1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè đường hoa, huyện hải hà, tỉnh quảng ninh năm 2005 2006

94 630 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè Đường Hoa, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh năm 2005-2006
Tác giả Lê Trường Yến
Người hướng dẫn Gs.Ts. Nguyễn Viết Tùng
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Bảo vệ thực vật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè đường hoa, huyện hải hà, tỉnh quảng ninh năm 2005 2006

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I

-

lê trường yến

Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè Đường Hoa, huyện Hải Hà,

tỉnh Quảng Ninh năm 2005-2006

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật Mã số: 60.62.10

Người hướng dẫn khoa học: Gs.tS Nguyễn viết tùng

Hà Nội - 2006

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Lê Trường Yến

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này tác giả bày tỏ lòng biết ơn tới:

- GS.TS Nguyễn Viết Tùng là người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo trong suốt quá trình làm đề tài

- Khoa sau đại học trường Đại học nông nghiệp I

- Tất cả các giáo viên bộ môn côn trùng, ban chủ nhiệm khoa Nông Học trường Đại học Nông Nghiệp I Hà Nội đã góp ý để việc làm đề tài thuận lợi

- Các nhà khoa học Viện chè Phú Hộ – Phú Thọ đã giúp đỡ tôi về chuyên môn trong quá trình làm đề tài

- Ban giám đốc công ty chè Đường Hoa - Hải Hà - Quảng Ninh đã giúp

đỡ tôi trong quá trình thực tập

- Tất cả các bạn bè và gia đình đã động viên giúp đỡ

Một lần nữa tôi bày tỏ lòng biết ơn tới mọi sự giúp đỡ đó

Xin chân thành cảm ơn !

Tác giả luận văn

Lê Trường Yến

Trang 4

Mục lục

2.5 Những nghiên cứu về thiên địch và xu hướng quản lý tổng hợp sâu

3 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 30

4.1 Thành phần sâu hại chè ở vùng Đường Hoa, Quảng Ninh năm

Trang 5

4.1.2 Mức độ phổ biến của các loài sâu hại chè ở vùng Đường Hoa, Hải

4.2 Tìm hiểu qui luật diễn biến số lượng của các loài sâu hại chè phổ

4.3 Một số thí nghiệm phòng trừ bằng thuốc hoá học 78

4.4 Đề xuất biện pháp phòng trừ rầy xanh, nhện đỏ, bọ trĩ hại chè vùng

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 6

Bảng 4.7 Diễn biến mật độ của bọ trĩ hại chè qua các tháng ở Đường Hoa 65Bảng 4.8 Mật độ của bọ trĩ trên một số giống chè ở Đường Hoa 68Bảng 4.9 ảnh hưởng của cây che bóng đến mật độ bọ trĩ 70Bảng 4.10 ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến mật độ bọ trĩ trên nương

Trang 7

Danh mục các hình

Hình 1 Diễn biến số lượng của rầy xanh ở Đường Hoa 7/2005 - 6/2006 55 Hình 2 Mật độ rầy xanh trên các giống chè ở Đường Hoa 59 Hình 3 Mật độ rầy xanh ở nơi có cây che bóng và không cây che bóng 61 Hình 4 Diễn biến số lượng của bọ trĩ ở Đường Hoa 7/2005 - 6/2006 66 Hình 5 Mật độ bọ trĩ trên các giống chè ở Đường Hoa 69 Hình 6 Bọ trĩ ở điều kiện có và không có cây che bóng 70 Hình 7 Diễn biến số lượng của nhện đỏ ở Đường Hoa 7/2005 - 6/2006 74 Hình 8 Mật độ nhện đỏ trên các giống chè ở Đường Hoa 76 Hình 9 Mật độ nhện đỏ ở nơi có cây che bóng và không cây che bóng 77

Trang 8

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Cây chè ở nước ta có ý nghĩa quan trọng trong đời sống đồng bào các dân tộc ở vùng trung du và miền núi, góp phần tích cực trong việc xoá đói, giảm nghèo, phủ xanh đồi núi bảo vệ môi trường sinh thái Sản phẩm chè đảm bảo nhu cầu trong nước và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị

Sản lượng và giá trị cây chè nước ta không ngừng tăng lên Năm 2005, cả nước sản xuất trên 133.000 tấn, xuất khẩu đạt 96,93 triệu USD Tiêu dùng trong nước trên 30.000 tấn, trị giá trên 650 tỷ đồng Đến hết năm 2005, diện tích chè

có trên 34 tỉnh, thành đạt 125.000 ha Mục tiêu năm 2006 là phải sản xuất 140.000 tấn chè khô, xuất khẩu 100.000 tấn với kim ngạch 110 triệu USD, tiêu dùng trong nước 40.000 tấn, khoảng 900 tỷ đồng [7], [9], [40], [41]

Cùng với sự tăng trưởng đó, với chủ trương phát triển kinh tế toàn diện, thực hiện Nghị quyết 09/NQ - CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về chuyển dịch kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, UBND tỉnh Quảng Ninh đã phê duyệt quy hoạch phát triển chè giai đoạn 2002 - 2010: về diện tích, đạt

1500 ha, hiện nay là 728 ha; về năng suất, đạt 8 – 10 tấn/ha, hiện nay là 6 tấn/ha; tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho các gia đình nông thôn, miền núi Trong đó tập trung phát triển ở vùng Hải Hà và Đầm Hà, nơi có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển cây chè [14] Công ty chè Đường Hoa

là đơn vị sản xuất chè theo quy mô công nghiệp với diện tích chè cho thu hoạch 350 ha chiếm phân nửa diện tích chè trên toàn vùng Điều kiện về địa hình, khí hậu, đất đai ở Đường Hoa tương đối đại diện cho vùng chè ven biển này Tại đây, chè được trồng trên những sườn dốc thoải, những quả đồi bát úp

có độ cao từ 40 – 60 m so với mực nước biển Khí hậu nhiệt đới, có mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, ban ngày có gió Nam từ biển thổi vào, ban đêm gió từ

Trang 9

dãy núi Quảng Nam Châu thổi ngược ra biển (đêm lạnh), yếu tố này làm cho biên độ nhiệt độ ngày đêm cao từ 10 - 120C Do gần biển nên chịu ảnh hưởng của gió bão, kết hợp với mưa lớn, lượng mưa trung bình hàng năm 2750 mm

và tập trung vào mùa hè, số ngày mưa trong năm trung bình là 163 ngày Nhiệt độ trung bình năm là 22,50C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 - 8, thấp nhất vào tháng 12 - 1 Đất đai là loại đất Feralit vàng đỏ và vàng xám, có độ sâu từ 0,6 - 0,8 m Tại đây trồng chủ yếu là giống chè Trung Du, những năm gần đây chỉ trồng thêm các giống chè LDP1, LDP2 và một số giống chè nhập nội [14]

Do đặc điểm tự nhiên như vậy mà tình hình sâu bệnh hại chè trong vùng diễn biến phức tạp, gây nhiều tổn thất cho người sản xuất chè Do vậy, phải hiểu rõ tình hình phát sinh của sâu nhện trên chè Việc nghiên cứu thành phần

và diễn biến thành phần cho chúng ta thấy được những loài chủ yếu để có biện pháp phòng trừ đúng đối tượng Nghiên cứu qui luật phát sinh, phát triển và các yếu tố liên quan trong vùng giúp chúng ta xác định được thời gian, biện

pháp phòng trừ thích hợp Từ đó chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè Đường Hoa, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh năm 2005 -

2006 ” nhằm đề xuất biện pháp phòng trừ sâu hại chè, nâng cao hiệu quả sản

xuất cho người làm chè ở Quảng Ninh

Là một vùng trồng chè mới ở ven biển tỉnh Quảng Ninh, còn rất thiếu thông tin về tình hình sâu bệnh hại chè Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thường tham khảo, đối chiếu với tình hình sâu hại của vùng chè truyền thống là Phú Hộ, Phú Thọ nhằm làm rõ những nét đặc thù về sâu bệnh hại chè của vùng chè ven biển này

Trang 10

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

1.2.1.Mục đích

Trên cơ sở nắm được thành phần, mức độ phổ biến của từng loài sâu hại chè, qui luật diễn biến số lượng của một số loài sâu hại chính, mối quan hệ giữa cây chè, sâu hại và một số yếu tố sinh thái, góp phần xây dựng biện pháp phòng trừ thích hợp, có hiệu quả cho sản xuất chè ở vùng Quảng Ninh, an toàn cho người tiêu dùng và môi trường

Trang 11

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Những nghiên cứu về thành phần sâu hại chè

Các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu và công bố nhiều kết quả

về thành phần sâu hại chè ở các vùng sinh thái khác nhau Tại các vùng chè ở châu Phi, Rattan (1992) [36] cho biết đã phát hiện trên 200 loài côn trùng và nhện hại trên chè, trong số đó chỉ có một số ít loài quan trọng Các loài phổ

biến có bọ xít muỗi (Helopeltis schoutedeni Rent và H orophila Ghesq.), bọ trĩ (Thrips spp.), rệp muội (Aphidae), một số loài sâu cánh vảy và nhện hại

ở khu vực châu á, Muraleedharan công bố có trên 300 loài động vật hại cây chè bao gồm côn trùng, nhện và tuyến trùng Các loài quan trọng nhất thuộc các bộ: Acarina, isoptera, Hemiptera, thysanoptera, Lepidoptera,

Coleoptera và ngành tuyến trùng (Nematoda, 1992) [28] Các tác giả

Srivastava và Butani (1987) [38] cho biết, đã xác định trên 200 loài sâu hại chè ở ấn Độ, các loài quan trọng thuộc các nhóm hại rễ, nhóm sâu chích hút

và nhóm sâu ăn lá

Tác giả (Eden,1958) [21] cho biết, các loài sâu hại chè quan trọng ở

các vùng nh− sau: ở Sri Lanka hại nặng là sâu cuốn búp (Homona coffearia);

bọ xít muỗi (Helopeltis sp.), hại nặng ở ấn Độ, Sri Lanka; nhện đỏ (Oligonychus coffeae) phổ biến ở hầu hết các nơi trồng chè trên thế giới, đặc

biệt rất nghiêm trọng ở vùng Đông Bắc ấn Độ

ở vùng Assam rầy xanh (Empoasca flavescens) gây nhiều thiệt hại nh−ng không phải là sâu quan trọng ở những nơi khác

ở Sri Lanka, mọt đục cành chè (Xyleborus fornicatus) gây nhiều thiệt hại cho các đồn điền chè

Trang 12

ở vùng chè Darjeeling có phổ biến các loài bọ trĩ (Dendothrips

bispinosus Bagn và Physothrips setiventris Bagn) Trong chiến lược phòng

trừ sâu hại chè, Eden cũng chỉ ra rằng cần kết hợp các hướng như sau: sử dụng các giống chống chịu; tránh giai đoạn mẫn cảm của cây chè trùng với thời kỳ sâu hại phát sinh mạnh bằng cách tác động biện pháp trồng trọt, biện pháp hoá học

Quan điểm của Muraleedharan [27] là sâu hại tồn tại và phát triển trong trạng thái động vì vậy khi phòng trừ phải áp dụng các biện pháp đúng lúc thì mới cho kết quả cao

ở nước ta, nghiên cứu về sâu hại chè đã tiến hành từ thời Pháp thuộc, theo Đỗ Ngọc Quỹ [6] thì Du Pasquier (1931 - 1932) đã xác định 25 loài sâu

hại chè Có các loài quan trọng như: sâu Chùm (Andraca bipunctata Walk.);

bọ xít hoa (Poecilocoris latus); rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr); nhện

đỏ (Paratetranychus bioculatus Wood); sâu đục thân mình đỏ (Zeuzera coffeae Niet.) Và Du pasquier đã phân loại sâu bệnh hại chè theo tầm quan

trọng, tần số xuất hiện gây hại như sau:

- Có hại và thường xuyên: gồm các loại rầy xanh, nhện đỏ, nhện đỏ tím

và trắng, bọ xít hoa hại quả chè, sâu chùm và dế mèn

- Có hại nhưng không thường xuyên: bệnh phồng lá, sâu cuốn lá, bọ trĩ, rệp trắng, rệp đen, sâu bọ nẹt

- Có hại nhưng hiếm thấy: sâu bọ nẹt, bệnh sợi nấm, bệnh thối rễ đỏ

- ít hại nhưng thường xuyên: sâu kèn, sâu vỏ, ốc sên, bọ ngứa

- ít hại, ít thấy: bọ xít muỗi, bệnh chấm nâu, rệp xanh, ruồi

Sau cuộc tổng điều tra côn trùng ở các tỉnh phiá Bắc năm 1967 - 1968, Viện Bảo vệ thực vật đã xác định 34 loài sâu hại chè Các loài sâu này thuộc 6

bộ khác nhau:

Trang 13

Các loài thường xuất hiện nhiều như: sâu chùm (Andraca bipunctata

Walk.); sâu cuốn lá (Cacoecia micaceana Walk.); rệp sáp xanh (Coccus

viridis Green); rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr); bọ xít muỗi (Helopeltis

sp.); bọ xít hoa (Poecilocoris latus); mối (Termes sp.) [3]

Nguyễn Văn Hùng (1998) [2] cho biết, có 46 loài sâu hại chè ở Việt

Nam Dựa vào cách gây hại, tác giả chia thành các nhóm:

- Nhóm hại búp: các loài quan trọng như rầy xanh, bọ xít muỗi, bọ trĩ,

sâu cuốn lá non

- Nhóm ăn lá: quan trọng là các loài nhện hại

- Nhóm hại hoa, quả

- Nhóm hại thân rễ: quan trọng nhất là mối hại chè con

Trần Đặng Việt (2004) [15] cho biết cư trú và gây hại trên các giống

chè nhập nội ở Phú Hộ, Phú Thọ vụ xuân năm 2004 có 30 loài sâu và nhện

Các loài phổ biến có rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr), nhện đỏ

(Oligonychus coffeae Niet.), rệp sáp (Unaspic citri)

Sau khi đi sâu tìm hiểu tình hình phân bố, đối chiếu, so sánh các loại

sâu hại chè chủ yếu ở các vùng chè, chúng tôi có những nhận xét tổng quát:

- Có loài sâu hại quan trọng và phân bố rộng rãi như nhóm sâu cuốn lá

( Tortricidae), nhóm sâu róm (Lymantriidae), nhóm bọ nẹt ( Limacodiidae)

- Có loài phân bố rộng nhưng mức độ gây hại ở các vùng rất khác nhau

Trang 14

như nhện đỏ gây hại nặng ở các nước nhiệt đới hơn các nước cận nhiệt đới

- Có loài phát sinh có tính chất cục bộ địa phương như mọt đục cành

chè (Xyleborus fornicatus Eich.) phát sinh nhiều ở Srilanka và ấn Độ

- Nhóm sâu chích hút có rệp sáp (Coccidae) phát sinh nhiều ở các nước

cận nhiệt đới và nhiệt đới, trên vùng chè có độ cao 1200 – 2000m so với mực nước biển (Srilanka)

Rầy xanh (Chlorita flavescens Fabr) gây hại nặng ở Trung Quốc, Nhật

Bản, ấn Độ, Việt Nam

Bọ xít muỗi (Holopeltis sp.) gây hại trên các vùng chè Java, Indonesia,

Srilanka, ấn Độ, Việt Nam, Đài Loan, Malawi

Qua những tài liệu về sâu hại chè, chúng tôi thấy rằng các loài đó phát sinh nhiều ở các vùng đã trồng chè lâu đời, ở các vùng mới, chúng phát sinh ít hơn và tác hại cũng ít nghiêm trọng

Nước ta là một nước nhiệt đới nên cũng có cùng những loại sâu hại chè chủ yếu như các nước trồng chè trong vùng Nên một số loài chủ yếu đã được một số tác giả đề cập tới

2.2 Những nghiên cứu về rầy xanh hại chè

2.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Rầy xanh hại làm cho những phần non bị tổn thương, gặp điều kiện khô nóng sẽ bị khô đầu lá và mép lá Tác hại của chúng không những đã làm giảm năng suất mà còn ảnh hưởng đến phẩm chất búp chè Theo Eden (1958) [21],

ở vùng asssam, ấn Độ rầy xanh gây thiệt hại nhiều đến sản lượng và làm cho búp chè cằn lại, không phát triển được Một số người cho rằng, rầy xanh hại

đã làm cho chất lượng búp chè tốt hơn Theo tác giả, nguyên nhân là do thời gian rầy xanh gây hại trùng với thời kỳ thời tiết thuận lợi đã làm tăng chất lượng chè Muraleedharan (1992) [28] trong công trình nghiên cứu của mình

Trang 15

đã cho biết rầy xanh phân bố rất rộng, có ở Bangladesh, Trung Quốc, Nhật

Bản, ấn Độ, Việt Nam Có hai loài rầy xanh Empoasca onukii và Empoasca formosana được coi là phổ biến ở Nhật Bản và Đài Loan, trong đó loài E onukii chủ yếu ở Nhật Bản và loài E formosana chủ yếu ở Đài Loan ở ấn

Độ, phổ biến là loài Empoasca flavescens Cũng Muraleedharan (1991) [27]

đã mô tả rầy xanh trưởng thành loài Empoasca flavescens Fabr có màu xanh

hơi vàng, cơ thể dài 2,5 - 2,75 mm Đẻ trứng rải rác từng quả trong lá Giai

đoạn trứng từ 6 - 13 ngày Rầy non có 5 tuổi ở nhiệt độ cao, rầy non phát dục

8 - 10 ngày, ở nhiệt độ mùa đông, giai đoạn rầy non có thể tới 15 ngày Ông cũng cho biết ở vùng vùng Đông - Bắc ấn Độ, rầy gây hại quanh năm còn ở Darjeeling thời gian tháng 6 - 7 được xem như là mùa của rầy xanh, mà thời

kỳ này trùng với thời kỳ chè có chất lượng tốt Dự báo sự phát sinh của rầy xanh làm cơ sở cho phòng trừ, năm 1991 [23], Lu - WenMing và các cộng tác viên, bằng phương pháp thống kê đã dự báo ngày xuất hiện cao điểm đầu tiên

của rầy xanh Empoasca pirisuga Các tác giả cho biết ở Trung quốc, rầy xanh

thường có 2 cao điểm về số lượng trong năm Trong một hệ thống điều tra thực hiện từ năm 1982 - 1988, thời gian cao điểm đầu tiên đã được xác định là tương quan với nhiệt độ trung bình (r = 0,7793) và nhiệt độ tối thiểu (r = 0,8189) trong tháng 4 Phương pháp này dự báo chính xác được 85,7%

Về phòng trừ rầy xanh, các tác giả đã đề cập một số biện pháp đã được

áp dụng gồm cả biện pháp hoá học và kỹ thuật canh tác ở Đài Loan, Chen và Tseng (1998) [17], qua các thí nghiệm, đã chỉ ra rằng các loại thuốc như Applaud, Lavin và Lannate có hiệu lực thấp, nhưng Karate lại rất có hiệu quả

đối với rầy xanh Empoasca formosana Muraleedharan N (1991) [27] đã kết

hợp biện pháp hái và phun các loại thuốc như Endosulfan và Phosalone trừ loài sâu này rất có hiệu quả

Trang 16

2.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

ở Việt Nam, Du Pasquier (1932) [44] cho biết rầy xanh Empoasca

flavescens có màu xanh lá mạ, trưởng thành dài 2 - 2,5 mm Trứng có hình

cong, dài 0,5 mm Vòng đời của rầy xanh từ 9 - 18 ngày ở Bắc Kỳ, rầy xanh phát sinh quanh năm nhưng hại nặng nhất vào thời kỳ từ giữa tháng 4 đến tháng 6

Theo Nguyễn Khắc Tiến (1969) [12], rầy xanh đang có xu hướng tăng dần như là loài sâu hại búp chè chủ yếu ở nước ta Cũng Nguyễn Khắc Tiến (1986) [13] và Nguyễn Văn Thiệp (2000) [8] cho rằng rầy xanh làm giảm 15 - 20% sản lượng chè cả năm, có khi làm mất tới 70% sản lượng vụ chè xuân và gây ảnh hưởng xấu đến các đợt sinh trưởng búp trong năm Hiện nay rầy xanh gây nhiều thiệt hại ở hầu hết các vùng chè miền Bắc và miền Trung Việt Nam

Các tác giả còn cho biết loài rầy xanh Empoasca flavescens Fabr phát

sinh thích hợp trong điều kiện nhiệt độ từ 18 - 25oC, có ít mưa và mưa nhỏ, độ

ẩm tương đối không khí 80% và ưa ánh sáng yếu Trong năm, rầy xanh có 2 cao điểm về số lượng, cao điểm đầu tiên vào vụ xuân hè từ tháng 3 đến tháng

5, mật độ rầy cao nhất vào tháng 5, giai đoạn này gây hại rất nặng Cao điểm thứ hai từ tháng 9 đến tháng 11, mật độ cao nhất vào tháng 10 Thiệt hại ít hơn cao điểm đầu Đồng thời, kỹ thuật canh tác và giống chè đối với rầy cũng đã

được đề cập trong quá trình nghiên cứu Theo các tác giả, rầy xanh hại nặng trên chè đốn đau, chè con kém chăm sóc Rầy phát dục chậm qua mùa đông dưới dạng trưởng thành Nhóm giống chè Shan, assam, Trung Du thường bị rầy xanh hại nặng hơn nhóm giống Manipua và Trung Quốc lá nhỏ

Đỗ Văn Ngọc (1991) [4] trong thí nghiệm đốn cũng chỉ ra rằng đốn chè

có ảnh hưởng đến số lượng rầy xanh Đốn phớt xanh nhiều rầy hơn đốn phớt

và đốn thấp 45 cm

Trang 17

Lê Thị Nhung (1996) [5], trên cơ sở của mật độ rầy, tỷ lệ búp chè bị hại

và biểu hiện triệu chứng tác hại đã đưa ra ngưỡng kinh tế đối với rầy xanh là ở

mật độ rầy vượt quá 5 con/khay

Về phòng trừ rầy xanh ở Việt Nam, Du Pasquier (1932) [44] đã giới thiệu một số biện pháp phòng trừ rầy xanh như hái chạy; hái triệt để, phương pháp này có thể làm giảm bớt trứng rầy và rầy có ở búp chè; đốn chè làm giảm nguồn thức ăn của sâu và điều chỉnh thời vụ đốn để tránh thời kỳ sâu rộ; chăm sóc cho cây chè khoẻ mạnh

Nguyễn Khắc Tiến (1986) [13] đề nghị khi phòng trừ rầy xanh, có thể phối hợp biện pháp để lưu xen kẽ với đốn phớt đại trà để thu hút rầy xanh, từ

đó tập trung phun thuốc phòng trừ rầy sớm ở nơi để lưu, sau đó cắt nhẹ lại có thể trừ rầy muộn trong vụ hè Các loại thuốc như Bassa, Mipcin và Bi58 có hiệu lực trừ rầy xanh tốt Phối hợp thuốc trừ sâu với ure 2% và axit boric 0,05% có tác dụng nâng cao hiệu quả của phun thuốc (vừa trừ sâu, vừa tăng năng suất chè)

2.3 Những nghiên cứu về bọ trĩ hại chè

2.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Bọ trĩ còn gọi là bọ cánh tơ, bọ trĩ hại làm cho búp chè chùn lại, thô cứng, lá non bị biến dạng, búp có những vết sẹo sần sùi và không phát triển

được Rất dễ nhận thấy thiệt hại của bọ trĩ trên nương chè đang hồi phục sau

đốn, chúng làm chậm lại giai đoạn bấm búp tạo hình và hậu quả là thiệt hại

đến sản lượng chè Bọ trĩ được xem là loài sâu hại chủ yếu ở hầu khắp các vùng chè trên thế giới, có nhiều loài bọ trĩ sống ở hoa, lá, búp chè Bọ trĩ hại chè có kích thước nhỏ nhưng tác hại lớn bởi số lượng rất nhiều của chúng Rao, G.N (1974) [33] khi thảo luận về tình trạng sâu hại chè ở Nam ấn Độ đã nhấn mạnh bọ trĩ là một trong số các loài sâu gây thiệt hại cho chè khá nghiêm trọng Ellis, R.T và Rattan, P.S (1977) [22] đã điều tra trên 12990 ha

Trang 18

chè ở Malawi trong năm 1976, thấy 6785 ha bị bọ trĩ hại, chiếm 52% Đây là nguyên nhân thất thu một số lượng lớn sản lượng chè, đồng thời cũng gây ra tình trạng chè con bị chết ở nơi đó Muraleedharan và Kandaswamy (1980) [30], cho biết phổ ký chủ của một số loài bọ trĩ như sau:

- Scirtothrips dorsalis Hood: hại trên một số cây có tầm quan trọng kinh tế bao gồm cả cây chè và được gọi tên phổ biến là Chillies thrips, hoặc

bọ trĩ Assam, nó gây nhiều thiệt hại cho chè ở Đông Bắc ấn Độ

- Scirtothrips bispinosus Bagn: phân bố rộng, với số lượng lớn, có ở hầu

hết các vùng chè Nam ấn Độ Chúng thường được gọi là bọ trĩ cà phê

- Heliothrips haemorrhoidalis Bouche: có tính ăn tạp cao và phân bố tự

do, hại nhiều loại cây trồng nông nghiệp Nó được ghi nhận như một loài sâu hại cà phê, loài này thấy có ít trên chè

- Physothrips setiventris Bagn: có nhiều ở assam và Darjeeling gây

nhiều thiệt hại cho lá non

- Hai loài khác là Mycetothrips Anan và Dorcadothrips nilgiriensis

Rank & Mark được ghi nhận nguồn gốc từ Nilgiris, hiện nay có trên chè ở vùng Anamallais

Mound L.A và Palmer J.M (1981) [26] đã nghiên cứu về các loài bọ trĩ

thuộc giống Scirtothrips Các tác giả cho rằng giống này gồm khoảng 40 loài

phân bố ở khắp các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Có 10 loài trong số đó là những loài sâu hại, cây ký chủ gồm chè, cà phê, cam, chanh, điều, cây castor,

ớt, chuối, xoài, nho và dâu tây Các tác giả cũng đã chỉ rõ những loài cụ thể cùng với cây ký chủ và phạm vi phân bố của chúng

Ngoài ra, Muraleedharan (1992) [28] còn cho biết ở các vùng chè châu

á thì họ Thripidae có 9 loài phân bố ở ấn Độ, Sri Lanka, Indonesia, Bangladesh và Nhật Bản ở Châu Phi, Rattan (1992) [36] cho biết về sự phân

Trang 19

bố của một số loài bọ trĩ hại chè, thời gian phát sinh của chúng như sau: loài Scirtothrips aurantii hại chè ít ở Nam phi, nhưng chúng lại là sâu hại chủ yếu

ở Malawi và Zimbabwe Loài Scirtothrips kenyensis Mound hại nhiều ở Đông Phi Loài Scirtothrips sp cũng có mặt ở Burundi, Cameroon và Madagascar Loài bọ trĩ đen H haemorrhoidalis gây hại nghiêm trọng ở vài nơi của Kenya,

Tanzania và Uganda

Khi nghiên cứu về sinh học bọ trĩ hại chè, Muraleedharan và Kandaswamy (1980) [30] cho biết: vòng đời của bọ trĩ hại chè gồm các pha: trứng - sâu non tuổi 1 - sâu non tuổi 2 - tiền nhộng (prepupa) - nhộng (pupa) - trưởng thành Con cái trưởng thành đẻ trứng vào phần mềm của lá, búp chè Trung bình một con cái đẻ từ 25 - 50 trứng, nếu nhiệt độ môi trường thuận lợi,

có thể đẻ tới 200 trứng Giai đoạn tuổi 1 và tuổi 2 từ 7 - 10 ngày Giai đoạn nhộng khoảng 1 tuần Nhộng nằm ở bề mặt lá hoặc mặt đất Vòng đời của các loài phụ thuộc nhiều yếu tố như thức ăn, nhiệt độ, mưa, thời gian chiếu sáng Tác giả cho biết, tác hại của bọ trĩ ngoài vết ăn còn do ống đẻ trứng của con cái gây ra Ông cũng cho biết tập tính và vòng đời của một số loài bọ trĩ như sau: (1) Scirtothirips dorsalis Hood: vòng đời hoàn thành trong 13 - 17 ngày

tuỳ theo mùa Chúng làm nhộng trong địa y trên thân cây chè Loài này có cả

hai hình thức sinh sản đơn tính (parthenogenesis) và hữu tính (sexual reproduction)

(2) Scrtothrips bispinosus Bagn: vòng đời hoàn thành trong 19 ngày và có trên 12 lứa mỗi năm Chúng sinh sản theo cả hai hình thức đơn tính và hữu tính (3) Heliothrips haemorrhoidalis Bouche: chỉ có hình thức sinh sản đơn

tính Vòng đời từ 20 - 40 ngày tuỳ điều kiện thời tiết

(4) Physothrips setiventris Bagn: vòng đời hoàn thành trong 3 tuần

Loài này chưa được nghiên cứu chi tiết

Trang 20

Nghiên cứu ở Malawi, Mkwaila (1981) [24] cho biết Bọ trĩ sinh sản, ăn

và sống trong và xung quanh búp chè, đặc biệt có nhiều ở những búp nhô lên

trên mặt tán Tác giả cho biết vòng đời của bọ trĩ Scirtothrips aurantii trong

thời kỳ tháng 10 đến tháng 12 như sau: thời kỳ trứng 6 ngày; tuổi 1 là 2 ngày; tuổi 2 là 2,5 ngày; tiền nhộng là 1 ngày; nhộng là 2 ngày Trưởng thành, con cái sau vũ hoá 24 giờ bắt đầu đẻ trứng và đẻ trong vòng 3 ngày Con trưởng thành có thể sống trong 6 tuần và có thể đẻ tới 50 trứng

Về sự phát sinh của bọ trĩ, các tác giả đều kết luận bọ trĩ diễn biến trên

đồng ruộng có tính qui luật và chịu sự tác động của các yếu tố môi trường Mkwaila (1981) [24] cho biết yếu tố nhiệt độ môi trường ảnh hưởng trực tiếp

đến sự phát sinh phát triển của bọ trĩ Các thế hệ bọ trĩ gối tiếp nhau nên trong một búp có các pha khác nhau cùng cư trú và gây hại

Nghiên cứu sự ảnh hưởng của lượng mưa và cây che bóng đối với bọ trĩ

ở Kenya, V Sudoi (1985) [39] đã chỉ ra rằng bọ trĩ xuất hiện quanh năm, nhưng vào những thời kỳ mùa khô, bọ trĩ nhiều hơn Số lượng bọ trĩ có tương quan tỷ lệ nghịch với lượng mưa của 2 tháng trước đó Mưa to đã rửa trôi bọ trĩ, làm giảm mật độ của chúng ở nương chè không có cây che bóng, bọ trĩ

hại nhiều hơn ở nương chè có che bóng bằng cây Grevillea Mkwaila B

(1982) [25], trong công trình nghiên cứu của mình đã kết luận sự sự phá bỏ cây che bóng trong nương chè ở Nam Phi là nguyên nhân gây ra sự phổ biến

và gây hại nghiêm trọng của loài bọ trĩ Scirtothrips aurantii

Muraleedharan (1992) [29] còn cho biết cường độ che bóng đóng vai trò quyết định mật độ quần thể của bọ trĩ, rệp muội, bọ xít muỗi và nhện Nương chè không che bóng luôn luôn bị nhiều thiệt hại do bọ trĩ và nhện, còn ở những nơi có cây che bóng dầy và ẩm thì sẽ bị thiệt hại nhiều do bọ xít muỗi

Về phòng trừ bọ trĩ hại chè, Rao và Padmanaban (1975) [34] cho rằng thuốc trừ sâu Malathion và Ethion trừ bọ trĩ không có hiệu quả còn các loại

Trang 21

thuốc nội hấp như azodrin, Nuvacron, Bidrin, Tamaron và Anthio có hiệu quả tốt Dùng thuốc nội hấp thì thời gian giữa các lần phun có thể dài hơn Đối với nhóm thuốc Pyrethroid, Muraleedharan và Varadharan (1986) [31] cho biết các loại thuốc thương mại có sẵn như Permethrin, Cypermethrin, Fenvalerate, Deltamethrin, Fenpirithrin, Fenpropathrin và Fluvalinate rất có hiệu quả trong

phòng trừ bọ trĩ Scirtothrips bispinosus hại chè Liều lượng sử dụng của các

loại thuốc từ 100 - 300 ml/ha

Theo Muraleedharan và Kandaswamy (1980) [30], phòng trừ bọ trĩ nên kết hợp biện pháp sinh học và hoá học và cho rằng trong tự nhiên, bọ trĩ bị

điều chỉnh bởi nhiều loài ký sinh và ăn thịt Tuy nhiên, để phòng trừ bọ trĩ có hiệu quả, tác giả khẳng định, phun thuốc trừ sâu là không thể tránh được ở Trung Phi Ellis, R.T và Rattan, P.S [22] đã nghiên cứu và cho biết biện pháp phòng trừ có hiệu quả bọ trĩ, bao gồm phun thuốc Actellic lặp đi lặp lại 10 -

15 ngày một lần trong một thời kỳ vài tháng, thay đổi thời gian đốn và hái ở

đỉnh cao 10 cm trên vết đốn

Thực hiện phòng trừ bằng kết hợp biện pháp canh tác và hoá học Rattan

(1988) [35] đã tiến hành thí nghiệm phòng trừ bọ trĩ Scirtothrips aurantii bằng

biện pháp đốn và phun thuốc trừ sâu Kết quả cho biết cứ 2 tuần phun thuốc một lần sẽ giảm được bọ trĩ và sản lượng chè cũng tăng Sau khi đốn tháng 7 hoặc tháng 8, sự khác nhau giữa phun thuốc và không phun thuốc giảm bớt

Đốn vào thời kỳ tháng 5 và không phun thuốc thì sản lượng chè cao nhất Tiếp tục nghiên cứu biện pháp canh tác và hoá học, Rattan (1992) [36] cho biết chè hồi phục sau đốn bị hại nặng, những năm đốn muộn có thể mất mùa tới 20%

Do vậy, phòng trừ bọ trĩ bằng cách điều chỉnh thời gian đốn và phun thuốc hoá học có kết quả cao

2.3.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

ở Việt Nam, nghiên cứu về bọ trĩ hại chè được bắt đầu tương đối sớm,

Trang 22

Du Pasquier (1932) [44] đã tìm hiểu các loài bọ trĩ hại chè, cà phê về sự phân

bố, tập tính sinh sống, triệu chứng, tác hại đã cho biết bọ trĩ Physothrips setiventris Bagn là loài sâu nhỏ, cơ thể dài 1 - 1,5 mm, qua 4 lần lột xác thành

sâu trưởng thành Bọ trĩ đẻ trứng vào mô lá non, cuộng non Khi sâu non đẫy sức, chúng xuống đất hoá nhộng Khi trưởng thành, chúng trở lại hại cây chè

Để hạn chế tác hại của bọ trĩ đối với cây chè, Du Pasquier đã đề ra một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ như sau: hái và đốt ngay những búp và lá vàng có sâu và trứng; phun thuốc Nicotin; biện pháp trồng trọt, trồng cây che phủ, cầy

đất có lợi để trừ bọ trĩ, đốn nhẹ để giảm bớt lá sẽ giảm được bọ trĩ

Nguyễn Văn Thiệp (2000) [8] cho biết pha sâu non bọ trĩ phát dục 7 - 8 ngày Bọ trĩ phát sinh mạnh nhất trong thời gian từ tháng 6 - 8 Về phòng trừ, tác giả khuyến cáo vườn chè cần phải trồng cây che bóng, kết hợp giữa hái và phun thuốc có hiệu quả tốt trong việc phong trừ bọ trĩ Cây che bóng không những ảnh hưởng có lợi cho năng suất và chất lượng chè mà nhiều trường hợp còn ảnh hưởng làm giảm sâu bệnh hại cho cây chè

2.4 Những nghiên cứu về nhện đỏ hại chè

2.4.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Nhện đỏ là loài sâu hại chè phổ biến ở hầu khắp các vùng chè trên thế giới Có một số loài nhện khác nhau hại lá bánh tẻ, lá non và búp chè Cranham J.E (1966) [20] cho biết ở Ceylon trên cây chè đều có đại diện của 4

Trang 23

(Brevipalpus californicus Banks) Họ này không nhiều và không quan trọng như họ Tetranychidae Loài nhện B Californicus có một sự phân bố địa lý rất

rộng và có tới 43 loài cây là ký chủ

(3) Họ Tarsonemidae có nhện vàng (Hemitasonenus latus Bakes) Loài

này, phạm vi kí chủ cũng rộng gồm cam chanh, cà chua, nho, Cinchona, cao

su, cây cảnh

(4) Họ Eriophyidae đại diện có nhện đỏ tía (Calacarus carinatus

Green) Họ này gồm rất nhiều loài, tuỳ theo tập quán sinh sống mà có tên gọi

là nhện bóng lá, nhện gỉ sắt, và nhện vú lá Nhện đỏ tía đã thấy có trên chè ở

ấn Độ, Ceylon, Đông Nam á và Indonesia

Khi nghiên cứu về đặc tính sinh vật học của nhện, Cranham đã có nhận xét: 4 loài trên đều có sự phân bố rộng rãi và do chè là cây độc canh, có diện tích lớn, do tiềm năng sinh sản của nhện mà khả năng phát sinh thành dịch

đều rất lớn, thậm chí cả với loài nhện đỏ có khả năng sinh sản chậm hơn Nhện đỏ thường phổ biến ở các hàng chè tán cao, nhện lan truyền do gió, các loại côn trùng, động vật hoặc dụng cụ chăm sóc của con người

2.4.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

ở Việt Nam, nhện đỏ là một trong số các loài sâu hại chè chủ yếu Nguyễn Khắc Tiến (1963) [10] đã miêu tả hình thái, tập quán sinh sống, tác hại và phòng trừ: Nhện sống thành quần thể trên cây, hút nhựa lá chè, đẻ trứng trên gân và mép lá, trứng nở ra con màu đỏ, có 6 chân, qua lột xác thành nhện

8 chân Nhện xuất hiện rải trong năm thường mạnh nhất vào tháng 4 - 5 Sau những ngày mưa to, số lượng giảm đi rõ rệt Về phòng trừ, tác giả đã đưa ra một số biện pháp sau:

- Không nên đốn sớm quá

- Phun hỗn hợp vôi + lưu huỳnh pha theo tỉ lệ 1 kg vôi sống + 2 kg lưu

Trang 24

huỳnh và 10 lít nước đun sôi trong 40 phút

- Phun Wofatox sữa 50 EC nồng độ 0,1%

- Chú ý bảo vệ các loại bọ dừa ăn nhện

2.5 Những nghiên cứu về thiên địch và xu hướng quản

lý tổng hợp sâu hại chè

2.5.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Thiên địch là một trong những yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của sâu hại, chúng có vai trò quan trọng trong việc điều hoà số lượng của các loài sâu hại ở các nước trồng chè trên thế giới, nghiên cứu và

sử dụng thiên địch trong phòng trừ sâu hại chè đã được nhiều tác giả đề cập

Cranham (1961) [19] đã nghiên cứu cân bằng tự nhiên của dịch hại và

ký sinh trên chè, đặc biệt là sâu cuốn búp Homona coffearia và ong ký sinh Macrocentrus homona Nixon ở Sri Lanka Để giải thích tính chất cân bằng tự

nhiên trong nương chè, tác giả đã nêu những vấn đề liên quan đến các yếu tố

về thức ăn, khí hậu, sự cạnh tranh, nơi ở cũng như ảnh hưởng của việc dùng thuốc hoá học gây mất cân bằng giữa sâu hại và thiên địch của chúng

Muraleedharan và Radhakrishnan (1986) [32] cho biết đã tìm thấy

nhiều loài ruồi Syrphids ăn rệp Toxoptera aurantii trong nương chè như:

- Allobaccha nubilipennis (Austen)

- Betasyrphus serarius (Wiedeman)

- Dideopsis aegrota (Fabr)

- Episyrphus balteatus (DeGeer)

- Ischiodon scutellaris (Fabr)

- Paragus tibialis (Fallen)

Chen H.T (1988) [16] cho biết, người trồng chè ở Đài Loan đã nuôi loài

nhện Ambliseius longispinosus để phòng trừ nhện hại Oligorychus coffeae và

Trang 25

Tetranychus kanzawai Đầu tiên, người ta gieo đậu Hà Lan, sau khi cây đậu

mọc 10 - 15 ngày thì thả nhện hại, sau khi thả nhện 5 - 10 ngày thì thả nhện

ăn thịt Những cây đậu Hà Lan đã thả nhện ăn thịt 10 - 15 ngày thì đưa vào vườn chè để chúng phát tán và ăn nhện hại

Để phòng trừ nhện đỏ Oligonychus coffeae, Somchoudhury, Shaha

(1995) [37], điều tra nhiều đồn điền trồng chè ở Bắc Bengal và Đông Bắc ấn

Độ đã kết luận: trong số các loài ăn thịt thì nhóm Phytoseiid được xem như một tác nhân sinh học điều hoà nhện hại thực vật có hiệu quả nhất và ưu thế

nhất Đã ghi nhận 39 loài nhện ăn thịt thuộc nhóm Phytoseiid, thuộc các họ Phytoseiidae, Stiymaeidae, Cunaxidae, Erythriadae, Bdellidae, Tydeidae, Ascidae, Anystidae Đồng thời các tác giả cũng cho biết sự tác động lẫn nhau giữa Phytoseiid với thuốc trừ sâu và giữa Phytoseiid với giống chè chống chịu

nhện hại Về tác động của thuốc, đã thí nghiệm tính độc tiếp xúc của nhiều

loại thuốc trừ sâu với nhện ăn thịt, loài Amblyseius ovalis và loài Amblyseius largoensis, cho biết các loại thuốc Fenazaquin, Dicofol và Sunfur ít độc đối

với nhóm nhện ăn thịt này, trong khi các loại thuốc Cypermethrin, α – Cyper methrin và Endosulfan có tính độc cao đối với chúng Điều ngẫu nhiên là Fenazaquin và Sulfur lại có hiệu quả phòng trừ nhện hại cao Về tác động lẫn nhau giữa nhện ăn thịt với tính chống chịu nhện hại của các dòng chè, các tác giả đã cho biết: Một sự cân bằng giữa bắt mồi ăn thịt và con mồi sẽ thuận lợi cho việc tăng thêm tính đề kháng nhện hại của cây chè Hệ thống quản lý dịch hại sẽ bền vững hơn, nếu cả bắt mồi ăn thịt và các giống chống chịu đều có vai trò làm giảm mật độ nhện hại Kết quả thí nghiệm cho biết mật độ nhện ăn thịt

-có sự khác nhau trên 14 dòng chè nghiên cứu, tỷ lệ giữa nhện hại và nhện bắt mồi cũng khác nhau giữa các dòng đó ở vài dòng chè như TV16, TV18 mật

độ nhện ăn thịt thấp nhưng mật độ nhện hại lại cao Trái lại, ở một vài dòng khác như TV9, TV11 mật độ quần thể nhện hại thấp nhưng mật độ Phytoseiid

Trang 26

lại cao Qua đó, chúng ta được cung cấp thêm những hiểu biết để duy trì quần thể nhện ăn thịt thích hợp: Cân bằng con mồi bởi sử dụng các dòng chè chịu nhện và cũng tạo chỗ ở phù hợp cho Phytoseiid Trên cơ sở kết quả các thí nghiệm và điều tra các tác giả đã đi đến nhận xét như sau: sự bảo tồn nhện ăn

thịt bằng cách sử dụng chọn lọc các loại thuốc trừ sâu như Fenazaquin và Sulfur đã làm tăng số lượng một số loài Phytoseiid như A herbicolus, A ovalis, A momurtry và lựa chọn các dòng chè phù hợp là cơ sở để đạt được

những thành công trong chương trình IPM đối với nhện đỏ hại chè

Muraleedharan và Radhakrishnan (1989) [32] đã điều tra thiên địch của nhiều loài sâu hại chè ở Kerala và Tamil Nadu (Nam ấn Độ) bao gồm cả ký

sinh và ăn thịt Đối với bọ trĩ, đã xác định 2 loài ăn thịt là Aleothrips intermedius Bagn Và Mymarothrips garuda Ramak, thuộc họ Aleothripidae,

bộ Thysanoptera, ăn bọ non và trưởng thành loài bọ trĩ Scirtothrips bispinosus

Các loài nhện lớn ăn thịt có ý nghĩa to lớn trong điều hoà quần thể sâu hại thực vật cũng như sâu hại trên cây chè Chen Y.F (1992) [18] cho biết sau

10 năm điều tra nhện lớn (1981 - 1990) trên các nương chè thuộc tỉnh Triết Giang (Trung Quốc) đã ghi nhận tổng số 110 loài nhện lớn thuộc 21 họ và 93,7% trong số đó là thiên địch của côn trùng hại chè, 6 loài chiếm ưu thế

nhất là: Phintella bifurcilinea; Clubiona deletrix; Tetragnatha praedonia; Conopistha (argyrodes) sp.; Neriene oidedicata và Neriene sp Theo dõi trong phòng thí nghiệm cho thấy rầy xanh (Empoasca pirisuga), bọ phấn (Aleurocanthus spiniferus), rệp muội (Toxoptera aurantii) là những con mồi chính của các loài nhện lớn này Bọ xít (Lygocoris lucorum) và sâu non sâu

xếp lá cũng bị chúng ăn thịt Đồng thời tác giả cũng khẳng định sự dao động trong quần thể nhện lớn chính là do sự dao động trong quần thể sâu hại, do tác

động của thuốc trừ sâu, của kỹ thuật trồng trọt và yếu tố khí hậu

Trang 27

Zhang J.W và các cộng tác viên (1993) [43] đã nghiên cứu động thái

mật độ và tỉ lệ chết của rầy xanh Empoasca vitis trên nương chè và trong

phòng thí nghiệm đã kết luận nhện lớn ăn thịt điều hoà mật độ rầy xanh hiệu quả nhất Sự phối hợp sử dụng thuốc trừ sâu Applaud với thời gian hái và phủ

đất cho chè trước mùa đông đã cho kết quả rất tốt Zhang J.W còn cho biết các

loài thuộc họ Salticidae và họ Liocranidae phổ biến hơn các họ khác Các loài phổ biến là Evarcha albaria; Telamonia bifurcilinea (Phintella bifurcilinea); Jotus minutus (Lycidas minutus); Clubiona corrugata và Clubiona japonicola

Xie Z.L và Dai - SuXian và các cộng tác viên (1991) [42] đã sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính để kiểm tra tính liên tiếp trong quần thể côn trùng trong điều kiện không phun thuốc trừ sâu ở Quảng Đông (Trung Quốc) Trong thời gian đầu của giai đoạn 1, từ khi chè trồng đến khi bắt đầu cho thu hoạch, côn trùng có xu hướng cư trú ở lá, búp non Các loại sâu hại

chủ yếu có Caloptilia theivora, Petaphora sp., Clania minuscula ở giai đoạn

2 và 3 và qua đỉnh cao sản lượng, bắt đầu tới thời kỳ suy thoái, sâu hại chỉ gây

ra những thiệt hại nhẹ và chúng bị thiên địch khống chế Trong thời kỳ đầu

suy yếu, có các loài sâu gây hại nghiêm trọng như Casmara patrona và Xyleborus fornicatus Chỉ số cân bằng quần thể và chỉ số đa dạng quần thể đạt

tối đa vào thời kỳ sản lượng chè đạt đỉnh cao

2.5.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

ở Việt Nam nghiên cứu về thiên địch của sâu hại trên các cây trồng và

sử dụng chúng trong phòng trừ đã được nhiều tác giả trong nước tiến hành Tuy vậy, đối với chè, những kết quả nghiên cứu về thiên địch, được biết còn rất hạn chế và mới chỉ là bước đầu

Qua quá trình lâu dài của sản xuất chè, việc phòng trừ sâu bệnh chủ yếu bằng hoá học, việc lạm dụng thuốc trừ sâu đã gây ra những vấn đề bất lợi như

Trang 28

ô nhiễm môi trường, hình thành các loài gây hại có tính chống chịu, xuất hiện các loài sâu có ý nghĩa kinh tế mới, phá vỡ các quần lạc sinh vật tự nhiên, mức dư lượng cao đã ảnh hưởng không nhỏ đến giá trị của sản phẩm Để khắc phục những hiệu quả tiêu cực đó thì việc tìm kiếm các biện pháp phòng trừ sâu bệnh có hiệu quả mà an toàn đã được đặt ra Các nhà khoa học cho biết những phương pháp bảo vệ thực vật riêng lẻ, ngay cả những phương pháp có hiệu quả nhất cũng không thể đảm bảo ức chế lâu dài số lượng sâu hại Điều

đó chỉ có thể thực hiện được khi sử dụng một cách có hệ thống và tổng hợp tất các các biện pháp phòng trừ có thể có được - Đó là phương pháp tổng hợp điều khiển quần thể sâu hại Để phòng trừ có hiệu quả, nhiều tác giả đã nghiên cứu

để hiểu hiểu sâu sắc về sinh học, sinh thái các loài gây hại, sinh trưởng và các

kỹ thuật trồng trọt của cây chè Theo đó, để xây dựng và áp dụng hệ thống tổng hợp các biện pháp phòng trừ sâu hại chè

Nguyễn Khắc Tiến (1986) đề nghị khi phòng trừ rầy xanh, có thể phối hợp biện pháp để lưu xen kẽ với đốn phớt đại trà để thu hút rầy xanh mà phun thuốc phòng trừ rầy sớm, sau đó cắt nhẹ lại có thể trừ rầy muộn trong vụ hè Nguyễn Văn Thiệp (2000) đã đề xuất biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu hại chè cho vùng Phú Thọ gồm các kỹ thuật về sinh học và nông học [8]

Về mặt sinh thái học quần thể, thì dịch hại luôn luôn tồn tại và phát sinh phát triển, các biện pháp tác động chỉ nhằm giảm mật độ dịch hại trong sinh quần đồng ruộng mà không thể tiêu diệt hết chúng được Vì vậy, khi mật

độ sâu hại tăng nhanh, cần áp dụng biện pháp tác động mạnh, nhưng phải tác

động đúng lúc thì hiệu quả mới cao Muốn vậy, phải xác định được ngưỡng phòng trừ sâu hại Theo đó, để xây dựng và áp dụng có hiệu quả hệ thống tổng hợp các biện pháp phòng trừ sâu hại chè, cần thiết phải hiểu sâu sắc về sinh học, sinh thái các loài gây hại, sinh trưởng của cây chè và các mối quan hệ của chúng với nhau

Trang 29

Về vấn đề dư lượng:

Biện pháp hoá học rất quan trọng và cần thiết để giảm tác hại của sâu hại Nhưng trong nhiều trường hợp, thuốc hoá học đã để lại trong sản phẩm lượng tồn dư chưa phân huỷ hết làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Đặc biệt chè được sử dụng dưới dạng nước uống, nên vấn đề dư lượng thuốc trừ sâu

có ý nghĩa rất quan trọng

Dư lượng thuốc trừ sâu trong chè cần phải càng thấp càng tốt Trong thực tế sản xuất, thực hiện được vấn đề này không phải là đơn giản vì thời gian giữa các lần thu hoạch tương đối ngắn, trong giai đoạn vụ chè chính có từ 3 -

4 lứa hái một tháng Để giảm được dư lượng thuốc trong chè một số biện pháp nhằm giữ mức dư lượng dưới giới hạn cho các vùng chè ở ấn Độ như sau:

(1) Sử dụng luân phiên hoá chất và phải trên cơ sở của sự cần thiết

(2) Chỉ phun thuốc sau khi hái chè

(3) Không dùng thuốc đã quá thời hạn

(4) Chỉ sử dụng những bình phun quy định

(5) Không dùng thuốc đã cấm sử dụng cho chè

(6) Thuốc Ethion nên giữ ở liều lượng 750 ml/ha

(7) Mẫu chè xuất khẩu phải phân tích dư lượng các loại thuốc DDT, BHC, Aldrin/Dieldrin, Chlordan, Heptachlor, Dicofol và Ethion Dù không

được hướng dẫn sử dụng cho chè, song dư lượng của các loại thuốc này cần phải được phân tích và phải tính bằng phần tỉ (parts per billion)

(8) Không để chung BHC với các hoá chất khác dùng cho nương chè

ở nước ta, vấn đề dư lượng thuốc trên chè cũng được ngành nông nghiệp và các ngành liên quan khác quan tâm chú ý Một số loại thuốc có thời gian phân huỷ chậm để lại tồn dư trong sản phẩm chè, đã bị cấm hoặc hạn chế

sử dụng Việc xác định thời gian cách ly (từ khi phun thuốc đến khi hái) là nhằm hạn chế dư lượng không vượt quá mức cho phép Khi nghiên cứu vấn đề này, Hoàng Thị Hợi (1996) [1] đã đề xuất thời gian cách ly đối với thuốc Danitol là 10 ngày

Trang 30

3 Đối tượng, địa điểm, nội dung

và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các loài sâu, nhện hại trên cây chè giai đoạn kinh doanh và kiến thiết cơ bản Các giống chè nghiên cứu là các giống đã được trồng ở Công ty chè Đường Hoa Trên cơ sở kế thừa một số kết quả ở Hải Hà,

đề tài tiếp tục điều tra và bố trí một số thí nghiệm, từ đó đề xuất biện pháp áp dụng cho sản xuất

Giống chè: - Giống Trung du: là giống địa phương

- Giống LDP1: là giống chè lai từ Viện Nghiên cứu Chè

- Giống PH1: là giống chọn lọc có nguồn gốc ấn Độ

- Giống Phúc Vân Tiên và Thuý Ngọc là những giống nhập nội có nguồn gốc Trung Quốc và Đài Loan

Dụng cụ: - Vợt, khay bắt sâu, túi polyethylen (PE) đựng mẫu

- Kính lúp quan trắc: kính lúp: NOVEX AP-1, độ phóng đại 10x;

- Kính hiển vi: PZO-WARSZWA, độ phóng đại 10x; Kính lúp cầm tay

3.2 Nội dung nghiên cứu

(1) Tìm hiểu thành phần sâu hại chè

(2) Nghiên cứu biến động số lượng của rầy xanh, bọ trĩ, nhện đỏ trên

Trang 31

nương chè và ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến sự biến động số lượng của rầy xanh và bọ trĩ

(3) Nghiên cứu một biện pháp phòng trừ rầy xanh, bọ trĩ , nhện đỏ

Địa điểm thực hiện:

- Công ty chè Đường Hoa, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, ở vị trí

21o27,128 N và 107o41,217 E: tiến hành các thí nghiệm

- Viện Nghiên cứu Chè, Phú Hộ, Phú Thọ: quan sát và xác định mẫu

- Trường ĐH NN1 Hà Nội,

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Điều tra thành phần sâu hại chè

Điều tra tự do theo hàng chè, cứ cách 10 hàng chè, điều tra 1 hàng Trên hàng đó, điều tra dọc theo từ đầu đến cuối hàng Dùng vợt bắt, kết hợp với quan trắc tại chỗ, mỗi điểm vợt 20 vợt ứng với 10m chiều dài hàng chè

Mẫu sâu được xác định tên ngay trên đồng ruộng Những loài chưa biết tên thì mẫu được bảo quản để giám định

Mức độ phổ biến của từng loài đựơc xác định qua tần số và số lượng xuất hiện nhiều hay ít trong quá trình điều tra

Mức độ phổ biến của mỗi loài sâu tính như sau:

Số điểm phát hiện được sâu

Mức độ phổ biến (%) = - x 100

Số điểm điều tra

Dùng dấu (+) để biểu thị mức độ phổ biến theo qui ước sau:

+ < 5% số điểm có sâu (rải rác)

+ + >5 đến 25% điểm có sâu (ít)

+ + + >25 đến 50% điểm có sâu (trung bình)

+ + + + >50 đến 75% số điểm có sâu (nhiều)

Trang 32

+ + + + + >75% số điểm có sâu (rất nhiều)

Điều tra thành phần và mức độ phổ biến của các loài theo thời gian cách nhau 10 ngày 1 lần

3.3.2 Điều tra sự biến động số lượng

(1) Điều tra rầy xanh:

Chọn 3 nương chè giống Trung du, cùng tuổi (10 tuổi), cùng hướng và

độ dốc, chế độ chăm sóc như nhau thuộc các đội sản xuất số 1,2 và 3 của Công ty Chè Đường Hoa, tương ứng với 3 lần nhắc lại Diện tích mỗi nương chè đã chọn khoảng 1000 m2, trên mỗi nương, được chia thành 5 điểm chéo góc Mỗi điểm lấy 2 hàng chè liền nhau, mỗi hàng lấy 20 m chiều dài, vì chè Trung du 10 tuổi đã giao tán nên rộng tán của cả 2 hàng là 3 m, mỗi điểm điều tra có diện tích 60 m2

Dùng khay 25 x 30 x 3cm có tráng dầu, hứng dưới tán chè và đập 3 đập

ở mỗi điểm điều tra, đi giữa 2 hàng chè, cứ đập 1 đập 1 khay ở hàng này, 1 khay ở hàng kia cách nhau 2m (như sơ đồ)

Mỗi hàng hứng 5 khay, 2 hàng là 10 khay Đếm tất cả rầy rơi trên khay Mật độ rầy tính bằng số con trên 1 khay Nếu thời kỳ nhiều rầy thì đập được khay nào phải đếm luôn khay ấy Điều tra định kỳ 5 ngày 1 lần

Hàng chè

Hàng chè

Trang 33

(2) Điều tra bọ trĩ

Điều tra trên cùng nương chè với điều tra rầy xanh, cách bố trí điểm

điều tra cũng như đối với rầy xanh Điều tra định kỳ 5 ngày 1 lần Trên điểm

điều tra chia mỗi hàng thành 5 điểm nhỏ, mỗi điểm dài 4 m, tổng của 2 hàng

là 10 điểm Để hạn chế yếu tố chủ quan, chúng tôi dùng khung 25 x 45 cm đặt lên tán chè ở nơi giữa của mỗi điểm nhỏ (dài 4m), chiều dài của của khung đặt ngang theo chiều rộng của tán chè, sau đó hái toàn bộ số búp trong khung và cho ngay vào túi PE Búp chè hái chỉ gồm những búp tôm + 2 lá Búp chè đem

về phòng, đếm số sâu và mật độ được tính bằng số sâu trên 1 búp

Tỷ lệ hại của bọ trĩ tính bằng phần trăm số búp bị hại

Để tính được mức độ bị hại do bọ trĩ, chúng tôi chia cấp bị hại thành 3 cấp theo Nguyễn Văn Hành:

Cấp 0: búp và lá không bị hại

Cấp 1: búp và lá có những vết riêng rẽ

Cấp 2: lá có 2 vết to nằm song song với gân chính

Cấp 3: lá dầy, giòn, búp chùn lại

(3) điều tra nhện đỏ:

Cùng điều tra trên những nương chè đã được bố trí để điều tra rầy xanh

và bọ trĩ Cách bố trí điểm điều tra như đối với rầy xanh và bọ trĩ Điều tra

định kỳ 5 ngày 1 lần

Vì nhện đỏ có kích thước nhỏ nên mỗi điểm của 5 điểm chúng tôi chỉ chia thành 4 điểm nhỏ Trên mỗi điểm nhỏ, chúng tôi hái ngẫu nhiên 8 lá và cho ngay vào túi PE, đưa về phòng đếm Mật độ nhện được tính bằng số con

có trên 1 lá chè (hái lá bánh tẻ)

3.3.3 Thí nghiệm so sánh sâu trên các giống

Chúng tôi chọn 5 giống chè, đại diện cho cả giống chè cũ và mới ở công ty chè Đường Hoa Đó là các giống Trung du, PH1, LDP1, Phúc vân tiên

Trang 34

và Thuý ngọc để nghiên cứu mật độ rầy xanh, bọ trĩ và nhện đỏ Phương pháp

điều tra giống như điều tra quy luật diễn biến số lượng của từng loài đã nêu ở trên Thời gian điều tra từ tháng 2 đến tháng 6/ 2006

3.3.4 Điều tra ảnh hưởng của cây che bóng

Cây che bóng cho chè là muồng lá nhọn, trồng ở giữa hàng chè với mật

độ 200 cây/ha, khoảng cách giữa các cây là 6 x 6 m ở thời điểm nghiên cứu, cây cao khoảng 5 – 7 m, tán rộng khoảng 20 m2

Nơi so sánh là những nương chè cùng giống, cùng tuổi, cùng chế độ chăm sóc nhưng chưa trồng cây che bóng, ở các đội sản xuất số 1,2 và 3 của Công ty chè Đường Hoa Điểm điều tra được xác định là khoảng giữa của 4 cây che bóng đứng liền nhau

3.3.5 Thí nghiệm ảnh hưởng của phương pháp hái chè

áp dụng 2 phương pháp hái: hái san trật và hái theo lứa Thí nghiệm cũng thực hiện tại 3 đội sản xuất như trên

- Hái san trật: hái khi nương chè có khoảng 30% số búp đủ tiêu chuẩn

- Hái theo lứa: hái khi búp chè rộ (có khoảng 80% số búp đủ tiêu chuẩn)

Điều tra mật độ rầy xanh, bọ trĩ và nhện đỏ 3 lần sau khi hái 1 ngày, 7 ngày và 15 ngày

3.3.6 Thí nghiệm phòng trừ bằng thuốc hóa học

Các thí nghiệm thuốc thực hiện trên nương chè ở các đội của Công ty chè Đường Hoa Mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần ở các thời gian khác nhau Các công thức (mỗi loại thuốc) có diện tích 100 m2, 3 lần nhắc lại Phun bằng bình bơm tay, lượng nước thuốc sử dụng là 500 l/ha Hiệu lực của thuốc xác

định bằng mật độ sâu sống theo dõi qua 1, 3, 5, 7 ngày sau khi phun và được tính theo công thức Henderson - Tilton

Trang 35

Ta: Số sâu sống ở ô phun thuốc, sau phun ở thời điểm n

Tb: Số sâu sống ở ô phun thuốc, trước phun

Ca: Số sâu sống ở ô đối chứng, sau phun ở thời điểm n

Cb: Số sâu sống ở ô đối chứng, trước phun

Xử lý số liệu theo phương pháp bình phương nhỏ nhất trong thống kê sinh học và chương trình IRRISTAT version 5.0

Một số công thức dùng khi đo đếm:

Σ xi

- Tính số trung bình mẫu: X = -

n

Trong đó: xi - Trị số của mẫu thứ i

n - Số mẫu nghiên cứu

X - Trị số trung bình của mẫu

- Tính độ lệch chuẩn của mẫu :

x - Trị số trung bình của mẫu

n - Tổng số mẫu nghiên cứu

- Thiết lập biểu đồ và đồ thị bằng hệ MICROSOFT EXCEL

Trang 36

4 Kết quả và thảo luận

4.1 Thành phần sâu hại chè ở vùng Đường Hoa, Quảng Ninh năm 2005 - 2006

4.1.1 Danh mục sâu hại chè ở Đường Hoa

ở Việt Nam, chè được trồng ở nhiều nơi, cây chè sinh trưởng, phát triển

và tồn tại quanh năm trên đồng ruộng ở những nơi khác nhau, có thể có các loài sâu hại phổ biến khác nhau, chúng phát sinh thành dịch ở từng nơi, từng lúc gây ra những tổn thất rất nghiêm trọng Có hạn chế được tác hại của chúng mới mong đảm bảo năng suất và ổn định cho cây chè Muốn vậy, cần điều tra

để biết được ở từng nơi, trong từng thời gian có những loại sâu gì phá hại và mức độ hại như thế nào để tìm phương pháp phòng trừ thích hợp

Việc điều tra thành phần sâu hại chè ở các nước đã được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam, các tài liệu cho biết số lượng các loài sâu hại đã xác định tên khoa học còn rất hạn chế Hải Hà là một vùng chè tương đối mới so với các vùng khác ở Việt Nam Chè xanh tại đây có chất lượng khá tốt, những năm gần đây diện tích chè đang được mở rộng nhanh chóng Tuy nhiên những nghiên cứu về sâu bệnh hại tại vùng này hầu như chưa có gì Để phục vụ sản xuất chè trong phòng trừ sâu hại và làm cơ sở cho các nghiên cứu trong vùng,chúng tôi đã tiến hành điều tra thành phần sâu nhện trên các đối tượng chè kinh doanh, chè kiến thiết cơ bản và vườn ươm chè giống nhằm xác định thành phần sâu hại chè ở vùng Đường Hoa, Hải Hà, Quảng Ninh

Để điều tra thành phần, chúng tôi dùng phương pháp điều tra tự do, cuốn chiếu trên nương chè Dùng vợt bắt sâu, kết hợp với quan sát tại chỗ Mẫu được xác định tên ngay, những loài chưa xác định được tên thì bảo quản mẫu và xác định tên ở Viện Nghiên cứu Chè Các lần điều tra cách nhau 10

Trang 37

ngày Do điều kiện hạn chế về thời gian và cơ sở vật chất, song kết quả điều tra của chúng tôi cũng phản ánh được đa số các loài sâu hại chè ở vùng Đường Hoa Kết quả điều tra của chúng tôi ghi ở bảng 4.1

Số loài chúng tôi tìm thấy chưa phải là nhiều, có thể còn nhiều loài mà

ở những thời điểm điều tra chúng tôi chưa phát hiện được và cũng có nhiều loài chưa xác định được tên khoa học Song những loài đã xác định là những loài thường gặp ở vùng chè Đường Hoa

Qua kết quả điều tra từ tháng 7 năm 2005 đến tháng 6 năm 2006, chúng tôi đã xác định 36 loài sâu hại cư trú trên chè thuộc 29 họ của 9 bộ khác nhau Trong đó, lớp côn trùng (Insecta) có 32 loài; lớp nhện (Vebét) bộ Acarina có 3 loài thuộc các họ: Tetranychidae, Eriophyidae và Tarsonemidae

Các loài thuộc lớp côn trùng là những loài đại diện của 26 họ thuộc 7 bộ khác nhau:

- Bộ cánh vảy (Lepidoptera) có 13 loài thuộc 9 họ, bộ này có số lượng

loài nhiều nhất Các loài đáng chú ý trong bộ này là sâu xếp lá (Agriphora rhombata Meir), sâu cuốn búp (H coffearia Niet) Bọ nẹt xanh (P Consosia

Walker) cư trú ở mặt dưới và hại lá bánh tẻ, tuy số lượng không nhiều nhưng gây buốt, ngứa, trở ngại trong quá trình chăm sóc chè

- Bộ cánh đều (Homoptera) có 5 loài thuộc 4 họ Loài có số lượng nhiều

là rầy xanh (Empoasca (= chlorita) flavescens Fabr) Rệp phẩy trắng là loài

khá nguy hiểm, xuất hiện cục bộ nhưng gây hại nghiêm trọng, có thể làm chết chè kể cả chè tuổi lớn và chè con

Trang 38

Bảng 4.1 Danh lục sâu, nhện hại chè ở Đường Hoa, Quảng Ninh

(7/2005 - 6/2006)

Bộ Acarina

1 Nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner Tetranychidae

2 Nhện sọc trắng Calacarus carinatus Green Eriophyidae

3 Nhện hồng Acaphylla theae Watt Eriophyidae

4 Nhện vàng Hemitarsonemus latus Bank Tarsonemidae

Bộ Orthoptera

5 Châu chấu

Trung Hoa

Oxyopes velox Fabr Acrydidae

6 Dế mèn lớn Brachytrupes pertentosus Licht Gryllidae

7 Dế dũi Gryllotanpa orientalis Burm Gryllotanpidae

Cletus punctiger Dallas Coreidae

11 Bọ xít dài Leptocrisa varicornis Fabr Coreidae

12 Bọ xít hông viền

trắng

Eiptortus linearis Fabr Coreidae

13 Bọ xít hoa Poecilocoris latus Dallas Pentatomidae

14 Bọ xít xanh Nezara viridula Linneaus Pentatomidae

Trang 39

1 2 3 4

Bộ Homoptera

16 Rệp muội Toxoptera theicola Buchkton Aphididae

17 Rầy xanh Empoasca flavescens Fabr Cicadellidae

18 Rầy trắng lớn

đuôi đen

Tettigoniella ferrugines Fabr Cicadellidae

19 Rệp phẩy trắng Chionaspis theae Maskell

( Chinaspis exercitata Green )

Diaspididae

Bộ Thysanoptera

20 Bọ trĩ Physothrips setiventris Bagn Thrypidae

Bộ Lepidoptera

21 Sâu đục thân đỏ Zeuzera coffea Niet Cossidae

22 Sâu đo Biston suppressaria Guence Geometridae

23 Bọ nẹt xanh Darasa consosia Walker Limacodidae

24 Bọ nẹt xanh

không gai

Chalcocelis albigutata Limacodidae

25 Sâu róm u vàng Euproctis pseudoconspersa Stal Lymantriidae

26 Sâu róm nâu Eterusia aedae Linn Zygaenidae

27 Sâu kèn tổ lá Acanthopsyche subera Hmp Psychidae

28 Sâu kèn mái

chùa

Pagodia hekeyeri Heyl Psychidae

29 Sâu kèn ống Amatissa vaulogeri Heyl Psychidae

30 Sâu kèn bó củi Clania crameri Westwood Psychidae

Trang 40

Arbela dea Swinh

Agriphora rhombata Meir

Homona coffearia Niet

Arbelidae Tineidae Tortricidae

- Bộ cánh nửa (Hemiptera) có 6 loài thuộc 4 họ, đáng chú ý là bọ xít

muỗi (Helopeltis theivora Water)

- Bộ cánh tơ (Thysanoptera) có 1 loài là physothrips setiventris Bagn,

thường gọi là Thrips

- Bộ cánh bằng (Isoptera) có 1 loài mối ăn gỗ tươi là Odontotermes formosanus Shir, thuộc họ Termitidae

- Bộ cánh cứng (Coleoptera) có 2 loài thuộc 2 họ khác nhau Trong 2 loài này, đáng chú ý là bọ hung (Melolontha spp) hại rễ chè con Chè con mới

trồng từ cây ươm bằng cành thường bị sâu non bọ hung ăn rễ và ăn vỏ quanh gốc làm chè chết, mất khoảng

- Bộ Acarina có 3 loài thuộc 3 họ, trong đó đáng chú ý là loài

olygonychus coffeae Niet

Ngày đăng: 03/08/2013, 10:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thị Hợi (1996), Điều tra nghiên cứu một số sâu bệnh chính hại chè ở Bắc Thái và biện pháp phòng trừ, Luận án PTS KHNN, Viện KHKTNNVN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra nghiên cứu một số sâu bệnh chính hại chè ở Bắc Thái và biện pháp phòng trừ
Tác giả: Hoàng Thị Hợi
Năm: 1996
2. Nguyễn Văn Hùng, Đoàn Hùng Tiến, Nguyễn Khắc Tiến (1998), Sâu bệnh, cỏ dại hại chè và biện pháp phòng trừ, NXB Nông nghiệp, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu bệnh, cỏ dại hại chè và biện pháp phòng trừ
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng, Đoàn Hùng Tiến, Nguyễn Khắc Tiến
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
3. Nguyễn Văn Hùng (1988), ”Kết quả điều tra côn trùng 1967 – 1988”, Tạp chí Bảo Vệ Thực Vật, số 6, NXB Nông thôn, tr. 8 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”"Kết quả điều tra côn trùng 1967 – 1988”," Tạp chí Bảo Vệ Thực Vật
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng
Nhà XB: NXB Nông thôn
Năm: 1988
4. Đỗ Văn Ngọc (1991), ảnh hưởng của các dạng đốn đến sinh trưởng phát triển, năng suất, chất l−ợng của cây chè Trung Du tuổi lớn ở Phú Hộ, Luận án PTS KHNN, Viện KHKTNNVN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh h−ởng của các dạng đốn đến sinh tr−ởng phát triển, năng suất, chất l−ợng của cây chè Trung Du tuổi lớn ở Phú Hộ
Tác giả: Đỗ Văn Ngọc
Năm: 1991
5. Lê Thị Nhung (1996), “Một số kết quả nghiên cứu phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại chè”, Tạp chí Hoạt động khoa học số 8, tr. 33-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại ch"è”, Tạp chí Hoạt động khoa học
Tác giả: Lê Thị Nhung
Năm: 1996
6. Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong (1997), Cây chè Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây chè Việt Nam
Tác giả: Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
7. Nguyễn Kim Phong (2005), “Thế giới chè”, Tạp chí Bảo Vệ Thực Vật sè 2 , tr 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ThÕ giíi chÌ"”, Tạp chí Bảo Vệ Thực Vật
Tác giả: Nguyễn Kim Phong
Năm: 2005
8. Nguyễn Văn Thiệp (2000), Nghiên cứu cơ sở khoa học phòng trừ rầy xanh, bọ trĩ hại chè, Luận án tiến sỹ nông nghiệp, Viện KHKTNNVN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học phòng trừ rầy xanh, bọ trĩ hại chè
Tác giả: Nguyễn Văn Thiệp
Năm: 2000
9. Nguyễn Văn Thụ (2006,), “Ngành chè trên đ−ờng phát triển”, Tạp chí ThÕ giíi chÌ sè 3, tr. 8-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành chè trên đ−ờng phát triển"”, Tạp chí ThÕ giíi chÌ
10. Nguyễn Khắc Tiến (1963), “Sâu bệnh hại chè và ph−ơng pháp phòng trừ”, Báo cáo khoa học đề tài cấp bộ, Trại TN chè Phú Hộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Sâu bệnh hại chè và ph−ơng pháp phòng trừ"”, Báo cáo khoa học đề tài cấp bộ
Tác giả: Nguyễn Khắc Tiến
Năm: 1963
11. Nguyễn Khắc Tiến (1965), “Thành phần sâu bệnh hại chè ở Phú hộ”, Báo cáo khoa học đề tài cấp bộ, Trại TN chè Phú Hộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần sâu bệnh hại chè ở Phú hộ"”, Báo cáo khoa học đề tài cấp bộ
Tác giả: Nguyễn Khắc Tiến
Năm: 1965
12. Nguyễn Khắc Tiến (1969), “Sâu bệnh hại chè”, Tạp chí Nông tr−ờng quèc doanh sè 9, tr. 21 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu bệnh hại chè”, "Tạp chí Nông tr−ờng quèc doanh
Tác giả: Nguyễn Khắc Tiến
Năm: 1969
13. Nguyễn Khắc Tiến (1986), “Kết quả nghiên cứu b−ớc đầu về rầy xanh hại chè và biện pháp phòng chống”, Kết quả nghiên cứu Cây công nghiệp, Cây ăn quả 1980 - 1984, NXB Nông nghiệp, tr.41 - 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Kết quả nghiên cứu b−ớc đầu về rầy xanh hại chè và biện pháp phòng chốn"g”, Kết quả nghiên cứu Cây công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Khắc Tiến
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1986
14. UBND tỉnh Quảng Ninh (12/2003), Dự án phát triển vùng chè huyện Hải Hà và giai đoạn 2004 – 2010, Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND tỉnh Quảng Ninh (12/2003), "Dự án phát triển vùng chè huyện Hải Hà và giai đoạn 2004 – 2010
15. Trần đặng Việt (2004), Thành phần sâu nhện hại; đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân 2004 tại Phú Hộ, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, Tr−ờng ĐHNN1.B. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần sâu nhện hại; đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân 2004 tại Phú Hộ
Tác giả: Trần đặng Việt
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Danh lục sâu, nhện hại chè ở Đ−ờng Hoa, Quảng Ninh   (7/2005 - 6/2006) - Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè đường hoa, huyện hải hà, tỉnh quảng ninh năm 2005 2006
Bảng 4.1. Danh lục sâu, nhện hại chè ở Đ−ờng Hoa, Quảng Ninh (7/2005 - 6/2006) (Trang 38)
Hình 1a. Một số loài sâu nhện hại chè - Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè đường hoa, huyện hải hà, tỉnh quảng ninh năm 2005 2006
Hình 1a. Một số loài sâu nhện hại chè (Trang 41)
Hình 1b. Một số loài sâu hại chè - Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè đường hoa, huyện hải hà, tỉnh quảng ninh năm 2005 2006
Hình 1b. Một số loài sâu hại chè (Trang 44)
Bảng 4.2: Mức độ phổ biến của sâu hại chè ở Đường Hoa, Quảng Ninh 7/2005-6/2006 - Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè đường hoa, huyện hải hà, tỉnh quảng ninh năm 2005 2006
Bảng 4.2 Mức độ phổ biến của sâu hại chè ở Đường Hoa, Quảng Ninh 7/2005-6/2006 (Trang 46)
Hình 1c. Một số loài sâu hại chè - Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè đường hoa, huyện hải hà, tỉnh quảng ninh năm 2005 2006
Hình 1c. Một số loài sâu hại chè (Trang 49)
Hình 1.  Diễn biến số l−ợng của rầy xanh   ở Đ−ờng Hoa 7/2005 - 6/2006 - Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè đường hoa, huyện hải hà, tỉnh quảng ninh năm 2005 2006
Hình 1. Diễn biến số l−ợng của rầy xanh ở Đ−ờng Hoa 7/2005 - 6/2006 (Trang 55)
Bảng 4.4. Mật độ của rầy xanh trên một số giống chè   ở Đ−ờng Hoa (con/khay) - Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè đường hoa, huyện hải hà, tỉnh quảng ninh năm 2005 2006
Bảng 4.4. Mật độ của rầy xanh trên một số giống chè ở Đ−ờng Hoa (con/khay) (Trang 59)
Bảng 4.5. ảnh hưởng của cây che bóng đến mật độ rầy xanh    Thời gian và địa điểm - Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè đường hoa, huyện hải hà, tỉnh quảng ninh năm 2005 2006
Bảng 4.5. ảnh hưởng của cây che bóng đến mật độ rầy xanh Thời gian và địa điểm (Trang 61)
Bảng 4.7.  Diễn biến mật độ của bọ trĩ hại chè   qua các tháng ở Đ−ờng Hoa - Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè đường hoa, huyện hải hà, tỉnh quảng ninh năm 2005 2006
Bảng 4.7. Diễn biến mật độ của bọ trĩ hại chè qua các tháng ở Đ−ờng Hoa (Trang 65)
Hình 4.  Diễn biến số l−ợng của bọ trĩ ở Đ−ờng Hoa 7/2005 - 6/2006 - Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè đường hoa, huyện hải hà, tỉnh quảng ninh năm 2005 2006
Hình 4. Diễn biến số l−ợng của bọ trĩ ở Đ−ờng Hoa 7/2005 - 6/2006 (Trang 66)
Bảng 4.8. Mật độ của bọ trĩ trên một số giống chè   ở Đ−ờng Hoa (con/búp) - Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè đường hoa, huyện hải hà, tỉnh quảng ninh năm 2005 2006
Bảng 4.8. Mật độ của bọ trĩ trên một số giống chè ở Đ−ờng Hoa (con/búp) (Trang 68)
Hình 5. Mật độ bọ trĩ trên các giống chè ở Đường Hoa - Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè đường hoa, huyện hải hà, tỉnh quảng ninh năm 2005 2006
Hình 5. Mật độ bọ trĩ trên các giống chè ở Đường Hoa (Trang 69)
Bảng 4.9. ảnh hưởng của cây che bóng đến mật độ bọ trĩ - Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè đường hoa, huyện hải hà, tỉnh quảng ninh năm 2005 2006
Bảng 4.9. ảnh hưởng của cây che bóng đến mật độ bọ trĩ (Trang 70)
Bảng 4.10. ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến   mật độ bọ trĩ  trên nương chè ở Đường Hoa, 6/1996 - Điều tra thành phần sâu, nhện và tình hình phát sinh của một số loài sâu hại chè chủ yếu tại công ty chè đường hoa, huyện hải hà, tỉnh quảng ninh năm 2005 2006
Bảng 4.10. ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến mật độ bọ trĩ trên nương chè ở Đường Hoa, 6/1996 (Trang 71)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w