1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu đặc điểm sinh vật học một số loài sâu hại chủ yếu cây thầu dầu làm cơ sở cho việc đề xuất phòng trừ tổng hợp

72 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (Luận văn thạc sĩ) Nghiên Cứu Đặc Điểm Sinh Vật Học Một Số Loài Sâu Hại Chủ Yếu Cây Thầu Dầu Làm Cơ Sở Cho Việc Đề Xuất Phòng Trừ Tổng Hợp
Tác giả Nguyễn Xuân Hùng
Người hướng dẫn GS.TS. Trần Văn Mão
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI CẢM ƠN

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC CÁC BẢNG

  • DANH MỤC HÌNH ẢNH

  • ĐẶT VẤN ĐỀ

  • Chương 1

  • TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

    • 1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

    • 1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

  • Chương 2

  • MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu

      • 2.1.1. Mục tiêu chung

      • 2.1.2.Mục tiêu cụ thể

    • 2.2.Địa điểm nghiên cứu

    • 2.3. Thời gian nghiên cứu

    • 2.4. Nội dung nghiên cứu

    • 2.5. Phương pháp nghiên cứu

  • Chương 3

  • ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

    • 3.1. Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ và sự phân chia hành chính

    • 3.2. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

      • 3.2.1. Địa hình

      • 3.2.2. Đất đai

      • 3.2.3. Khí hậu

      • 3.2.4. Thực bì

    • 3.3. Điều kiện kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

  • Chương 4

  • KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    • 4.1. Thành phần các loài sâu hại chủ yếu trên cây Thầu dầu

  • Bảng 4.1. Danh lục các loài sâu hại Thầu dầu tại khu vực nghiên cứu

  • Bảng 4.2: Tỷ lệ % số họ, loài của các bộ côn trùng thu được

  • trong khu vực nghiên cứu

  • Bảng 4.3: Tỷ lệ các nhóm côn trùng thu được trên cây Thầu dầu

    • 4.2. Xác định các loài sâu hại chủ yếu

  • Bảng 4.4: Kết quả điều tra sâu hại Thầu dầu tại khu vực nghiên cứu

    • 4.3. Đặc điểm sinh vật học các loài sâu hại Thầu dầu

      • 4.3.1. Sâu hại lá Thầu dầu

      • 4.3.2. Sâu Vòi voi hại quả Thầu dầu

      • 4.3.3. Bọ hung nâu nhỏ hại rễ Thầu dầu

    • 4.4. Đặc điểm sinh thái học của các loài sâu hại Thầu dầu chủ yếu

      • 4.4.1. Quan hệ của loài sâu hại chủ yếu với cây Thầu dầu

  • Bảng 4.5: Kết quả điều tra tỷ lệ cây Thầu dầu có sâu hại chủ yếu

  • Bảng 4.6: Tỷ lệ cây Thầu dầu có cả Vòi voi và Rầy xanh

  • Bảng 4.7: Các chỉ tiêu sinh trưởng cây Thầu dầu

  • Bảng 4.8: Đường kính (Doo), chiều cao (HVN) của cây Thầu dầu có sâu (CS) và cây không có sâu (KS)

    • 4.4.2. Ảnh hưởng của một số nhân tố phi sinh vật đến loài sâu hại chủ yếu

    • 4.4.3. Quan hệ của loài sâu hại chủ yếu với thiên địch

    • 4.5. Đề xuất một số biện pháp phòng trừ đối với các loài sâu hại cây Thầu dầu

  • KẾT LUẬN TỐN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

    • 1. Kết luận

    • 2. Tồn tại

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC

  • MỘT SỐ HÌNH ẢNH SÂU HẠI THẦU DẦU

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Từ năm 2000, nhu cầu về nhiên liệu sạch thay thế dầu khí cạn kiệt và ô nhiễm môi trường đã gia tăng, dẫn đến việc nhiều quốc gia phát triển các giống Thầu dầu lai năng suất cao Các quốc gia có Thầu dầu phân bố bao gồm Angola, Kenya, Sudan, Ecuador, Paraguay, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Iran, Thái Lan, Nga và Romania Trong số đó, Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil, Philippines, Pakistan và Nga là những nước sản xuất dầu từ Thầu dầu, với sản lượng đạt 1.126.800 tấn trong năm 1985 - 1986.

1987 - 1988 là 883 nghìn tấn, năm 1989 - 1990 tổng sản lượng hạt Thầu dầu là 1.046.000 tấn Các nước nhập khẩu dầu là Pháp, Mỹ, Nga, Nhật, Đức, Anh,

Hà Lan Hiện nay, Ấn Độ là quốc gia sản xuất hạt thầu dầu lớn nhất, chiếm 72% tổng sản lượng, tiếp theo là Trung Quốc với 20% và Brazil với 8% Diện tích trồng thầu dầu toàn cầu đạt 1.100.000 ha, trong khi nhu cầu dầu hàng năm lên tới 700.000 tấn, nhưng khả năng cung cấp chỉ đáp ứng được một nửa nhu cầu này (Zhong Deyu, 2011).

Dầu Thầu dầu được chiết xuất từ hạt với tỷ lệ 50% và từ hạt bóc vỏ với tỷ lệ 70%, chứa 18% protein Theo Po Wenwei (2011), sản lượng dầu Thầu dầu toàn cầu chỉ đạt 2,5 triệu tấn, không đủ để đáp ứng nhu cầu của các nhà máy chế biến Hiện tại, giá hạt Thầu dầu là 16.000 NDT/tấn, tương đương khoảng 50 triệu VND, phục vụ cho nhu cầu sản xuất dầu đốt sinh học Năm 2008, Trung Quốc cần tới 12 triệu 400.000 tấn dầu sinh học.

Cây Thầu dầu có giá trị kinh tế cao với khả năng tận dụng toàn bộ cây từ lá, cành, ngọn, hạt đến rễ Sản phẩm từ Thầu dầu không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn được xuất khẩu ra thế giới Tỷ lệ dầu trong hạt Thầu dầu đạt từ 40 – 60%, cao hơn hẳn so với hạt Cọc rào (Jatropha curcas) chỉ đạt 20 – 30% Theo phân tích của Công ty công nghiệp Quý Châu, dầu Thầu dầu chứa 70% dầu và 18% protein, chủ yếu là ricinoleic acid chiếm 80% Không chỉ là nguyên liệu quan trọng, dầu Thầu dầu còn được coi là “dầu xanh” hay “nhiên liệu sinh học”, là sự thay thế tiềm năng cho dầu khí.

Thầu dầu là nguyên liệu quan trọng trong nhiều ngành công nghiệp, được sử dụng để sản xuất dầu bôi trơn, dầu ăn, hương liệu, thuốc chữa bệnh, hóa mỹ phẩm, thuốc nhuộm, sợi nilon, chất dẻo, xà phòng, mực in, dầu máy và dầu da giày.

Dầu Thầu dầu có đặc tính quan trọng là không biến chất ở nhiệt độ cao từ 500 - 600 độ C và không đông đặc dưới -18 độ C, làm cho nó trở thành nguyên liệu duy nhất cho việc bôi trơn máy bay, tàu thuyền, xe ô tô và các máy móc tinh vi Theo phân tích của Mỹ và Tây Âu, dầu Thầu dầu chứa hơn 3.000 chất hóa học, với nhu cầu sản xuất 1 tấn nilon -11 cần tới 3 - 4 tấn hạt Thầu dầu Dự báo năm 2010, nhu cầu dầu Thầu dầu lên tới 1 triệu tấn, tương ứng với 2,4 triệu tấn hạt Thầu dầu Trong khi đó, thị trường thế giới hiện cần 10 triệu tấn hạt Thầu dầu mỗi năm, nhưng sản lượng chỉ đạt 2 triệu tấn/năm Dự kiến đến năm 2010, năng suất hạt Thầu dầu có thể đạt 5.000 kg/ha/năm, nhưng vẫn chỉ đáp ứng được một nửa nhu cầu.

Hạt Thầu dầu cũng dùng để chữa tiêu viêm, trừ tả, kết hạch đại tiện, kiết lỵ, viêm mũi họng

Theo một tài liệu từ Thái Lan, thuốc Ayurvedic đã sử dụng dầu thầu dầu để điều trị đau thần kinh tọa, đau lưng và thấp khớp từ lâu Tại quần đảo Canary, dầu thầu dầu không chỉ được dùng để ngăn ngừa đau núm vú ở bà mẹ cho con bú mà còn được xoa vào tóc để ngăn rụng tóc sau khi sinh (Pattaya, 2006).

Lá Thầu dầu không chỉ là nguồn nguyên liệu dồi dào cho ngành công nghiệp mỹ phẩm và dược phẩm, mà còn có thể nuôi tằm, mang lại nguồn thu nhập đáng kể Theo tài liệu nước ngoài, mỗi ha Thầu dầu có thể cho 15.000kg lá, đủ để nuôi 10.000 con tằm và thu được 4kg tơ, 15-20kg nhộng, với giá trị kinh tế khoảng 1-1,2 triệu VNĐ Ngoài ra, phân tằm thu được từ quá trình nuôi tằm cũng là loại phân rất tốt, với sản lượng lên đến 150kg Như vậy, chỉ tính thu nhập từ lá Thầu dầu đã có thể đạt được 5-7 triệu đồng/ha.

Bã ép Thầu dầu, sau khi được khử độc ricin, chứa nhiều protein và axit amin, có thể được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, theo nhiều tài liệu trong và ngoài nước.

Cây Thầu dầu thường phát triển ở các vùng đất hoang hóa, đặc biệt là ở miền núi, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân nghèo và giúp cải thiện tình trạng đồi trọc, đồng thời có lợi cho môi trường sinh thái.

Hiện nay, Ấn Độ, Thái Lan và Trung Quốc là những quốc gia dẫn đầu trong việc phát triển cây thầu dầu, với nhiều giống mới được lai tạo như Sơn Đông, Quý Châu, Vân Nam và Thái Lan Năng suất của cây thầu dầu đã tăng đáng kể, từ 1.000kg/ha.năm lên đến 3.000kg – 6.000kg/ha.năm (Zhong Deyu, 2011).

Castor oil contains a variety of chemical components with significant medicinal properties, including 18%-26% protein, 64%-71% oil, and 2% carbohydrates It also comprises 2.50% phenolic substances, and trace amounts of ricin and ricinine (0.087%-0.15%) Additionally, it contains triglycerides, glycerol esters, and small quantities of sterols, phospholipids, free fatty acids, hydrocarbons, and wax Notably, ricinoleic acid constitutes 84%-91% of the oil, while oleic acid makes up 3.1%-5.9%, linoleic acid 2.9%-6.5%, stearic acid 1.4%-2.1%, and palmitic acid 0.9%-1.5% Among these components, phosphatidyl ethanolamine is also present.

Chúng có thể chữa được 17 loại bệnh trong cơ thể con người đặc biệt là các bệnh về nội tạng

Sâu hại Thầu dầu, giống như nhiều loại cây nông nghiệp khác, có sự đa dạng về loài và đã được nghiên cứu sâu sắc bởi các tác giả từ Trung Quốc và Ấn Độ.

Trong tài liệu nghiên cứu về sâu hại cây Thầu dầu, Liu Wenrong (1991) đã ghi nhận tổng cộng 94 loài sâu hại và 9 loài bệnh hại Đặc biệt, Ruồi đục lá Thầu dầu Liriomyza trifolii (Burgess), thuộc họ Agromyziidae và bộ Hai Cánh (Diptera), được mô tả chi tiết trong tài liệu này.

Sâu trưởng thành có kích thước rất nhỏ, dài từ 1,3 đến 1,5 mm, với màu sắc chủ yếu là đen bóng Tuy nhiên, một phần cơ thể, bao gồm phiến mai trên ngực, lại có màu vàng nổi bật Đôi mắt của chúng cũng có màu đen bóng đặc trưng.

Tình hình nghiên cứu trong nước

Cây Thầu dầu đã được đưa vào Trung Quốc hơn 1400 năm và có thể đã xuất hiện ở Việt Nam sau đó, mặc dù chưa có tài liệu chính thức Tại Việt Nam, cây này chủ yếu được trồng riêng lẻ để ép dầu thủ công phục vụ cho việc thắp sáng Vào năm 1985, Tiến Sỹ Phan Phải đã tiến hành nghiên cứu về cây Thầu dầu, nhưng do điều kiện nghiên cứu hạn chế và thị trường chưa có nhu cầu, tác dụng của nó, đặc biệt là dầu làm nhiên liệu sạch, chưa được khai thác triệt để.

Một số tài liệu liên quan đến cây Thầu dầu là:

Thầu dầu (danh pháp khoa học: Ricinus communis) là một loài thực vật trong họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và là thành viên duy nhất trong chi

Cây Thầu dầu được sử dụng trong y học cổ truyền với các công dụng chữa bệnh hiệu quả Lá cây Thầu dầu có thể được dùng để điều trị một số bệnh như sót rau và khó đẻ khi giã nhỏ và đắp lên gan bàn chân Ngoài ra, lá tươi cũng được sử dụng để đắp lên trán và hai bên thái dương nhằm giảm đau đầu do cảm sốt Một bài thuốc Trung Quốc khuyến nghị sử dụng dầu Thầu dầu chiên với hai quả trứng để hỗ trợ trong trường hợp khó đẻ.

Ngay từ thời đại Hy Lạp, La Mã cổ đại người ta đã biết dùng Thầu dầu Dầu Thầu dầu là nguyên liệu công nghiệp quan trọng

Hạt Thầu dầu chứa 40 - 50% dầu, 25% chất albuminosid, một chất có tinh thể và nitrogen (ricidin), acid malic, đường, muối, cellulose

Tài liệu của dược sỹ Trần Việt Hưng từ Mỹ đề cập đến cây Thầu dầu, được xem như một vũ khí sinh học, và nhấn mạnh tác dụng chữa bệnh của lá cây này.

Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa có tài liệu nghiên cứu toàn diện về kỹ thuật trồng cây Thầu dầu cao sản, cũng như chưa có thông tin nào đề cập đến các loại sâu hại cây Thầu dầu.

Theo báo Pháp luật ngày 18/10/2012, tại Nghệ An, có một bài thuốc truyền đời chữa bệnh trĩ hiệu quả từ lá Thầu dầu Bài thuốc này giúp cầm máu, giảm đau rát chỉ sau một ngày sử dụng, và sau khi kết thúc liệu trình, bệnh nhân có thể khỏi cả trĩ nội lẫn trĩ ngoại.

Dầu thầu dầu, theo yduoctinhhoa.com, có công dụng làm thuốc tẩy với liều lượng từ 10-15g đến 30-50g Sau khi uống, người dùng nên uống nước sau 2 giờ Ngoài ra, dầu thầu dầu còn được sử dụng để làm mềm dẻo chất côlôđiông.

Lá Thầu dầu và hạt Thầu dâu tía là một vị thuốc trong nhân dân để chữa bệnh sót nhau đẻ khó, vì cảm mà méo miệng, xếch mắt

Chữa sót nhau: giã nhỏ 15 hạt Thầu dầu, đắp vào gan bàn chân, sau khi nhau ra rồi cần rửa chân, tay

Những tài liệu trên chứng tỏ Thầu dầu đã có ở Nước ta hàng trăm năm trước đây và người dân đã biết sử dụng chúng trong nhiều công dụng

Mặc dù cây Thầu dầu chưa được trồng phổ biến tại Việt Nam do chưa nhận thức đầy đủ về tác dụng đa dạng của nó, việc trồng Thầu dầu cao sản đang trở thành một giải pháp mới mẻ Giống cây này không chỉ giúp xóa đói giảm nghèo mà còn cải thiện môi trường, nâng cao sức khỏe cộng đồng và góp phần vào công tác phòng chống biến đổi khí hậu.

Sâu hại Thầu dầu, được đề cập trong tài liệu của Trần Văn Hải (2010), là loài sâu Ngài đêm có khả năng ăn trụi lá Thầu dầu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sinh trưởng và sản lượng của cây Thầu dầu.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học một số loài sâu hại chủ yếu cây Thầu dầu làm cơ sở cho việc đề xuất biện pháp phòng trừ chúng

- Điều tra sâu hại trên cây Thầu dầu

- Tìm hiểu đặc trưng hình thái, sinh vật học của một số loài sâu hại trên cây Thầu dầu

- Nghiên cứu tỷ lệ bị hại, mức độ bị hại và chỉ số tổn thất của loài sâu hại chủ yếu trên cây Thầu dầu

- Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại chính theo nguyên tắc Quản lý vật gây hại tổng hợp (IPM, Integrated Pest Management.).

Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu được tiến hành tại khu Tân Xuân, Thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 2 năm 2013

Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề tài trên nội dung và phương pháp chủ yếu của đề tài là:

1 Xác định các loài sâu hại trên cây Thầu dầu

2 Đặc điểm hình thái các giai đoạn sâu hại trên cây Thầu dầu

3 Đặc điểm sinh vật học của một số loài sâu hại cây Thầu dầu

4 Các loài thiên địch của sâu hại cây Thầu dầu

5 Đề xuất các biện pháp phòng trừ theo nguyên tắc quản lý vật gây hại tổng hợp (IPM)

Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu theo các nội dung nghiên cứu trên được tiến hành như sau:

Kế thừa là phương pháp nghiên cứu khoa học, chúng tôi so sánh tài liệu đã công bố trong và ngoài nước với nghiên cứu của bản thân Từ các tài liệu phân loại côn trùng, chúng tôi xác định một số loài sâu ăn lá và đối chiếu với mẫu vật thu thập Chúng tôi tiến hành xác định các cỡ tuổi sâu non và tuổi sâu để xác định nhộng và sâu trưởng thành, nhằm so sánh với tài liệu đã có, từ đó xác định chính xác loài sâu hại Thầu dầu.

Tiếp cận nghiên cứu bao gồm các phương pháp như tiếp cận hệ thống, tiếp cận có sự tham gia, và tiếp cận nhân rộng và nâng cao, chủ yếu tập trung vào điều tra Đặc biệt, điều tra sâu bệnh có thể thực hiện theo phương pháp được trình bày trong giáo trình điều tra sâu bệnh hại cây rừng.

- Điều tra mật độ sâu hại lá: a) Điều tra theo tuyến

Các chỉ tiêu đánh giá tình hình sâu bệnh hại bao gồm các loài sâu hại, mật độ, giai đoạn phát triển, phân bố và mức độ gây hại Mức độ gây hại được phân loại thành ba cấp độ: nhẹ (dưới 30% - +), vừa (31-60% - ++), và nặng (trên 60% - +++) Để thu thập dữ liệu, cần chọn 5 điểm thu mẫu theo đường chéo góc trên diện tích ruộng trồng Thầu dầu và thực hiện điều tra theo ô tiêu chuẩn (ÔTC).

Nói chung 10 - 15 ha chọn một ÔTC nên chiếm tổng diện tích 0,1 – 0,5%, vườn ươm khoảng 0,05 - 0,1% là vừa

+ Lấy mẫu trong ô tiêu chuẩn (ÔTC)

Trong ÔTC cây mục đích chọn 30 - 50 cây, cây mới trồng chọn > 100 cây, cây trồng nông lâm kết hợp có thể chọn số cây < 1/3

Việc thu thập số liệu trên cây tiêu chuẩn là rất quan trọng, bao gồm việc điều tra các loài sâu hại, trạng thái của sâu, tình hình bị hại, mật độ sâu và tỷ lệ có sâu.

Số cây điều tra trong ÔTC nên khoảng 10 – 20 cây, mỗi cây đều được đánh số thứ tự

+ Điều tra loài và số lượng sâu hại

Nếu cây có chiều cao dưới 2m, cần tiến hành điều tra toàn bộ cây Đối với cây cao, việc điều tra nên chia thành ba phần: dưới, giữa và trên tán cây theo các hướng khác nhau Trong trường hợp nhộng kén sâu hại trú đông trên cành lá rụng và trên mặt đất, cần điều tra số lượng sâu hại trên mỗi mét vuông với độ sâu 20cm Kết quả điều tra sẽ được ghi vào biểu mẫu.

Biểu 1: Điều tra sâu ăn lá

Tên sâu và dạng sâu

Số lượng sâu hại Tình hình bị hại

Khỏe Chết Bị ký chú sinh Tổng Mật độ

+ Tỷ lệ số cây có sâu và mật độ sâu hại

Tính tỷ lệ cây có sâu

Trong đó n là cây có sâu, N là tổng số cây điều tra

Trong đó Ms là mật độ sâu theo diện tích, N là số sâu điều tra, S là diện tích điều tra

Mật độ sâu trên mỗi cây

Trong đó Mc là mật độ sâu trên mỗi cây, N là tổng số sâu điều tra, C là tổng số cây điều tra

Để xác định diện tích bị hại do sâu ăn lá, cần phân loại mức độ thiệt hại thành ba cấp độ: nhẹ, vừa và nặng Mức độ này được đánh giá dựa trên mật độ sâu trên cây (Mc) Sau khi xác định mức độ phát sinh, diện tích bị hại sẽ được tính toán dựa trên diện tích điều tra trên ÔTC Việc thống kê diện tích bị hại cho một số loài sâu ăn lá được quy định cụ thể để có cái nhìn tổng quan về tình hình thiệt hại.

Biểu 2: Quy định thống kê diện tích bị hại một số loài sâu ăn lá

Loài sâu Dạng sâu Đơn vị Mức độ phát sinh

Sâu róm thông Sâu non Con/cây 1-5 6-15 >16

Sâu túi Túi sâu Túi/cây 0,5-2 2,1-6,0 >6,1

Sâu non Con/50cm cành 2 - 4 4 - 7 >7

Bọ lá Sâu non một tuổi Con/100 lá 10 - 20 21 - 35 >36

Châu chấu tre STT Con/cây 5 - 15 16-30 >31

Ngài độc Sâu non Con/cây 20 - 40 41- 80 >81

(1) Sâu non bộ cánh vẩy trên 3 tuổi là chỉ tiêu tính toán

(2) Sâu róm thông : Hàng trên tính cho cây dưới 10 tuổi, hàng dưới tính cho cây trên 10 tuổi

(3) Sâu túi cần lấy cây đường kính tán khoảng 1,5m làm cây tiêu chuẩn, tổng lượng lá những cây này thường là 300 lá

- Điều tra sâu hại chồi, ngọn và cành a) Điều tra sơ bộ xác định mức độ bị hại như sau: Số cành bị hại 7 Rệp tròn thông Rệp cái Con/cụm lá 1-3 4-6 >7

- Điều tra sâu hại thân

Trong quá trình điều tra sơ bộ, cần ghi chép các yếu tố lâm phần và tình hình thiệt hại Mức độ thiệt hại được phân loại như sau: dưới 10% là nhẹ, từ 11% đến 20% là vừa, và trên 20% là nặng.

Trong khu vực điều tra, cần chọn ÔTC có mức độ hại lá đồng đều và tiến hành chọn 50 cây để dễ dàng đánh giá tỷ lệ cây khỏe, nhẹ và yếu Nếu cần thiết, có thể chặt 2-3 cây và bóc vỏ đoạn dài từ gốc đến ngọn để ghi chép vị trí và phạm vi của các loài sâu hại Để thống kê mật độ sâu đục thân, cần bóc vỏ với kích thước 20cm x 50cm theo các vị trí và hướng khác nhau, nhằm làm rõ chủng loại, số lượng, dạng sâu và thống kê mật độ sâu trên 1m² và của từng cây.

Kết quả được ghi vào các biểu sau:

Biểu 6: Điều tra mức độ gây hại của sâu đục thân

Cây khỏe Tình hình vệ sinh

Số chú cây % Cây suy yếu

Biểu 7: Điều tra mức độ bị của sâu đục thân

Các nhân tố của cây

Mật độ sâu (con/1000cm 2 )

H D Tuổi Stt Sâu non Nhộng Số lỗ đục

Căn cứ vào các chỉ tiêu trên dựa vào quy định thống kê diện tích bị hại ta xếp vào các cấp sau:

Biểu 8: Tỉ lệ bị hại do sâu đục thân

Loài sâu Dạng sâu Đơn vị Tỉ lệ bị hại (%)

Chúng tôi đã tiến hành đo kích thước của các cỡ tuổi sâu non nhộng và sâu trưởng thành bằng thước kẻ với độ chính xác đến mm, sau đó so sánh kết quả này với các tài liệu phân loại côn trùng đã được công bố.

Chúng tôi theo dõi các loài sâu hại vào cả ban ngày và ban đêm để xác định vòng đời, các lứa tuổi cũng như quá trình sinh trưởng và phát triển của chúng.

Chúng tôi đề xuất các biện pháp phòng trừ sâu hại cây Thầu dầu tại Xuân Mai dựa trên nguyên tắc quản lý vật gây hại tổng hợp (IPM) Các biện pháp này bao gồm những phương pháp cụ thể nhằm kiểm soát hiệu quả sự phát triển của sâu hại, đảm bảo an toàn cho cây trồng và môi trường.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ và sự phân chia hành chính

Thị trấn Xuân Mai tọa lạc tại vị trí 20,54' độ Vĩ Bắc và 106,34' độ Kinh Đông, nằm tại giao điểm giữa Quốc lộ 6 và Quốc lộ 21A (nay là Đường Hồ Chí Minh), cách trung tâm Hà Nội 33 km về phía Tây Đây là một trong năm đô thị vệ tinh của Hà Nội, bao gồm Sơn Tây, Hòa Lạc, Xuân Mai, Phú Xuyên, Sóc Sơn và Mê Linh trong tương lai Xuân Mai giáp với Thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình ở phía Tây; xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, Hà Nội ở phía Bắc; xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ ở phía Đông và Nam.

Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

Xuân Mai, nằm trong khu vực trung du của Hà Nội, có đặc điểm địa hình đa dạng với đất đồi núi cao, đất bằng phẳng và đất trũng Khu vực nghiên cứu chủ yếu là đất bằng phẳng gần thị trấn, bao gồm đất bồi tụ và đất lấp nhân tạo từ năm 2007 Nền đất tại đây tơi xốp, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây thầu dầu, với hơn 100 cây mọc tự nhiên ở nhiều lứa tuổi khác nhau.

3.2.2 Đất đai Đất Xuân Mai thuộc đất bồi tụ Feralit vàng Mọc nhiều cây keo, bạch đàn và các cây lâm nghiệp khác Đất phù hợp với sinh trưởng của các loài cây ăn quả như Hồng xiêm, Bưởi, Cam chanh và một số cây rau màu

Khí hậu Xuân Mai thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 17°C đến 28°C, trong khi lượng mưa trung bình hàng tháng đạt 174,5mm Tháng 1 có lượng mưa thấp nhất là 24,5mm, còn tháng 9 có lượng mưa cao nhất lên tới 404mm Những thông tin này được thể hiện rõ qua sơ đồ Gaussen-Walter (1963).

Hình 3.1.Sơ đồ khí hậu khu vực Xuân Mai, theo Gaussen- Walter ( 1963)

Sơ đồ cho thấy Xuân Mai có hai mùa chính: mùa mưa kéo dài từ tháng 3 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.

Thực bì khu vực Xuân Mai chủ yếu là cây trồng xen lẫn với cây cỏ như: cỏ bông trắng, cỏ lào, cỏ xấu hổ, cây quyết, cây lan

Điều kiện kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

Thị trấn Xuân Mai bao gồm 9 khu dân cư, cụ thể là Khu Bùi Xá, Khu Phố Xuân Hà, khu Xuân Mai, Tiên Trượng, khu Đồng Vai, Tân Xuân, Tân Bình, khu Chiến Thắng và khu Tân Mai.

Các cơ quan đơn vị đóng trên thị trấn: Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân thị trấn và các đơn vị hành chính trực thuộc thị trấn

Xuân Mai có 10 trường học là:

1 Đại học Lâm nghiệp Việt Nam (Forestry University of Vietnam)

2 Trường Sĩ quan Đặc công

3 Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây

4 Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây

5 Trường Cao đẳng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đông Bắc Bộ 1 6.Trường cảnh sát vũ trang (T45)

8.Trường phổ thông dân lập Ngô Sỹ Liên

9 Trường Tiểu học Xuân Mai A, B

Có 3 đơn vị quân đội là:

2 Lữ đoàn 201-Binh chủng Tăng-Thiết Giáp

3 Nhà máy Z119-Bộ quốc phòng

Các đơn vị trên góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế xã hội khu vực.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thành phần các loài sâu hại chủ yếu trên cây Thầu dầu

Sau quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã xác định được 8 loài côn trùng gây hại trên cây Thầu dầu thuộc Bộ và Họ Danh mục các loài sâu hại Thầu dầu được trình bày trong bảng dưới đây.

Bảng 4.1 Danh lục các loài sâu hại Thầu dầu tại khu vực nghiên cứu

TT Tên Việt Nam Tên khoa học Pha Tác hại

1 Mối đất Macrotemes + Hại rễ, thân

2 Sâu khoang Spodoptera litura Fabricius - 0 + Hại lá

3 Sâu róm 4 túm lông Orgyia ericae Germar - 0 + Hại lá

4 Sâu róm vàng Ivela ochropoda Walker - 0 + Hại lá

5 Rầy xanh Erythroneura sudrra Distant - 0 + Hại lá

6 Bọ hung nâu nhỏ Maladera orientalis Most + Hại rễ

7 Vòi voi Rhynchites foveipennis Fairm - 0 + Hại quả

8 Bọ rùa đen Chillocorus gressitti Miyatake + Chưa rõ

Biểu trên chứng minh trên cây Thầu dầu tại khu vực Xuân Mai, qua điều tra phát hiện 8 loài sâu hại thuộc 4 bộ, 7 họ côn trùng

Mặc dù số lượng sâu hại trên cây Thầu dầu không nhiều, nhưng sự đa dạng của chúng lại khá phong phú Điều này được lý giải bởi điều kiện khí hậu thuận lợi với nhiệt độ trung bình từ 17-28°C và độ ẩm 82%, tạo điều kiện lý tưởng cho sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loài côn trùng.

Cần tiếp tục theo dõi và nghiên cứu ảnh hưởng của các loài côn trùng, đặc biệt là Bọ rùa đen, tới cây Thầu dầu để áp dụng các biện pháp kiểm soát hợp lý Để đánh giá mức độ phong phú về loài và họ của các bộ côn trùng trong khu vực nghiên cứu, tôi đã thống kê tỷ lệ phần trăm số loài và họ, kết quả được trình bày trong Bảng 4.2 và Hình 4.1; 4.2.

Bảng 4.2: Tỷ lệ % số họ, loài của các bộ côn trùng thu được trong khu vực nghiên cứu

STT Tên bộ Số họ Tỷ lệ % Số loài sâu Tỷ lệ %

Hình 4.1 Tỷ lệ các họ của các bộ côn trùng trên cây Thầu dầu

Hình 4.2 Tỷ lệ các loài của các bộ côn trùng trên cây Thầu dầu

Qua Bảng 4.2 và các Hình 4.1, 4.2 có thể rút ra một số nhận xét sau:

Bộ Cánh cứng chiếm tỷ lệ lớn nhất trong số họ và loài côn trùng, với 42,8% số họ và 37,5% số loài Tiếp theo là bộ Cánh vẩy, chiếm 28,6% số họ và 37,5% số loài Trong khi đó, bộ Cánh bằng và Cánh giống có tỷ lệ nhỏ hơn, với 14,3% số họ và 12,5% số loài Hiện trạng này phản ánh sự phân bố tự nhiên của các loài côn trùng.

Dựa vào ý nghĩa của chúng, có thể phân loại 8 loài côn trùng thành các nhóm khác nhau Dưới đây là bảng thống kê thể hiện vấn đề này.

Bảng 4.3: Tỷ lệ các nhóm côn trùng thu được trên cây Thầu dầu

STT Nhóm sâu Số loài Tỷ lệ %

Có thể thấy rõ hơn sự khác nhau của các nhóm côn trùng trong hình dưới đây:

Hình 4.3: Tỷ lệ % các nhóm côn trùng thu được trên cây Thầu dầu

Sâu hại lá là nhóm sâu gây hại lớn nhất, tiếp theo là sâu hại thân rễ, nhưng không phải loài nào cũng gây nguy hiểm cho cây Trong hệ sinh thái, sâu hại có thể trở thành loài có ích trong giới hạn mật độ quần thể cho phép, giúp thụ phấn, phát tán hạt giống và chuyển hóa chất hữu cơ thành vô cơ cho cây Chúng cũng hạn chế sự phát triển của các loài sâu hại nguy hiểm hơn thông qua chuỗi thức ăn Tuy nhiên, cần chú ý đến việc phòng trừ sâu hại, vì trong điều kiện môi trường thuận lợi, một số loài có thể phát triển thành dịch sâu hại phá rừng trồng.

Nhóm sâu hại lá bao gồm 4 loài, nhưng không loài nào thực sự gây nguy hiểm Trong quá trình nghiên cứu, sự xuất hiện của sâu hại lá là hiếm hoi và mức độ gây hại cũng không đáng kể.

Sâu hại quả là mối đe dọa lớn hơn nhiều so với sâu hại lá, đặc biệt đối với cây Thầu dầu, loài cây chủ yếu được trồng để thu hoạch quả Sự hiện diện của các loại sâu hại quả có tác động đáng kể đến năng suất và chất lượng của Thầu dầu.

Mối có thể gây hại cho thân và rễ cây, đặc biệt là những cây mới trồng Tuy nhiên, cây thường có sức đề kháng tốt, nên hiếm khi xảy ra trường hợp cây chết do mối.

Xác định các loài sâu hại chủ yếu

Mỗi loài sâu hại có đặc điểm sinh học riêng, do đó cần áp dụng các biện pháp phòng trừ khác nhau Việc áp dụng biện pháp chung cho tất cả các loài sẽ tốn kém và hiệu quả không cao Giải pháp bền vững nhất là phục hồi hệ sinh thái rừng, đảm bảo sự cân bằng về số lượng cá thể trong chuỗi thức ăn Do đó, trong công tác phòng trừ, cần tập trung vào những loài sâu hại chính có khả năng gây hại tại khu vực.

Khi nghiên cứu đặc điểm của các loài sâu hại, chúng ta nhận thấy rằng chúng chỉ gây hại khi mật độ của chúng đạt mức cao, ảnh hưởng tiêu cực đến mục tiêu kinh doanh của con người Đặc biệt, những loài sâu hại có khả năng sinh sản cao có tiềm năng phát dịch lớn, đòi hỏi sự chú ý và biện pháp kiểm soát hiệu quả.

Để hạn chế tác động tiêu cực của sâu hại và tối ưu hóa việc sử dụng các loài thiên địch, cần có điều kiện môi trường thuận lợi Việc phân tích sâu sắc các loài sâu hại chủ yếu là rất quan trọng, và những chỉ tiêu để xác định các loài này cần được xem xét kỹ lưỡng.

- Số lần xuất hiện của loài sâu trong các đợt điều tra = SLXH

- Mật độ của loài sâu hại (M), tỷ lệ cây có loài sâu hại (P%)

- Đặc tính sinh vật học của loài, đặc biệt là hình thức gây hại của sâu

Mức độ gây hại của sâu (R%) là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá quần thể sâu hại hiện tại, bao gồm số lần xuất hiện, mật độ, tỷ lệ cây bị sâu và hình thức gây hại Những yếu tố này phản ánh mức độ đe dọa của sâu đối với cây trồng Để xác định loài sâu hại chính, cần thông tin về quá trình phát dịch và nguy cơ của chúng, tuy nhiên, nghiên cứu về sâu hại cây Thầu dầu tại Việt Nam còn hạn chế Do đó, việc áp dụng phương pháp đánh giá hiện tại là cần thiết, kết hợp với việc theo dõi tình hình sâu hại trong những năm gần đây để có kết quả chính xác hơn.

Bảng 4.4: Kết quả điều tra sâu hại Thầu dầu tại khu vực nghiên cứu

Nhìn vào Bảng 4.4 ta thấy: Căn cứ vào số lần xuất hiện (SLXH) của sâu có thể xếp hạng các loài sâu hại theo thứ tự sau đây:

Trước hết là xét về mặt số lần xuất hiện:

1 Loài Rầy xanh, Vòi voi xuất hiện trong cả 5 lần điều tra Như vậy đây là hai loài phổ biến nhất của khu vực nghiên cứu

2 Loài đứng thứ hai về số lần xuất hiện là Sâu khoang và Sâu róm 4 túm lông (Ngài độc), có 4 lần xuất hiện trên tổng số 5 lần điều tra

3 Sâu róm vàng và Bọ hung nâu nhỏ xuất hiện 3 lần

4 Các loài còn lại chỉ điều tra được một lần

Khi chỉ xem xét những loài có tần suất xuất hiện lớn hơn 50% trong các cuộc điều tra, chúng ta nhận thấy chỉ còn 6 loài có thể được coi là sâu hại chủ yếu, bao gồm: Loài Vòi voi, Sâu khoang, Rầy xanh, sâu róm 4 túm lông, sâu róm vàng và Bọ hung nâu nhỏ.

Các loài có mật độ cao bao gồm Vòi voi với 0,433 con trên mỗi cây, Rầy xanh đạt 2,147 con trên mỗi cây, và Sâu khoang với 0,17 con trên mỗi cây.

Mối quan hệ giữa mật độ cây và tỷ lệ cây có sâu cho thấy rằng những loài có mật độ cao thường có chỉ số P% cao Cụ thể, trong bảng thống kê, các loài có tỷ lệ cây có sâu đạt từ 10% trở lên bao gồm Vòi voi, Sâu khoang và Sâu róm 4 túm lông.

Rầy xanh là một trong những loài sâu hại nguy hiểm, đặc biệt là đối với cây trồng Chúng có khả năng gây hại nghiêm trọng đến quả và rễ, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây Khi mức độ gây hại tăng cao, rầy xanh có thể dẫn đến cái chết của cây hoặc làm giảm chất lượng nông sản.

Trong số 8 loài côn trùng được nghiên cứu, Vòi voi và Rầy xanh được xác định là hai loài sâu hại nguy hiểm nhất trên cây Thầu dầu Ngoài ra, Sâu khoang, Sâu róm 4 túm lông, Sâu róm vàng và Bọ hung nâu nhỏ cũng là những loài sâu hại đáng chú ý, có khả năng trở thành sâu hại chủ yếu trong tương lai Dưới đây là một số thông tin chi tiết về các loài sâu hại này.

Đặc điểm sinh vật học các loài sâu hại Thầu dầu

4.3.1 Sâu hại lá Thầu dầu

Sâu hại cây Thầu dầu, cụ thể là loài sâu ngài đêm (sâu khoang), đã được phát hiện ăn lá với mức độ nguy hiểm cao Chúng tập trung trên một cây và làm trụi lá, chỉ để lại gân lá Sau khi quan sát và đối chiếu hình thái, chúng tôi khẳng định đây là loài sâu gây hại nghiêm trọng cho cây Thầu dầu.

Họ Ngài đêm (Noctuidae); Bộ Cánh Vảy (Lepidoptera)

Theo phân loại của Brown, cutworm và lawn armyworm là những loài ăn tạp, phân bố trên nhiều loại cây Chúng được Corbett phát hiện lần đầu tiên ở Malaysia vào năm 1926.

Sâu ăn tạp, theo tài liệu của Trần Văn Hải, là một loài có phổ ký chủ rộng và phân bố hầu hết trên toàn cầu.

Sâu ăn tạp là loài sâu ăn lá quan trọng, có khả năng gây hại cho 290 loại cây trồng thuộc 99 họ thực vật, bao gồm rau đậu, cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây lương thực và cây phân xanh Chúng chủ yếu xuất hiện ở các nước Đông Nam Á và Thái Bình Dương Một số đặc điểm hình thái cơ bản của loài sâu này cần được lưu ý.

Sâu trưởng thành có kích thước khoảng 20-25mm chiều dài thân và 35-45mm sải cánh Cánh trước có màu nâu vàng với vân trắng, trong khi cánh sau có màu trắng óng ánh.

Trứng được đẻ tập trung trên lá màu trắng sữa, với mỗi con cái có khả năng đẻ tới 300 trứng ở mặt sau của lá Để bảo vệ trứng, bụng của con cái tiết ra lông tơ bao phủ trên bề mặt trứng.

Trứng có hình bán cầu với đường kính từ 0,4 - 0,5mm, bề mặt được trang trí bằng các đường khía dọc và ngang tạo thành những ô nhỏ Màu sắc của trứng mới đẻ là trắng vàng, sau đó chuyển sang màu vàng tro và cuối cùng là màu tro đậm khi gần đến thời điểm nở Ổ trứng được phủ lớp lông từ bụng của ngài cái mẹ, và thời gian ủ trứng kéo dài từ 4 đến 7 ngày.

Sâu non: Có 6 cỡ tuổi thể hiện màu sắc kích thước khác nhau

Sâu non mới nở có màu xanh, kích thước 1-1,5mm, thường ăn ở mặt sau lá tạo thành đốm rộng Sâu non tuổi 2 có màu trắng, kích thước từ 1,5-10mm, trong khi sâu non tuổi 3 cũng màu trắng, dài từ 10-20mm Sâu non tuổi 4 vẫn giữ màu trắng, kích thước từ 20-30mm, và sâu non tuổi 5 có màu trắng với kích thước từ 30-40mm Cuối cùng, sâu non tuổi 6 có màu trắng, kích thước lớn hơn từ 40-55mm Nhộng có màu trắng vàng, kích thước nhỏ hơn và thường tập trung ở dưới đất.

Thời gian phát triển của ấu trùng kéo dài từ 20-25 ngày, với số tuổi từ 5-6 tùy thuộc vào điều kiện môi trường Trong điều kiện thuận lợi, sâu có thể dài từ 35-53mm và có hình dạng ống tròn Sâu nhỏ có màu xanh lục, nhưng khi lớn lên sẽ chuyển sang màu nâu đậm Trên cơ thể sâu có một sọc vàng sáng chạy dọc hai bên hông từ đốt thứ nhất đến đốt thứ tám, mỗi đốt có một chấm đen rõ rệt, trong đó hai chấm đen ở đốt thứ nhất là lớn nhất Khi sâu lớn, hai chấm đen ở đốt thứ nhất ngày càng to và gần như giao nhau, tạo thành khoang đen trên lưng, do đó sâu ăn tạp còn được gọi là “sâu khoang”.

Thời gian phát triển của nhộng kéo dài từ 7 đến 10 ngày, với kích thước từ 18 đến 20mm Ban đầu, nhộng sâu ăn tạp có màu xanh đọt chuối và rất mềm, sau đó chuyển dần sang màu vàng xanh và cuối cùng là màu nâu Khi gần đến giai đoạn vũ hóa, nhộng trở nên màu nâu đen, và các đốt cuối của nhộng có khả năng cử động.

Ngài cái có tuổi thọ trung bình từ 1-2 tuần, tùy thuộc vào điều kiện thức ăn Trong điều kiện lý tưởng, một ngài cái có thể đẻ từ 900 đến 2000 trứng, trong khi trung bình mỗi ngài cái chỉ đẻ khoảng 300 trứng Thời gian đẻ trứng của ngài kéo dài khoảng 5 ngày.

7 ngày đôi khi đến 10 - 12 ngày

Vòng đời của sâu ăn tạp trung bình kéo dài 30,2 ngày, với giai đoạn ấu trùng chiếm 21,7 ngày, đây là giai đoạn gây hại chủ yếu Khả năng sinh sản mạnh mẽ và thời gian phá hại kéo dài khiến sâu ăn tạp trở thành một trong những đối tượng gây hại quan trọng đối với rau màu và cây Thầu dầu.

Ngài thường vũ hoá vào buổi chiều và hoạt động từ tối đến nửa đêm, có khả năng bay xa hàng chục mét và cao đến 6-7 mét Ban ngày, bướm đậu ở mặt sau lá hoặc trong các bụi cỏ Sau vài giờ vũ hoá, bướm có thể bắt cặp và một ngày sau đó sẽ đẻ trứng.

Sâu ăn tạp là loài gây hại cho nhiều loại cây trồng, xuất hiện quanh năm trên đồng ruộng Chúng hoạt động mạnh mẽ vào buổi sáng sớm, nhưng khi ánh nắng xuất hiện, chúng thường ẩn nấp dưới tán lá Đến chiều mát, sâu lại tiếp tục hoạt động và gây hại cho cây trồng suốt đêm.

Sâu vừa nở thường ăn gặm vỏ trứng và sống tập trung, nhưng nếu bị động, chúng có thể bò phân tán hoặc nhả tơ để buông mình xuống đất Ở giai đoạn tuổi 1-2, sâu chỉ ăn phần diệp lục của lá, để lại lớp biểu bì trắng, nhưng từ tuổi 3 trở đi, chúng phá hủy mạnh mẽ, cắn thủng lá và gân lá Khi lớn, nếu thiếu thức ăn, sâu còn ăn thịt lẫn nhau và không chỉ phá lá cây mà còn ăn trụi cả thân, cành và trái non Khi đến giai đoạn làm nhộng, sâu chui xuống đất để tạo thành một khoang và nằm yên trong đó.

Đặc điểm sinh thái học của các loài sâu hại Thầu dầu chủ yếu

4.4.1 Quan hệ của loài sâu hại chủ yếu với cây Thầu dầu

Thức ăn đóng vai trò quan trọng trong sinh thái học của côn trùng, cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của chúng Nó không chỉ giúp bù đắp năng lượng tiêu hao trong các hoạt động sống mà còn góp phần hình thành các sản phẩm sinh dục sau này.

Thành phần thức ăn có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của côn trùng, với mỗi loài có loại thức ăn ưa thích riêng Khi được cung cấp thức ăn phù hợp, côn trùng sẽ phát triển nhanh chóng, tỷ lệ sống cao và khả năng sinh sản tốt Ngược lại, nếu phải ăn thức ăn không phù hợp, thời gian phát triển sẽ kéo dài, tỷ lệ chết tăng và chất lượng trứng sẽ giảm rõ rệt.

Theo tác giả Đặng Vũ Cẩn (1973), thức ăn đóng vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng và phát triển của động vật, đặc biệt là côn trùng Sự thiếu hụt thức ăn hoặc dinh dưỡng có thể làm đình trệ quá trình sống của chúng, dẫn đến tỷ lệ tử vong cao Ngược lại, khi có đủ thức ăn phong phú và các điều kiện môi trường như độ ẩm, nhiệt độ phù hợp, côn trùng sẽ dễ dàng sinh sản hàng loạt, tạo điều kiện cho sâu hại bùng phát.

Thức ăn có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến độ mắn đẻ, tốc độ phát triển, hoạt động sống và tỷ lệ chết của côn trùng Nó cũng tác động đến sự phân bố địa lý, cấu trúc và kích thước cơ thể của chúng Để nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài sâu hại và nguồn thức ăn, chúng tôi tiến hành các nội dung nghiên cứu cụ thể.

- Tỷ lệ cây có sâu hại trong lầm phần cây Thầu dầu

- Quan hệ giữa sâu hại chủ yếu với các chỉ tiêu sinh trưởng của lâm phần cây Thầu dầu

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hai loài sâu hại chủ yếu là Vòi voi và Rầy xanh, trong khi các loài sâu khác có mức độ gây hại không đáng kể Vì vậy, chúng tôi chỉ tập trung vào việc tính toán và so sánh các thông tin liên quan đến hai loài này.

4.4.1.1 Tỷ lệ cây Thầu dầu có sâu hại chủ yếu

Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ ÔTC có Vòi voi và Rầy xanh khác nhau đáng kể Đối với Vòi voi, chúng tôi đã thu thập số lượng sâu non, đếm lỗ sâu non xung quanh thân cây và xác định tỷ lệ cây có sâu trong 6 ÔTC Đối với loài Rầy xanh, chúng tôi đã tiến hành đếm trực tiếp trên cây và ghi nhận kết quả.

Bảng 4.5: Kết quả điều tra tỷ lệ cây Thầu dầu có sâu hại chủ yếu ÔTC Số cây trong ô

Số cây có Vòi voi Tỷ lệ % Số cây có

Hình 4.4 Tỷ lệ cây Thầu dầu có sâu hại chủ yếu

Từ biểu đồ và hình ảnh, tỷ lệ cây bị sâu Vòi voi hại là khá thấp, với chỉ 5-9 cây trên mỗi ô thử nghiệm (ÔTC) Trung bình, tỷ lệ cây bị hại là 9,35% cho cả 6 ÔTC Không có sự khác biệt đáng kể giữa các ÔTC, cho thấy sâu Vòi voi xuất hiện trên toàn khu vực Mặc dù Vòi voi có mặt ở khắp nơi, tỷ lệ cây bị nhiễm chỉ khoảng 10%, cho thấy sự phân bố của sâu trong thời điểm nghiên cứu là ngẫu nhiên.

Số lượng cây bị Rầy xanh hại lá dao động từ 15 - 65 cây, với tỷ lệ trung bình cho cả 6 ÔTC là 30,31% Điều này cho thấy sự phân bố không đồng đều của sâu trên các ÔTC Rầy xanh xuất hiện ở tất cả các ÔTC, với mật độ cao hơn so với Vòi voi Tại tất cả các ÔTC, tỷ lệ cây bị Rầy xanh luôn lớn hơn tỷ lệ cây bị Vòi voi, thường gấp hai lần.

ÔTC số 04 có số cây Vòi voi bị sâu đục thân cao nhất, chiếm 76,4%, do đây là khu vực trồng thuần loài với độ dốc thấp và độ ẩm đất lớn hơn các ÔTC khác Ngoài ra, ÔTC số 04 cũng có sinh trưởng về đường kính và chiều cao lớn nhất, nhờ vào nguồn thức ăn dồi dào hơn, giúp cây hoàn thành vòng đời của mình.

Theo điều tra, tỷ lệ cây Thầu dầu có sự xuất hiện của Vòi voi và Rầy xanh trong các ÔTC là rất thấp Chúng tôi đã ghi nhận được những kết quả sau:

Bảng 4.6: Tỷ lệ cây Thầu dầu có cả Vòi voi và Rầy xanh ÔTC Số cây có cả 2 loài sâu hại chủ yếu Tỷ lệ % Ghi chú

Trong nghiên cứu, số lượng cây bị cả hai loài sâu hại chủ yếu rất ít, chỉ từ 1-12 cây trên mỗi ÔTC Tính trung bình, tỷ lệ cây bị hại trên toàn bộ 6 ÔTC là 5,52% Không có sự khác biệt đáng kể giữa các ÔTC, ngoại trừ ÔTC số 4, nơi tỷ lệ cây bị cả hai loài sâu hại lên đến 14,11%, do đây là khu vực rừng trồng thuần loài cây có điều kiện sinh trưởng tốt.

4.4.1.2 Quan hệ giữa sâu với các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Thầu dầu Để hoàn thành quá trình phát triển sâu hại cần một khối lượng thức ăn nhất định Chất lượng thức ăn có ảnh hưởng lớn đến số lượng của sâu hại Các chỉ tiêu sinh trưởng của lâm phần như đường kính ngang ngực (D1.3), chiều cao vút ngọn (HVN), đường kính gốc (Doo) đóng vai trò quan trọng Lâm phần sinh trưởng phát triển tốt sẽ là nguồn thức ăn phong phú cho các loài sâu hại và ngược lại nếu lâm phần sinh trưởng kém nguồn thức ăn ít, sâu hại ít hơn Tuy nhiên, cũng tùy thuộc vào đối tượng sâu hại mà mối quan hệ này khác nhau Một số loài sâu hại thứ sinh chỉ hại cây đã bị suy yếu Các chỉ tiêu sinh trưởng của ÔTC có sâu gây hại được đo đếm, tính toán và thể hiện trong bảng sau:

Bảng 4.7: Các chỉ tiêu sinh trưởng cây Thầu dầu ÔTC H VN (m) D oo (cm) Năm trồng

Qua biểu chúng tôi có nhận xét sau:

ÔTC số 4 cho thấy sự sinh trưởng tốt nhất về đường kính và chiều cao, trong khi ÔTC số 2 lại có sự sinh trưởng kém Sự khác biệt này chủ yếu được gây ra bởi độ dày của tầng đất và độ dốc của khu vực.

Mối quan hệ giữa sâu hại và cây thức ăn là tương hỗ, trong đó hoạt động của sâu có thể ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây, và ngược lại, sự phát triển của cây cũng tác động đến sự lựa chọn thức ăn và mức độ gây hại của sâu Sự khác biệt rõ rệt giữa cây bị sâu và cây không bị sâu cho thấy mối quan hệ này là chặt chẽ Cụ thể, vòi voi xuất hiện nhiều nhất ở ÔTC số 2, trong khi Rầy xanh lại tập trung chủ yếu ở ÔTC số 4, như được thể hiện trong bảng số liệu dưới đây.

Bảng 4.8: Đường kính (D oo ), chiều cao (H VN ) của cây Thầu dầu có sâu

(CS) và cây không có sâu (KS)

Sâu đục nõn Vòi voi

CS KS CS KS CS KS CS KS

Quan sát biểu 4.8 ta thấy:

1 Đường kính gốc của các cây bị Rầy xanh (5,06cm) lớn hơn so với đường kính gốc của cây không có Rầy xanh (4,98) Tuy nhiên mức chênh lệch không lớn

2 Chiều cao của các cây bị Rầy xanh (2,51m) lại nhỏ hơn so với chiều cao của cây không có Rầy xanh (2,53m) Mức chênh lệch ở đây cũng không lớn

3 Đường kính gốc của các cây bị Vòi voi (4,13cm) cũng lớn hơn so với đường kính gốc của cây không có Vòi voi (3,56cm)

4 Chiều cao của các cây bị Vòi voi lớn hơn so với chiều cao của cây không có Vòi voi

Đề xuất một số biện pháp phòng trừ đối với các loài sâu hại cây Thầu dầu

Phòng trừ tổng hợp (IPM) là phương pháp quản lý sâu bệnh nhằm bảo vệ môi trường và các loài thiên địch, đồng thời nâng cao sức chống chịu của cây trồng Dưới đây là một số vấn đề quan trọng liên quan đến quản lý sâu bệnh hại tổng hợp mà chúng tôi muốn trình bày.

Vào năm 1959, Stern đã đề xuất thuật ngữ IPC (Integrated Pest Control) Đến năm 1966, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) phối hợp với Tổ chức quốc tế phòng trừ sinh vật (IOBC) tổ chức hội nghị đầu tiên tại Roma, chính thức giới thiệu khái niệm phòng trừ tổng hợp IPM IPM được định nghĩa là hệ thống quản lý dịch hại dựa trên mối quan hệ động thái giữa quần thể và môi trường, nhằm điều chỉnh các kỹ thuật và phương pháp phù hợp để kiểm soát dịch hại dưới ngưỡng tổn thất kinh tế.

Năm 1972, tại một hội nghị ở Mỹ do Ủy ban chất lượng môi trường tổ chức, IPM (Quản lý dịch hại tổng hợp) được định nghĩa là phương pháp áp dụng kỹ thuật tổng hợp để phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng Mục tiêu của IPM là kiểm soát tự nhiên quần thể loài dịch hại ở mức tối đa, sử dụng các kỹ thuật như canh tác, quản lý bệnh dịch, kỹ thuật bất thụ, dẫn dụ thiên địch, và thuốc hóa học.

Năm 1975, Trung Quốc tổ chức hội nghị bảo vệ thực vật, xác định phương châm "phòng là chính, trừ phải tổng hợp" Hội nghị nhấn mạnh rằng trong phòng trừ tổng hợp, cần dựa vào kỹ thuật nông lâm nghiệp và áp dụng hợp lý các biện pháp hóa học, sinh học, và vật lý tùy theo từng địa phương và thời điểm nhằm kiểm soát vật gây hại một cách kinh tế, an toàn và hiệu quả.

Một số nhà sinh thái học côn trùng nhấn mạnh rằng IPM (Quản lý dịch hại tổng hợp) cần phải dựa trên sự toàn diện về sinh vật và môi trường Nguyên tắc chỉ đạo của IPM là "phòng là chính", phải tuân thủ các tiêu chí kinh tế, an toàn, hiệu quả và đơn giản Các phương pháp canh tác, kinh doanh, hóa học, sinh vật, vật lý và biện pháp sinh thái học cần được áp dụng linh hoạt tùy theo từng địa điểm và thời điểm, nhằm kiểm soát dịch hại ở mức không gây hại, từ đó đảm bảo sức khỏe và tăng năng suất.

Ngày nay, IPM đã trở thành một khái niệm và phương pháp luận phong phú, với các yếu tố chính bao gồm: a) Ứng dụng khoa học hệ thống, trong đó phân tích hệ thống là phương pháp chủ đạo cho các kế hoạch IPM hiện đại b) Cơ sở sinh thái học, với sinh thái quần thể sâu bệnh hại là hạt nhân, và sinh thái quần xã ngày càng được coi trọng c) Cơ sở kinh tế học, nơi các quyết sách quản lý dịch hại cần xem xét hiệu ích kinh tế và ngưỡng kinh tế d) Tính tổng hợp, thể hiện qua việc điều hòa các biện pháp và áp dụng đa dạng các khoa học công nghệ e) Tính tầng thứ, quản lý các cấp độ khác nhau từ lâm phần cụ thể đến hệ sinh thái vườn ươm và các cấp quản lý xã hội Các yếu tố này đã mở rộng khái niệm IPM từ những năm 1980.

Nghiên cứu IPM là một thách thức trong tương lai, đặc biệt liên quan đến việc ứng dụng máy vi tính Kỹ thuật sử dụng máy vi tính, bao gồm xây dựng các mô hình và quyết sách như kho dữ liệu, MIS, DSS, và EXS, đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán và lập quyết sách thành công.

Tháng 6 năm 1992 Liên hợp quốc tổ chức hội nghị môi trường và phát triển toàn thế giới các nhà lãnh đạo và khoa học các nước bắt đầu nhận thức được mối quan hệ phát triển bền vững với bảo vệ tài nguyên rừng Tại nhiều nước đều đề cập đến phát triển bền vững nông nghiệp (Sustainable Agriculture) và lâm nghiệp (Sustainable Forestry) Rừng là chiếc nôi của nhân loại ngày càng được con người chú ý đến phát triển bền vững Năm 1994 nhiều nước đã đề cập đến yêu cầu phải bảo vệ tài nguyên rừng, cần áp dụng mọi biện pháp để bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, trong đó có phòng trừ sâu bệnh hại Từ đó có quan điểm mới về phát triển lâm nghiệp bền vững (Sustainable Pest Management in Forest , SPMF) Các nhà khoa học đều chỉ rõ tác hại của sâu bệnh liên quan chặt chẽ với phát triển bền vững rừng Với tình hình đó bắt buộc chúng ta phải tìm hiểu phát triển bền vững rừng phải thực hiện IPM để duy trì tính ổn định của phát triển bền vững

Sách lược và tư tưởng IPM cần dựa trên cơ sở sinh thái học rừng, phát huy cơ chế nội tại của sinh thái rừng và tiềm năng tự nhiên, đồng thời nhấn mạnh tuần hoàn vật chất tự nhiên để đảm bảo lâm nghiệp bền vững Việc nghiên cứu phòng trừ nên tập trung vào các loài gây hại chủ yếu, kiểm soát sự tăng trưởng đột ngột của quần thể chúng, và sử dụng thuốc hóa học một cách có chọn lọc Cần hiểu rõ cơ chế đề kháng của cây rừng, đặc biệt trong môi trường biến đổi, như sự khác biệt về ánh sáng và lượng mưa giữa rừng mưa nhiệt đới và sa mạc Các cây sống trong điều kiện khắc nghiệt cho thấy khả năng điều tiết và chống chịu mạnh mẽ, với sự sản sinh chất hóa học đề kháng là rất quan trọng Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự tương tác giữa thực vật và động vật ăn thực vật đã dẫn đến sự hình thành các chất độc và chất gây ngán, với hơn 30.000 loài cây có khả năng này Việc áp dụng biện pháp đóng cửa rừng không chỉ cải thiện điều kiện sinh thái mà còn tạo ra phản ứng chống sâu rõ rệt ở cây thông.

Với tiền đề phát triển bền vững, IPM cần tập trung xem xét các mặt sau:

1) Xây dựng một tư tưởng sách lược bảo vệ sức khoẻ rừng bền vững IPM luôn nhấn mạnh ý thức bảo vệ môi trường sinh thái, xem xét đến lâu dài, tổng thể, tăng cường quan niệm bảo vệ sức khoẻ rừng, công tác này phải lâu dài, lặp đi lặp lại và đa biến, luôn luôn nói đến tăng sản, an toàn, bảo vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái

2) Nhiệm vụ bảo vệ sức khoẻ rừng luôn luôn đặt vào hệ thống quản lý bền vững tài nguyên rừng, yêu cầu phải từ tất cả các khâu sản xuất như chọn giống, chọn đất, gieo hạt, trồng cây, chăm sóc, quản lý, lợi dụng Nếu xuất hiện vấn đề ở một khâu nào đó mới bổ sung cứu chữa, như vậy sẽ xảy ra khó hoàn thành nhiệm vụ trọn vẹn Trong sự phát triển bền vững một bài học kinh nghiệm cho thấy trồng thuần loài một vùng nào đó kết quả xảy ra các loài sâu mọt xén tóc làm thối vỏ (như keo, cao su ở Nước ta) cây chết hàng loạt, gây ra tổn thất kinh tế rất lớn

3) Mở rộng, kéo dài tư tưởng sách lược SPMF tiến lên nâng cao nhận thức rừng là chủ thể nâng cao tính ổn định hệ sinh thái rừng, bảo vệ tính đa dạng sinh vật rừng, tăng cường tính đề kháng của cây rừng, tùy từng nơi, từng lúc mà khống chế chúng trong hệ sinh thái ổn định, ức chế sự tăng đột ngột loài sâu bệnh hại

4) Mở rộng chiều rộng và chiều sâu SPMF chủ yếu là nghiên cứu đặc tính sinh vật, sinh thái và động thái quần thể Đó là những vấn đề không thể thiếu được Nhưng nên mở rộng mối quan hệ mạng, mối quan hệ các nhân tố sinh vật và phi sinh vật, như thăm dò tính đề kháng cây gỗ, tính đề kháng dẫn dụ, cơ chế chức năng bù trừ mà xưa nay việc nghiên cứu này còn quá ít ỏi, những nhân tố này là một trong những nhân tố mang lại sự ổn định của rừng

Trong nghiên cứu về thiên địch đối với sâu hại, thường chỉ tập trung vào một loại thiên địch mà không xem xét đến hệ sinh thái tổng thể, dẫn đến việc đánh giá hiệu ứng tổng hợp bị hạn chế Các chế phẩm trừ sâu sinh học thường chỉ được đánh giá về khả năng tác động trong thời gian ngắn, trong khi hiệu ứng lâu dài và các loài sâu không chủ yếu cũng như các nhân tố sinh vật khác thường bị bỏ qua Mặc dù thuốc hóa học là biện pháp hiệu quả, việc sử dụng cần phải hợp lý và đánh giá không chỉ dựa trên hiệu quả ngắn hạn đối với sâu hại chính, mà còn cần nghiên cứu tác động lâu dài và những ảnh hưởng tiềm ẩn từ các nhân tố sinh vật và phi sinh vật khác.

5) Hoàn thiện hơn quy trình SPMF Năm 2010 Cục Lâm nghiệp Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng với tổ chức hợp tác quốc tế Nhật bản (JICA) đã xuất bản một số văn bản pháp quy về quản lý rừng là những mặt có lợi cho việc mở rộng toàn diện công tác bảo vệ sức khoẻ rừng

Ngày đăng: 21/06/2021, 06:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Phạm Ngọc Anh. (1967), Côn trùng lâm nghiệp, Trường Đại học lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng lâm nghiệp
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Năm: 1967
4. Đặng Vũ Cẩn. (1973), Sâu hại rừng và cách phòng trừ, Nhà xuất bản Nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: âu hại rừng và cách phòng trừ
Tác giả: Đặng Vũ Cẩn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông thôn
Năm: 1973
5. Đào Xuân Huy(2005), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của sâu bệnh hại lá cây Lát Mexicô giai đoạn vườn ươm tại vườn ươm trường Đại học Lâm Nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của sâu bệnh hại lá cây Lát Mexicô giai đoạn vườn ươm tại vườn ươm trường Đại học Lâm Nghiệp
Tác giả: Đào Xuân Huy
Năm: 2005
6. Đỗ Thị Lâm (1996), Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học , sinh thái học của Sâu đục lá thông, tại khu vực núi Luốt Xuân Mai - Hà Tây, Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ khoa học lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học , sinh thái học của Sâu đục lá thông
Tác giả: Đỗ Thị Lâm
Năm: 1996
7. Trần Công Loanh (1982), Côn trùng lâm nghiệp, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng lâm nghiệp
Tác giả: Trần Công Loanh
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1982
8. Trần Công Loanh , Nguyễn Thế Nhã (1997), Côn trùng rừng, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng rừng
Tác giả: Trần Công Loanh , Nguyễn Thế Nhã
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1997
9. Trân Văn Mão (1994), Sớm áp dụng phòng trừ tổng hợp IPM trong phòng trừ sâu bệnh hại rừng, Tạp chí Lâm nghiệp, 6/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sớm áp dụng phòng trừ tổng hợp IPM trong phòng trừ sâu bệnh hại rừng
Tác giả: Trân Văn Mão
Năm: 1994
10. Trần Văn Mão (1995) Quản lý sâu bệnh hại tổng hợp IPM và khả năng áp dụng ở nước ta, Tạp chí Lâm nghiệp, 8/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý sâu bệnh hại tổng hợp IPM và khả năng áp dụng ở nước ta
11. Trần Văn Mão (1998). Bệnh cây rừng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cây rừng
Tác giả: Trần Văn Mão
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
12. Trần Văn Mão, Nguyễn Thế Nhã (2005), Sâu bệnh hại cây cảnh, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu bệnh hại cây cảnh
Tác giả: Trần Văn Mão, Nguyễn Thế Nhã
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
13. Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão (2005), Bảo vệ thực vật, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ thực vật
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
14. Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão (2001), Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp, Nhà xuất bản nông nghiệp ,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: iều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2001
15. Phạm Bình Quyền và Lê Đình Thái (1972), Sinh thái học côn trùng (Dịch từ nguyên bản tiếng Nga), Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học côn trùng
Tác giả: Phạm Bình Quyền và Lê Đình Thái
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1972
16. Phạm Bình Quyền(1993), Đời sống côn trùng, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật, công ty sách và thiết bị trường học thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống côn trùng
Tác giả: Phạm Bình Quyền
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật
Năm: 1993
19. Nguyễn Hải Tuất (1982), Thống kê toán học trong lâm nghiệp, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê toán học trong lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hải Tuất
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1982
20. Đào Xuân Trường, Báo cáo kết quả dự án Điều tra, đánh giá sâu bệnh hại rừng trồng toàn quốc. Đề ra giải pháp phòng trừ sâu bệnh hại rừng trồng. Cục Kiểm lâm 2000 - 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả dự án Điều tra, đánh giá sâu bệnh hại rừng trồng toàn quốc. Đề ra giải pháp phòng trừ sâu bệnh hại rừng trồng
22. Apnondi K.V. ( 1950), Xác định các loài côn trùng hại gỗ và cây bụi thuộc các dải rừng phòng hộ, Nhà xuất bản viện khoa học Liên Xô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định các loài côn trùng hại gỗ và cây bụi thuộc các dải rừng phòng hộ
Nhà XB: Nhà xuất bản viện khoa học Liên Xô
23. Bey- Bienko G. A.( 1965), Phân loại côn trùng bộ cánh cứng phần Liên Xô thuộc Châu Âu, Nhà xuất bản khoa học Matscơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại côn trùng bộ cánh cứng phần Liên Xô thuộc Châu Âu
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học Matscơva
24. I linski A. I.(1962), Phân loại các loài sâu hại rừng, Nhà xuất bản sách báo tài liệu nông nghiệp Matscơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại các loài sâu hại rừng
Tác giả: I linski A. I
Nhà XB: Nhà xuất bản sách báo tài liệu nông nghiệp Matscơva
Năm: 1962
25. N.N.Pagi (1965), Côn trùng rừng, Nhà xuất bản công nghiêp rừng Matscơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng rừng
Tác giả: N.N.Pagi
Nhà XB: Nhà xuất bản công nghiêp rừng Matscơva
Năm: 1965

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w