiệp khác có rất nhiều loài sâu và đã được các tác giả Trung Quốc, Ấn Độ nghiên cứu đến.

Trong các tài liệu về sâu hại Thầu dầu phải kể đến Liu Wenrong (1991) đã đề cập đến 94 loài sâu hại, 9 loài bệnh hại Trong đó, có Ruồi đục lá Thầu dầu Liriomyza trifolii (Burgess) Họ: Agromyzyiidae; Bộ Hai Cánh (Diptera) và đã mô tả như sau:

Sâu trưởng thành rất nhỏ, dài từ 1,3 - 1,5 mm, màu đen bóng, nhưng một phần cơ thể, gồm cả phiến mai trên ngực có màu vàng Mắt kép màu đen bóng.

Cánh trước có chiều dài khoảng 1,4 mm, rộng 0,60 mm Cánh sau thoái hóa còn rất nhỏ, màu vàng nhạt Bụng và chân có nhiều lông, chân màu vàng, đốt chày và đốt bàn màu đen, bàn chân 5 đốt, đốt cuối có 2 móng cong màu đen Trứng rất nhỏ, màu trắng hồng, tròn, đường kính khoảng 0,2 mm. Ấu trùng có chiều dài khoảng 2mm, màu vàng nhạt khi mới nở, sau chuyển thành màu vàng đậm Cơ thể có 10 đốt, miệng dạng móc câu màu đen Thời gian phát triển của ấu trùng từ 3 - 4 ngày.

Nhộng có chiều dài khoảng 1,5mm, rộng 0,7mm Thời gian phát triển của nhộng từ 6 - 8 ngày.

Tác giả Liu Wenrong cũng đã đề cập đến các biện pháp phòng trừ ruồi đục lá như sau:

+ Làm sạch cỏ chung quanh ruộng dưa trước khi xuống giống.

+ Cày sâu sau khi thu hoạch.

+ Áp dụng màn phủ nông nghiệp.

Tình hình nghiên cứu trong nước

Cây Thầu dầu đã được nhập vào Trung Quốc hơn 1400 năm, còn ở Việt Nam mặc dù chưa có tài liệu công bố nhưng có thể cũng vào thời kỳ sau đó. Nhưng do gia đình trồng riêng lẻ chủ yếu để ép dầu thủ công làm đèn thắp sáng Vào những năm 1985 Tiến Sỹ Phan Phải cũng đã nghiên cứu đến cây Thầu dầu nhưng thời kỳ đó, do những khó khăn về điều kiện nghiên cứu, chưa thấy hết tác dụng của nó, nhất là dầu làm nhiên liệu sạch và thị trường chưa có nhu cầu nên không phát triển được.

Một số tài liệu liên quan đến cây Thầu dầu là:

Thầu dầu (danh pháp khoa học: Ricinus communis) là một loài thực vật trong họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và là thành viên duy nhất trong chi

Về cây Thầu dầu làm thuốc chữa bệnh chỉ đề cập đến lá cây Thầu dầu làm thuốc chữa một số loại bệnh: (Thầu dầu, Tỳ ma, Đu đủ tía, Co húng hóm (Thái), dầu ve, Hạt (15 hạt)) và lá Thầu dầu tía giã nhỏ đắp vào gan bàn chân chữa sót rau, đẻ khó sử dụng lá tươi để đắp lên trán và 2 bên thái dương để chữa đau đầu do cảm sốt Dầu Thầu dầu rán với 2 quả trứng ăn chữa đẻ khó (bài thuốc Trung Quốc).

Ngay từ thời đại Hy Lạp, La Mã cổ đại người ta đã biết dùng Thầu dầu. Dầu Thầu dầu là nguyên liệu công nghiệp quan trọng.

Hạt Thầu dầu chứa 40 - 50% dầu, 25% chất albuminosid, một chất có tinh thể và nitrogen (ricidin), acid malic, đường, muối, cellulose.

Một tài liệu khác từ Mỹ của dược sỹ Trần Việt Hưng đề cập đến cây Thầu dầu hay vũ khí sinh học, cũng nêu lên tác làm thuốc chữa bệnh của lá Thầu dầu.

Như vậy nước ta chưa có tài liệu nào nghiên cứu đầy đủ về kỹ thuật gây trồng cây Thầu dầu cao sản, cũng chưa có một tài liệu đề cập đến sâu hại cây Thầu dầu.

Theo báo Pháp luật 18/10/2012 cho biết ở Nghệ An, từ hàng chục năm nay đã có một bài thuốc truyền đời được cho là kỳ dị chữa bệnh trĩ cực kỳ hiệu quả: Đội lá Thầu dầu và uống thuốc chế biến từ lá Thầu dầu có thể chữa được bệnh trĩ Bài thuốc này đặc biệt hiệu nghiệm, uống vào chỉ sau một ngày là có chuyển biến trông thấy, giúp cầm máu và đỡ đau rát, hết đợt điều trị là cũng hết cả trĩ nội lẫn trĩ ngoại.

Nói về công dụng của Thầu dầu theo mạng yduoctinhhoa.com 23/3/2013, cũng đã mô tả dầu Thầu dầu dùng làm thuốc tẩy với liều 10-15g, 30-50g Sau khi uống 2 giờ hãy uống nước Còn dùng làm mềm dẻo chất côlôđiông.

Lá Thầu dầu và hạt Thầu dâu tía là một vị thuốc trong nhân dân để chữa bệnh sót nhau đẻ khó, vì cảm mà méo miệng, xếch mắt.

Chữa sót nhau: giã nhỏ 15 hạt Thầu dầu, đắp vào gan bàn chân, sau khi nhau ra rồi cần rửa chân, tay.

Những tài liệu trên chứng tỏ Thầu dầu đã có ở Nước ta hàng trăm năm trước đây và người dân đã biết sử dụng chúng trong nhiều công dụng.

Tuy nhiên tại Nước ta do chưa thấy hết tác dụng đa dạng của cây Thầu dầu nên vẫn chưa được trồng nhiều Vì vậy trồng Thầu dầu cao sản là một vấn đề mới mẻ có tác dụng giúp xóa đói giảm nghèo, cải thiện môi trường, nâng cao sức khỏe cộng đồng và góp phần phòng chống biến đổi khí hậu.

Về sâu hại Thầu dầu chỉ có một tài liệu của Trần Văn Hải (2010) đề cập đến loài sâu Ngài đêm ăn trụi lá Thầu dầu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng và sản lượng Thầu dầu.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học một số loài sâu hại chủ yếu cây Thầu dầu làm cơ sở cho việc đề xuất biện pháp phòng trừ chúng.

- Điều tra sâu hại trên cây Thầu dầu.

- Tìm hiểu đặc trưng hình thái, sinh vật học của một số loài sâu hại trên cây Thầu dầu.

- Nghiên cứu tỷ lệ bị hại, mức độ bị hại và chỉ số tổn thất của loài sâu hại chủ yếu trên cây Thầu dầu.

- Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại chính theo nguyên tắc Quản lý vật gây hại tổng hợp (IPM, Integrated Pest Management.).

Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu được tiến hành tại khu Tân Xuân, Thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 2 năm 2013

Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề tài trên nội dung và phương pháp chủ yếu của đề tài là:

1 Xác định các loài sâu hại trên cây Thầu dầu.

2 Đặc điểm hình thái các giai đoạn sâu hại trên cây Thầu dầu.

3 Đặc điểm sinh vật học của một số loài sâu hại cây Thầu dầu.

4 Các loài thiên địch của sâu hại cây Thầu dầu.

5 Đề xuất các biện pháp phòng trừ theo nguyên tắc quản lý vật gây hại tổng hợp (IPM)

Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu theo các nội dung nghiên cứu trên được tiến hành như sau:

Kế thừa là phương pháp nghiên cứu khoa học, từ các tài liệu đã công bố trong và ngoài nước chúng tôi tiến hành so sánh với những nghiên cứu của bản thân Từ các tài liệu về phân loại côn trùng chúng tôi xác định một số loài sâu ăn lá, đối chiếu với mẫu vật đã thu thập, tiến hành xác định các cỡ tuổi sâu non, tuổi sâu để xác định nhộng và sâu trưởng thành so sánh với tài liệu đã có để xác định chính xác loài sâu hại Thầu dầu.

Tiếp cận cũng là phương pháp nghiên cứu bao gồm tiếp cận hệ thống, tiếp cận có sự tham gia, tiếp cận nhân rộng và nâng cao Chủ yếu là điều tra. Điều tra sâu bệnh có thể theo phương pháp điều tra sâu bệnh của giáo trình điều tra sâu bệnh hại cây rừng, cụ thể như sau:

- Điều tra mật độ sâu hại lá: a) Điều tra theo tuyến

Các chỉ tiêu tình hình sâu bệnh hại bao gồm các loài sâu hại, mật độ, các giai đoạn phát dục, tình hình phân bố và mức độ gây hại Mức độ gây hại có thể chia ra: Nhẹ < 30% (+), vừa 31-60% (++), nặng> 60% (+++) Chọn 5 điểm thu mẫu theo đường chéo góc trên diện tích ruộng trồng Thầu dầu b) Điều tra theo ô tiêu chuẩn (ÔTC)

Nói chung 10 - 15 ha chọn một ÔTC nên chiếm tổng diện tích 0,1 – 0,5%, vườn ươm khoảng 0,05 - 0,1% là vừa.

+ Lấy mẫu trong ô tiêu chuẩn (ÔTC)

Trong ÔTC cây mục đích chọn 30 - 50 cây, cây mới trồng chọn > 100 cây, cây trồng nông lâm kết hợp có thể chọn số cây < 1/3.

Thu thập số liệu trên cây tiêu chuẩn Nội dung điều tra bao gồm: Loài sâu hại, trạng thái sâu, tình hình bị hại, mật độ sâu và tỷ lệ có sâu.

Số cây điều tra trong ÔTC nên khoảng 10 – 20 cây, mỗi cây đều được đánh số thứ tự.

+ Điều tra loài và số lượng sâu hại

Nếu cây có độ cao dưới 2m thì có thể điều tra cả cây Nếu cây cao có thể chia ra dưới, giữa, trên tán cây theo các hướng khác nhau Trong trường hợp nhộng kén sâu hại qua đông trên cành lá rụng và trên đất, cần điều tra số lượng sâu hại trên 1m 2 độ sâu 20cm Kết quả được ghi vào biểu sau:

Biểu 1: Điều tra sâu ăn lá

TT Số lượng sâu hại Tình

Ghi và dạng hình bị ĐT Đt Ôtc Phần Cây

Tổng Mật chú sâu sinh độ hại

+ Tỷ lệ số cây có sâu và mật độ sâu hại

Tính tỷ lệ cây có sâu

Trong đó n là cây có sâu, N là tổng số cây điều tra

Trong đó Ms là mật độ sâu theo diện tích, N là số sâu điều tra, S là diện tích điều tra.

Mật độ sâu trên mỗi cây

Trong đó Mc là mật độ sâu trên mỗi cây, N là tổng số sâu điều tra, C là tổng số cây điều tra

+ Xác định diện tích mức độ phát sinh khác nhau Mức độ bị hại có thể chia ra nhẹ, vừa và nặng Sau đó dựa vào mật độ sâu trên cây (Mc) để xác định mức độ phát sinh, sau đó lại dựa vào diện tích điều tra trên ÔTC tính ra diện tích bị hại Người ta quy định thống kê diện tích bị hại của một số loài sâu ăn lá như sau:

Biểu 2: Quy định thống kê diện tích bị hại một số loài sâu ăn lá

Loài sâu Dạng sâu Đơn vị

Sâu non một tuổi Con/100 lá 10 - 20 21-35 >36

Châu chấu tre STT Con/cây 5-15 16-30 >31

Ngài độc Sâu non Con/cây 20 - 40 41- 80 >81

(1) Sâu non bộ cánh vẩy trên 3 tuổi là chỉ tiêu tính toán

(2) Sâu róm thông : Hàng trên tính cho cây dưới 10 tuổi, hàng dưới tính cho cây trên 10 tuổi

(3) Sâu túi cần lấy cây đường kính tán khoảng 1,5m làm cây tiêu chuẩn, tổng lượng lá những cây này thường là 300 lá

- Điều tra sâu hại chồi, ngọn và cành a) Điều tra sơ bộ xác định mức độ bị hại như sau: Số cành bị hại 50% là nặng b) Số ÔTC yêu cầu 0,1 – 0,5% tổng diện tích điều tra, các yêu cầu cũng như sâu ăn lá c) Số liệu được ghi vào biểu và tính toán tỷ lệ bị hại

Biểu 3: Thống kê điều tra sâu hại cành

Số cây Tỷ lệ Ghi cây Trong đó Đt Đt ôtc bị hại bị hại chú ĐT

Số cây Số cây Số cây Tên có có có loài cành cành cành sâu hại d) Trên ÔTC chọn 5 – 10 cây tiêu chuẩn, xác định các chỉ tiêu ghi trên biểu cũng có thể trên cây tiêu chuẩn chọn các cành tiêu chuẩn theo các hướng Đông Tây xác định số con trên đoạn 10cm rồi ghi vào biểu

Biểu 4a: Điều tra sâu cành ngọn trên cây tiêu chuẩn

Ngày Nơi STT H D Tuổi Số cạnh lệ Tên Mật độ Ghi Đt Đt ÔTC tiêu (m) (cm) cây cành bị bị sâu (con/cây) chú chuẩn hại hại

Biểu 4b: Điều tra sâu cành ngọn trên cành tiêu chuẩn

Ngày Nơi STT H D Tuổi Tên Đông( Tây độ Ghi Đt Đt ÔTC tiêu (m) (cm) cây sâu con/cây) (con/cây) bình chú chuẩn quân e) Tính toán diện tích bị hại tính mật độ sâu bình quân trên các ÔTC, dựa vào tiêu chuẩn phân cấp nhẹ, vừa và nặng theo biểu để tính toán diện tích bị hại theo các cấp trên ÔTC.

Biểu 5: Tiêu chí đánh giá cấp độ bị hại của sâu hại cành

Mức độ bị hại sâu Nhẹ Vừa Nặng

Sâu đục cành Sâu non Tỷ lệ cành 50% bị hại /cây

Rệp sáp thông Rệp con Con/m 2 0,5-2 3-6 >7

Rệp tròn thông Rệp cái Con/cụm lá 1-3 4-6 >7

- Điều tra sâu hại thân

Trên khu vực điều tra chọn ÔTC, ÔTC phải có mức độ hại lá đồng đều. Mỗi ÔTC chọn 50 cây để dễ điều tra tỷ lệ cây khỏe, nhẹ, yếu Nếu cần thiết phải chặt 2- 3 cây, bóc vỏ đoạn dài từ gốc đến ngọn ghi chép vị trí phạm vi các loài sâu hại Thống kê mật độ sâu đục thân cần bóc vỏ 20cm x 50cm theo vị trí và hướng khác nhau, làm rõ chủng loại, số lượng, dạng sâu và thống kê mật độ sâu trên 1m 2 và của một cây.

Kết quả được ghi vào các biểu sau:

Biểu 6: Điều tra mức độ gây hại của sâu đục thân

Ngày Nơi STT Số Cây

Tình Cây bị sâu Đt Đt ÔTC cây khỏe hình Tên Ghi

Số % vệ sinh Cây suy Cây Cây khô sâu chú cây yếu chết

Biểu 7: Điều tra mức độ bị của sâu đục thân

Số cây Các nhân tố của cây

Tên sâu Mật độ sâu (con/1000cm 2 )

TC H D Tuổi hại Stt Sâu

Nhộng Số lỗ non đục chú

Căn cứ vào các chỉ tiêu trên dựa vào quy định thống kê diện tích bị hại ta xếp vào các cấp sau:

Biểu 8: Tỉ lệ bị hại do sâu đục thân

Loài sâu Dạng sâu Đơn vị Tỉ lệ bị hại (%)

Cát đinh nt nt nt

Về đặc điểm hình thái chúng tôi tiến hành đo kích thước các cỡ tuổi sâu non nhộng và sâu trưởng thành bằng thước kẻ độ chính xác đến mm, so sánh với các tài liệu phân loại côn trùng đã công bố.

Về đặc điểm sinh vật học, chúng tôi tiến hành theo dõi ngày và đêm các loài sâu hại bằng việc xác định vòng đời, các lứa tuổi, sinh trưởng và phát triển của chúng.

Về đề xuất biện pháp phòng trừ chúng tôi dựa và các tài liệu nguyên tắc quản lý vật gây hại tổng hợp (IPM) bao gồm một số biện pháp phòng trừ cụ thể cho sâu hại cây Thầu dầu tại Xuân Mai.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ và sự phân chia hành chính

Thị trấn Xuân Mai nằm trên vị trí 20,54' độ Vĩ Bắc, 106, 34' độ Kinh Đông, trên điểm giao nhau giữa Quốc lộ 6 và Quốc lộ 21A, nay là Đường HồChí Minh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 33 km về phía Tây, là một trong 5 đô thị trong chuỗi đô thị vệ tinh của Hà Nội, bảo gồm: Sơn Tây - Hoà Lạc - XuânMai - Phú Xuyên - Sóc Sơn và Mê Linh trong tương lai Phía Tây giáp Thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Phía Bắc giáp xã ĐôngYên, huyện Quốc Oai, Hà Nội Phía Đông giáp xã Thuỷ Xuân Tiên, huyệnChương Mỹ Phía Nam giáp xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ.

Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

Xuân Mai thuộc khu vực trung du của Hà Nội, có đất đồi núi cao, đất bằng phẳng và đất trũng Khu vực nghiên cứu thuộc khu bằng phẳng gần khu thị trấn, đất bồi tụ, và đất lấp nhân tạo từ những năm 2007 Nền đất tơi xốp, Thầu dầu mọc tự nhiên với số lượng trên 100 cây với các lứa tuổi khác nhau.

3.2.2 Đất đai Đất Xuân Mai thuộc đất bồi tụ Feralit vàng Mọc nhiều cây keo, bạch đàn và các cây lâm nghiệp khác Đất phù hợp với sinh trưởng của các loài cây ăn quả như Hồng xiêm, Bưởi, Cam chanh và một số cây rau màu.

Khí hậu Xuân Mai thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa Mỗi năm có hai mùa rõ rệt mùa khô Nhiệt độ bình quân năm từ 17 o C - 28 o C, lượng mưa trung bình tháng là 174,5mm, thấp nhất vào tháng 1 là 24,5mm, cao nhất vào tháng 9 là 404mm Chúng thể hiện trên sơ đồ Gaussen- Walter (1963) như sau:

Hình 3.1.Sơ đồ khí hậu khu vực Xuân Mai, theo Gaussen- Walter ( 1963)

Sơ đồ trên thể hiện Xuân Mai có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô.Mùa mưa từ tháng 3 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.

Thực bì khu vực Xuân Mai chủ yếu là cây trồng xen lẫn với cây cỏ như: cỏ bông trắng, cỏ lào, cỏ xấu hổ, cây quyết, cây lan

Điều kiện kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

Thị trấn Xuân Mai gồm 9 khu dân cư: Khu Bùi Xá, Khu Phố Xuân Hà, Xuân Mai, Tiên Trượng, khu Đồng Vai, Tân Xuân, Tân Bình, khu Chiến Thắng và khu Tân Mai.

Các cơ quan đơn vị đóng trên thị trấn: Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân thị trấn và các đơn vị hành chính trực thuộc thị trấn.

Xuân Mai có 10 trường học là:

1 Đại học Lâm nghiệp Việt Nam (Forestry University of Vietnam).

2 Trường Sĩ quan Đặc công.

3 Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây

4 Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây

5 Trường Cao đẳng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đông Bắc Bộ 1 6.Trường cảnh sát vũ trang (T45)

8.Trường phổ thông dân lập Ngô Sỹ Liên.

9 Trường Tiểu học Xuân Mai A, B.

10 Trường THCS Xuân Mai A, B Có 3 đơn vị quân đội là:

2 Lữ đoàn 201-Binh chủng Tăng-Thiết Giáp.

3 Nhà máy Z119-Bộ quốc phòng.

Các đơn vị trên góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế xã hội khu vực.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thành phần các loài sâu hại chủ yếu trên cây Thầu dầu

Sau một thời gian nghiên cứu, chúng tôi đã phát hiện được 8 loài côn trùng trên cây Thầu dầu thuộc Bộ, Họ Danh lục các loài sâu hại Thầu dầu thể hiện trong bảng sau:

Bảng 4.1 Danh lục các loài sâu hại Thầu dầu tại khu vực nghiên cứu

TT Tên Việt Nam Tên khoa học Pha Tác hại

1 Mối đất Macrotemes + Hại rễ, thân

2 Sâu khoang Spodoptera litura Fabricius - 0 + Hại lá

3 Sâu róm 4 túm lông Orgyia ericae Germar - 0 + Hại lá

4 Sâu róm vàng Ivela ochropoda Walker - 0 + Hại lá

5 Rầy xanh Erythroneura sudrra Distant - 0 + Hại lá

6 Bọ hung nâu nhỏ Maladera orientalis Most + Hại rễ

7 Vòi voi Rhynchites foveipennis Fairm - 0 + Hại quả

8 Bọ rùa đen Chillocorus gressitti Miyatake + Chưa rõ

Biểu trên chứng minh trên cây Thầu dầu tại khu vực Xuân Mai, qua điều tra phát hiện 8 loài sâu hại thuộc 4 bộ, 7 họ côn trùng.

Có thể thấy số lượng sâu hại tìm được trên cây Thầu dầu không nhiều nhưng khá đa dạng Sự đa dạng này là do điều kiện khí hậu mà nhiều loài côn trùng cần cho sự phát triển của chúng đã được thỏa mãn: Nhiệt độ trung bình của khu vực là 17-28 0 C, độ ẩm 82%, rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của côn trùng.

Có loài trong danh sách kể trên còn chưa rõ lắm ảnh hưởng của chúng tới cây Thầu dầu (Bọ rùa đen) Vì vậy, cần tiếp tục theo dõi và nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài làm cơ sở khoa học áp dụng các biện pháp hợp lý để khống chế các loài côn trùng gây hại. Để đánh giá mức độ phong phú về loài, họ của các bộ côn trùng thu bắt được trong khu vực nghiên cứu tôi thống kê tỷ lệ % về số loài, họ theo các bộ côn trùng Kết quả được trình bày trong Bảng 4.2 và Hình 4.1; 4.2

Bảng 4.2: Tỷ lệ % số họ, loài của các bộ côn trùng thu được trong khu vực nghiên cứu

STT Tên bộ Số họ Tỷ lệ % Số loài sâu Tỷ lệ %

Hình 4.1 Tỷ lệ các họ của các bộ côn trùng trên cây Thầu dầu

Hình 4.2 Tỷ lệ các loài của các bộ côn trùng trên cây Thầu dầu

Qua Bảng 4.2 và các Hình 4.1, 4.2 có thể rút ra một số nhận xét sau:

Tỷ lệ % về số họ, loài của bộ Cánh cứng là lớn nhất (chiếm 42,8% số họ và 37,5% số loài), sau đó đến bộ Cánh vẩy (chiếm 28,6% số họ và 37,5% số loài) Các bộ Cánh bằng, Cánh giống có tỷ lệ nhỏ (chiếm 14,3% số họ và12,5% số loài) Hiện trạng này là phù hợp với phân bố tự nhiên của các loài côn trùng.

Căn cứ vào ý nghĩa của chúng có thể chia 8 loài côn trùng thu được thành các nhóm khác nhau Số liệu thống kê về vấn đề này được thể hiện ở bảng sau đây:

Bảng 4.3: Tỷ lệ các nhóm côn trùng thu được trên cây Thầu dầu

STT Nhóm sâu Số loài Tỷ lệ %

Có thể thấy rõ hơn sự khác nhau của các nhóm côn trùng trong hình dưới đây:

Hình 4.3: Tỷ lệ % các nhóm côn trùng thu được trên cây Thầu dầu

Như vậy, sâu hại lá chiếm tỷ lệ lớn nhất, tiếp đó là sâu hại thân rễ Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối bởi vì không phải loài sâu hại nào cũng có thể gây nguy hiểm cho cây Với vai trò là một thành phần của hệ sinh thái, trong một giới hạn cho phép về mật độ quần thể thì các loài sâu hại lại trở thành loài có ích Chúng có vai trò quan trọng giúp cây thụ phấn, phát tán hạt giống, chuyển hoá chất hữu cơ thành chất vô cơ hoàn trả cho cây hoặc thông qua chuỗi thức ăn chúng hạn chế sự phát sinh, phát triển

28 của các loài sâu hại khác nguy hiểm hơn Tuy nhiên, chúng vẫn là các đối tượng sâu cần chú ý trong công tác phòng trừ sâu hại vì khi có điều kiện môi trường thuận lợi thì một trong số các loài trên sẽ phát triển thành dịch sâu hại phá rừng trồng.

Nhóm sâu hại lá có 4 loài nhưng không có loài nào thực sự thể hiện sự nguy hiểm của chúng Nhìn chung, trong thời gian nghiên cứu sâu hại lá xuất hiện ít, gây hại không đáng kể.

Nguy hiểm hơn nhiều sâu hại lá là sâu hại quả Như ta đã biết, Thầu dầu là loài cây được trồng chủ yếu với mục đích lấy quả, do đó các loài sâu hại quả có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng của Thầu dầu.

Mối vừa hại thân vừa gây hại rễ, đặc biệt là những cây mới trồng Tuy nhiên sức đề kháng của cây khá tốt, ít khi thấy cây bị chết do mối gây ra.

Xác định các loài sâu hại chủ yếu

Mỗi loài sâu hại thường có đặc điểm sinh học khác nhau nên yêu cầu các biện pháp phòng trừ cũng khác nhau Nếu tiến hành các biện pháp phòng trừ chung cho tất cả các loài sâu hại thì chi phí sẽ rất cao, hiệu quả phòng trừ kém không mang tính khả thi Biện pháp phòng trừ có hiệu quả bền vững nhất là phục hồi hệ sinh thái rừng hoàn chỉnh trong đó có sự cân bằng về số lượng cá thể loài trong chuỗi thức ăn Vì vậy, trong công tác phòng trừ sâu hại chỉ nên tập trung vào một số loài sâu hại chủ yếu có khả năng gây hại tại khu vực.

Khi nghiên cứu đặc điểm dịch sâu hại ta thấy các loài sâu hại chỉ gây hại khi có mật độ lớn và gây ảnh hưởng xấu tới mục tiêu kinh doanh của con người Một loài sâu hại có tiềm năng phát dịch - loài có khả năng sinh sản cao

- cần có điều kiện môi trường thuận lợi Nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của sâu hại và sử dụng tốt các loài thiên địch, ta cần đi sâu phân tích để rút ra các loài sâu hại chủ yếu Những chỉ tiêu để xác định loài sâu hại chủ yếu gồm:

- Số lần xuất hiện của loài sâu trong các đợt điều tra = SLXH

- Mật độ của loài sâu hại (M), tỷ lệ cây có loài sâu hại (P%).

- Đặc tính sinh vật học của loài, đặc biệt là hình thức gây hại của sâu.

- Mức độ gây hại của sâu (R%). Đây là những chỉ tiêu đặc trưng nhất cho quần thể sâu ở thời điểm hiện tại vì: Số lần xuất hiện sâu hại thể hiện mức độ phổ biến của chúng; Mật độ đánh giá mức độ đe doạ của quần thể sâu hại đối với cây trồng Tỷ lệ cây có sâu phản ánh mức độ lan tràn của quần thể sâu hại; Hình thức gây hại khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau tới cây trồng Cuối cùng, mức độ gây hại của sâu là chỉ tiêu đánh giá mang tính tổng hợp các chỉ tiêu kể trên Để đánh giá chính xác loài sâu hại nào là loài gây hại chính còn cần đến các thông tin như quá trình phát dịch và nguy cơ phát dịch của chúng Do các nghiên cứu về sâu hại cây Thầu dầu ở nước ta còn mới mẻ nên chưa có những thông tin đó Với thời gian nghiên cứu ngắn thì đây là phương pháp khá đầy đủ và chính xác để xác định các loài sâu hại chủ yếu Kết hợp với việc tìm hiểu tình hình sâu hại trong những năm gần đây để việc xác định được chính xác hơn.

Bảng 4.4: Kết quả điều tra sâu hại Thầu dầu tại khu vực nghiên cứu

Stt Loài sâu SLXH Cây có Mức

Nhìn vào Bảng 4.4 ta thấy: Căn cứ vào số lần xuất hiện (SLXH) của sâu có thể xếp hạng các loài sâu hại theo thứ tự sau đây: Trước hết là xét về mặt số lần xuất hiện:

1 Loài Rầy xanh, Vòi voi xuất hiện trong cả 5 lần điều tra Như vậy đây là hai loài phổ biến nhất của khu vực nghiên cứu.

2 Loài đứng thứ hai về số lần xuất hiện là Sâu khoang và Sâu róm 4 túm lông (Ngài độc), có 4 lần xuất hiện trên tổng số 5 lần điều tra.

3 Sâu róm vàng và Bọ hung nâu nhỏ xuất hiện 3 lần.

4 Các loài còn lại chỉ điều tra được một lần.

Nếu chỉ lựa chọn những loài có số lần xuất hiện lớn hơn 50% số lần điều tra để xét tiếp các chỉ tiêu khác ta thấy số loài có thể là sâu hại chủ yếu chỉ còn 6 loài, đó là: Loài Vòi voi, Sâu khoang, Rầy xanh, sâu róm 4 túm lông, sâu róm vàng và Bọ hung nâu nhỏ.

Xét về chỉ tiêu mật độ có thể dễ dàng thấy rằng các loài sau đây có mật độ khá cao: Vòi voi (0,433 con/cây); Rầy xanh (2,147 con/cây); Sâu khoang (0,17 con/cây)

Mật độ và tỷ lệ cây có sâu thường có quan hệ với nhau, những loài có mật độ cao thường cũng có chỉ số P% cao: Trong bảng trên có thể thấy các loài có tỷ lệ cây có sâu 10% gồm: Vòi voi, Sâu khoang , Sâu róm 4 túm lông, Rầy xanh. Đánh giá mức độ gây hại của các loài sâu: Căn cứ vào đặc điểm gây hại của sâu có thể thấy các loài sâu hại quả, hại rễ rất nguy hiểm, Khi gây hại mạnh chúng có thể làm chết cây hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng tới sinh trưởng, phát triển và chất lượng của cây.

Như vậy, trong số 8 loài côn trùng thu được, các loài Vòi voi và loàiRầy xanh là 2 loài sâu hại nguy hiểm nhất hiện nay nên được coi là sâu hại chủ yếu trên cây Thầu dầu ở thời điểm nghiên cứu này Loài Sâu khoang, Sâu róm 4 túm lông, Sâu róm vàng và Bọ hung nâu nhỏ cũng là những loài rất đáng chú ý, đây là những loài sâu hại có tiềm năng trở thành sâu hại chủ yếu.Sau đây là một số thông tin về các loài sâu hại này.

Đặc điểm sinh vật học các loài sâu hại Thầu dầu

4.3.1 Sâu hại lá Thầu dầu

Về sâu hại cây Thầu dầu, sau một thời gian theo dõi chúng tôi đã phát hiện loài sâu ngài đêm (sâu khoang) ăn lá ở mức độ khá nguy hiểm, chúng ăn tập trung trên một cây và ăn trụi lá chỉ để gân lá Sau khi đối chiếu về hình thái chúng tôi có thể khẳng định đó là loài

Họ Ngài đêm (Noctuidae); Bộ Cánh Vảy (Lepidoptera)

Theo tài liệu phân loại của Brown, chúng phân bố trên nhiều loài cây, ăn tạp, được Corbett phát hiện đầu tiên ở Malaysia năm 1926 Chúng có tên tiếng Anh là cutworm, lawn armyworm,

Theo tài liệu của Trần Văn Hải sâu ngài đêm này là Sâu ăn tạp là loài có phổ ký chủ rộng, phân bố hầu hết các nơi trên thế giới.

Sâu ăn tạp là một trong những loài sâu ăn lá quan trọng, là loài sâu đa thực có thể phá hại đến 290 loại cây trồng thuộc 99 họ thực vật bao gồm các loại rau đậu, cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây lương thực, cây phân xanh, Đặc biệt chúng có mặt ở các nước Đông Nam Á, Thái Bình Dương. Đặc điểm cơ bản của loài này như sau: Đặc điểm hình thái:

Sâu trưởng thành: có chiều dài thân khoảng 20-25mm, sải cánh rộng từ 35-45mm Cánh trước màu nâu vàng, giữa cánh có vân trắng, cánh sau màu trắng óng ánh.

Trứng: đẻ tập trung trên lá màu trắng sữa, mỗi con cái đẻ 300 trứng ở mặt sau lá, trên đám trứng có lông tơ do bụng con cái tiết ra để bảo vệ trứng.

Trứng có hình bán cầu, đường kính từ 0,4 - 0,5mm Bề mặt trứng có những đường khía dọc từ đỉnh trứng xuống đến đáy và bị cắt ngang bởi những

32 đường khía ngang tạo thành những ô nhỏ Trứng mới đẻ có màu trắng vàng, sau chuyển thành màu vàng tro, lúc sắp nở có màu tro đậm Ổ trứng có phủ lớp lông từ bụng ngài cái mẹ Thời gian ủ trứng từ 4-7 ngày.

Sâu non: Có 6 cỡ tuổi thể hiện màu sắc kích thước khác nhau

Sâu non mới nở màu xanh, nhỏ 1-1,5mm, ăn tập trung mặt sau lá thành một đốm rộng trên lá Sâu non tuổi 2 màu trắng nhỏ 1,5-10mm, Sâu non tuổi 3 màu trắng, nhỏ 10-20mm; Sâu non tuổi 4 màu trắng , kích thước 20-30mm, Sâu non tuổi 5 màu trắng, kích thước 30-40mm; Sâu non tuổi 6 màu trắng kích thước 40-55mm; Nhộng màu trắng vàng, kích thước nhỏ hơn, tập trung ở dưới đất.

Thời gian phát triển của ấu trùng kéo dài từ 20-25 ngày, sâu có 5-6 tuổi tuỳ thuộc điều kiện môi trường Nếu điều kiện thuận lợi sâu có thể dài từ 35- 53mm, hình ống tròn Sâu tuổi nhỏ có màu xanh lục, càng lớn sâu chuyển dần thành màu nâu đậm Trên cơ thể có một sọc vàng sáng chạy ở hai bên hông từ đốt thứ nhất đến đốt thứ tám của bụng, mỗi đốt có một chấm đen rõ nhưng hai chấm đen ở đốt thứ nhất to nhất Sâu càng lớn, hai chấm đen ở đốt thứ nhất càng to dần và gần như giao nhau tạo thành khoang đen trên lưng nên sâu ăn tạp còn được gọi là “sâu khoang”.

Thời gian phát triển nhộng kéo dài 7-10 ngày, kích thước dài từ 18- 20mm Nhộng sâu ăn tạp có màu xanh đọt chuối, rất mềm ngay khi mới được hình thành, sau đó chuyển dần sang màu vàng xanh, cuối cùng có màu nâu, thân cứng dần và có màu nâu đỏ Khi sắp vũ hoá, nhộng có màu nâu đen, các đốt cuối của nhộng có thể cử động được. Đặc điểm sinh vật học

Ngài cái đời sống trung bình từ 1-2 tuần tuỳ điều kiện thức ăn Trung bình một ngài cái có thể đẻ 300 trứng, nhưng nếu điều kiện thích hợp ngài có thể đẻ từ 900-2000 trứng Thời gian đẻ trứng trung bình của ngài kéo dài từ 5-

7 ngày đôi khi đến 10 - 12 ngày.

Nhìn chung, vòng đời của sâu ăn tạp tương đối ngắn trung bình 30,2 ngày, trong đó giai đoạn ấu trùng chiếm trung bình 21,7 ngày, đây là giai đoạn gây hại quan trọng của sâu ăn tạp Khả năng sinh sản mạnh cùng với thời gian phá hại kéo dài vì thế sâu ăn tạp là đối tượng gây hại quan trọng cho rau màu và cây Thầu dầu.

Ngài thường vũ hoá vào buổi chiều và bay ra hoạt động vào lúc vừa tối, ban ngày bướm đậu ở mặt sau lá hoặc trong các bụi cỏ Ngài hoạt động từ tối đến nửa đêm, có thể bay xa đến vài chục mét và cao đến 6-7 mét Sau khi vũ hoá vài giờ, bướm có thể bắt cặp và một ngày sau đó có thể đẻ trứng.

Sâu ăn tạp ăn phá nhiều loại cây nên có mặt quanh năm trên đồng ruộng Sâu cắn phá mạnh vào lúc sáng sớm nhưng khi có ánh nắng sâu chui xuống dưới tán lá để ẩn nấp Chiều mát sâu bắt đầu hoạt động trở lại và phá hại suốt đêm.

Sâu vừa nở ăn gặm vỏ trứng và sống tập trung, nếu bị động sâu bò phân tán hoặc nhả tơ buông mình xuống đất Sâu tuổi 1-2 chỉ ăn gặm phần diệp lục của lá và chừa lại lớp biểu bì trắng, từ tuổi 3 trở đi sâu ăn phá mạnh cắn thủng lá và gân lá Ở tuổi lớn khi thiếu thức ăn, sâu còn tập quán ăn thịt lẫn nhau và không những ăn phá lá cây mà còn ăn trụi cả thân, cành, trái non Khi làm nhộng, sâu chui xuống đất làm thành một khoang và nằm yên trong đó.

Ngày đăng: 22/06/2021, 14:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão (2001), Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp, Nhà xuất bản nông nghiệp ,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: iều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2001
15. Phạm Bình Quyền và Lê Đình Thái (1972), Sinh thái học côn trùng (Dịch từ nguyên bản tiếng Nga), Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học côn trùng
Tác giả: Phạm Bình Quyền và Lê Đình Thái
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1972
16. Phạm Bình Quyền(1993), Đời sống côn trùng, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật, công ty sách và thiết bị trường học thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống côn trùng
Tác giả: Phạm Bình Quyền
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật
Năm: 1993
19. Nguyễn Hải Tuất (1982), Thống kê toán học trong lâm nghiệp, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê toán học trong lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hải Tuất
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1982
20. Đào Xuân Trường, Báo cáo kết quả dự án Điều tra, đánh giá sâu bệnh hại rừng trồng toàn quốc. Đề ra giải pháp phòng trừ sâu bệnh hại rừng trồng. Cục Kiểm lâm 2000 - 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả dự án Điều tra, đánh giá sâu bệnh hại rừng trồng toàn quốc. Đề ra giải pháp phòng trừ sâu bệnh hại rừng trồng
22. Apnondi K.V. ( 1950), Xác định các loài côn trùng hại gỗ và cây bụi thuộc các dải rừng phòng hộ, Nhà xuất bản viện khoa học Liên Xô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định các loài côn trùng hại gỗ và cây bụi thuộc các dải rừng phòng hộ
Nhà XB: Nhà xuất bản viện khoa học Liên Xô
23. Bey- Bienko G. A.( 1965), Phân loại côn trùng bộ cánh cứng phần Liên Xô thuộc Châu Âu, Nhà xuất bản khoa học Matscơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại côn trùng bộ cánh cứng phần Liên Xô thuộc Châu Âu
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học Matscơva
24. I linski A. I.(1962), Phân loại các loài sâu hại rừng, Nhà xuất bản sách báo tài liệu nông nghiệp Matscơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại các loài sâu hại rừng
Tác giả: I linski A. I
Nhà XB: Nhà xuất bản sách báo tài liệu nông nghiệp Matscơva
Năm: 1962
25. N.N.Pagi (1965), Côn trùng rừng, Nhà xuất bản công nghiêp rừng Matscơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng rừng
Tác giả: N.N.Pagi
Nhà XB: Nhà xuất bản công nghiêp rừng Matscơva
Năm: 1965
26. Xegole V.N.( 1964), Côn trùng học, Nhà xuất bản trường cao đẳng Matscơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng học
Nhà XB: Nhà xuất bản trường cao đẳngMatscơva
17. Phạm Quang Thu (2011) Sâu bệnh hại rừng trồng. NXBNN, Hà Nội Khác
21. Tạp chí Khoa học công nghệ NN &amp; PTNT 20 năm đổi mới (2005) NXB Chính trị quốc gia.Tiếng Nga Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w