phan tich tat ca cac bai van lop 12( caarphaanf thơ và truyện) hay,trong dó có các bài phan tich tat ca cac bai van sử dụng để ôn thi tốt nghiệp hoạc tài liệu luyện thi đại học mà không cần phải tốn công sức tim kiếm....................................................................................................................................................................................................................................................................................
Trang 1Phân tích bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm
Đất nước luôn là tiếng gọi thiêng liêng muôn thuở, muôn nơi và của bao triệu trái tim con người Đất nước đi vào đời chúng ta qua những lời ru ngọt ngào êm dịu, qua những làn điệu dân ca mượt
mà và những vần thơ sâu lắng, thiết tha và rất đỗi tự hào của bao lớp thi nhân Ta bắt gặp một hình tượng đất nước đau thương
nhưng vẫn ngời lên ý chí đấu tranh trong trang thơ Nguyễn Đình Thi đồng thời cũng rất dịu dàng ý tứ trong thơ Hoàng Cầm
Nhưng với Nguyễn Khoa Điềm , ta bắt gặp một cái nhìn toàn vẹn, tổng hợp từ nhiều bình diện khác nhau về một đất nước của nhân dân Tư tưởng ấy đã qui tụ mọi cách nhìn và cảm nhận của
Nguyễn Khoa Điềm về đất nước Thông qua những vần thơ kết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận, nhà thơ
muốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc, tình cảm với nhân dân, đất nước của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm chống Mĩ cứu nước
Mở đầu đoạn trích là giọng thơ nhẹ nhàng , thủ thỉ như những lời tâm tình kết hợp với hình ảnh thơ bình dị gần gũi đưa ta trở về với cội nguồn đất nước
Khi ta lớn lên Đất nước đã có rồi trồng tre mà đánh giặc
Đất nước trước hết không phải là một khái niệm trừu tượng mà là những gì rất gần gũi, thân thiết ở ngay trong cuộc sống bình dị của mỗi con người Đất Nước hiện hình trong câu chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa mẹ kể, trong miếng trầu của bà, cây tre trước ngõ … gợi lên một Đất nước Việt Nam bao dung hiền hậu, thủy chung và sắt son tình nghĩa anh em, nhưng cũng vô cùng quyết liệt khi
chống quân xâm lược Mỗi quả cau, miếng trầu, cây tre đều gợi về một vẻ đẹp tinh thần Đất nước, đều thấm đẫm ngọn nguồn lịch sử dân tộc
Trang 2Đất nước còn là hiện thân của những phong tục tập quán ngàn đời, minh chứng của một dân tộc giầu truyền thống văn hóa , giầu tình yêu thương gắn bó với mái ấm gia đình Cha mẹ thương nhau
bằng gừng cay muối mặn Gừng tất nhiên là cay, muối tất nhiên là mặn Tình yêu cha mẹ mãi mãi mặn nồng như chính chân lí tự
nhiên kia Hình ảnh thơ khiến ta rưng rưng nhớ về một lời nhắc nhở thiết tha về tình nghĩa của một ai đó hôm nào : Tay bưng dĩa muối chén gừng, Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau
Đất nước còn là thành quả của công cuộc lao động vất vả để sinh tồn, để dựng xây nhà cửa :
Cái kèo cái cột thành tên Đất Nước có từ ngày đó
Ở đây Đất nước không còn là một khái niệm trừu tượng nữa mà cụ thể, quen thuộc và giản gị biết bao Việc tác giả sử dụng những chất liệu dân gian để thể hiện suy tưởng của mình về đất nước với quan niệm “Đất nước của nhân dân”
Vẫn bằng lời trò chuyện tâm tình với mỗi nhân vật đối thoại tưởng tượng, Nguyễn Khoa Điềm đã diễn giải khái niệm đất nước theo kiểu riêng của mình :
Đất là nơi anh đến trường khăn trong nỗi nhớ thầm
Đất nước không chỉ được cảm nhận bởi không gian địa lí mênh mông từ rừng đến bể mà còn được cảm nhận bởi không gian sinh hoạt bình thường của mỗi người, không gian của tình yêu đôi lứa, không gian của nỗi nhớ thương Ý nịêm về đất nước được gợi ra
từ việc chia tách hai yếu tố hợp thành là đất và nước với những liên tưởng gợi ra từ đó Sử dụng lỗi chiết tự mà vẫn không ngô nghê, mà vẫn thật duyên dáng và ý nhị, có thể gợi ra cho thấy một quan niệm mang những đặc điểm riêng của dân tộc ta về khái niệm đất nước, mà tư duy thơ có thể tách ra, nhấn mạnh
Trang 3Đất mở ra cho anh một chân trời kiến thức, nước gột rửa tâm hồn
em trong sáng dịu hiền Cùng với thời gian lớn lên đất nước trở thành nơi anh và em hò hẹn Không những thế, đất nước còn
người bạn chia sẻ những tình cảm nhớ mong của những người
đang yêu Đất và nước tách rời khi anh và em đang là hai cá thể, còn hòa hợp khi anh và em kết lại thành ta Chiếc khăn – biểu
tượng của nỗi nhớ thương – đã từng làm bao trái tim tuổi trẻ bâng khuâng : “Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất …”, một lần nữa lại khiến lòng người xúc động, bồi hồi trước tình cảm chân thành của những tâm hồn yêu thương say đắm
Đất Nước còn là nơi trở về của những tâm hồn thiết tha với quê hương Hình ảnh con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc, con
cá ngư ông móng nước biển khơi mang phong cách dân ca miền Trung, thẫm đẫm lòng yêu quê hương cả tác giả Đất Nước mình bình dị, quen thuộc nhưng đôi khi cũng lớn rộng, tráng lệ và kì vĩ
vô cùng, nhất là đối với những người đi xa Dù chim ham trái chín
ăn xa, thì cũng giật mình nhớ gốc cây đa lại về Gia đình Việt
Nam là như thế, lúc nào cũng hướng về quê hương, hướng về cội nguồn
Đất Nước trường tồn trong không gian và thời gian : Thời gian
đằng đẵng, không gian mênh mông để mãi mãi là nơi dân mình đoàn tụ, là không gian sinh tồn của cộng đồng Việt Nam qua bao thế hệ Nguyễn Khoa Điềm gợi lại truyền thuyết Lạc Long Quân
và Âu Cơ , về truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ tổ Nhắc lại Lạc Long Quân và Âu Cơ, nhắc đến ngày giỗ tổ, Nguyễn Khoa Điềm muốn nhắc nhở mọi người nhớ về cội nguồn của dân tộc
Dù bôn ba chốn nào, người dân Việt Nam cũng đều hướng về đất
tổ, nhớ đến dòng giống Rồng Tiên của mình
Nhắc đến chuyện xưa ấy như để khẳng định, cũng là để nhắc nhở :
Trang 4Những ai đã khuất Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Cảm hứng thơ của tác giả có vẻ phóng túng , tự do nhưng thật ra đây là một hệ thống lập luận khá rõ mà chủ yếu là tác giả thể hiện đất nước trong ba phương diện : trong chiều rộng của không gian lãnh thổ địa lí, trong chiều dài thăm thẳm của thời gian lịch sử, trong bề dày của văn hóa – phong tục, lối sống tâm hồn và tính cách dân tộc
Ba phương diện ấy được thể hiện gắn bó thống nhất và ở bất cứ phương diện nào thì tư tưởng đất nước của nhân dân vẫn là tư
tưởng cốt lõi , nó như một hệ qui chiếu mọi cảm xúc và suy tưởng của nhà thơ
Và cụ thể hơn nữa , gần gũi hơn nữa , Đất nước ở ngay trong máu thịt của mỗi chúng ta :
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần đất nước
Đất nước đã thấm tự nhiên vào máu thịt, đã hóa thành máu xương của mỗi con người, vì thế sự sống của mỗi cá nhân không phải là riêng của mỗi con người mà là của cả đất nước Mỗi con người đều thừa hưởng ít nhiều di sản văn hóa vật chất và tinh thần của đất nước, phải giữ gìn và bảo vệ để làm nên đất nước muôn đời
Từ những quan niệm như vậy về đất nước, phần sau của tác phẩm tác giả tập trung làm nổi bật tư tưởng : Đất nước của nhân dân, chính Nhân dân là người đã sáng tạo ra Đất nước
Tư tưởng đó đã dẫn đến một cái nhìn mới mẻ, có chiều sâu về địa
lí, về những danh lam thắng cảnh trên khắp mọi miền đất nước Những núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, những núi Bút non Nghiên
… không còn là những cảnh thú thiên nhiên nữa mà được cảm
Trang 5nhận thông qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của nhân dân , sự hóa thân của những con người không tên tuổi : “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu, Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái” , “Người học trò thắng cảnh” Ở đây cảnh vật thiên nhiên qua cách nhìn của Nguyễn Khoa Điềm, hiện lên như một phần tâm hồn, máu thịt của nhân dân Chính nhân dân đã tạo dựng nên đất nước, đã đặt tên, đã ghi dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi , dòng sông Từ những hình ảnh, những cảnh vật, những hiện tượng cụ thể, nhà thơ qui nạp thành một khái quát sâu sắc :
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi ! Đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
Tư tưởng Đất nước của nhân dân đã chi phối cách nhìn của nhà thơ khi nghĩ về lịch sử bốn nghìn năm của đất nước Nhà thơ
không ca ngợi các triều đại, không nói đến những anh hùng được
sử sách lưu danh mà chỉ tập trung nói đến những con người vô
danh, bình thường, bình dị Đất nước trước hết là của nhân dân, của những con người vô danh bình dị đó
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất nước
Trang 6Họ lao động và chống giặc ngoại xâm, họ đã giữ và truyền lại cho các thế hệ mai sau các giá trị văn hóa, văn minh, tinh thần và vật chất của đất nước từ hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, tên xã, tên làng đến những truyện thần thoại, câu tục ngữ, ca dao Mạch cảm xúc lắng tụ lại để cuối cùng dẫn tới cao trào, làm nổi bật lên tư tưởn cốt lõi của cả bài thơ vừa bất ngờ, vừa giản dị và độc đáo :
Đất nước này là Đất nước nhân dân
Đất nước của Nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại
Một định nghĩa giản dị, bất ngờ về Đất nước Đất nước của ca dao thần thoại nhưng vẫn thể hiện những phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, của dân tộc : Thật đắm say trong tình yêu, biết quí trọng tình nghĩa và cũng thật quyết liệt trong đấu
tranh chống giặc ngoại xâm
Những câu thơ khép lại tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của cảnh sắc quê hương với một tâm hồn lạc quan phơi phới Tất cả ào ạt tuôn chảy trong tâm trí người đọc những tí tách reo vui …
Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm đã góp thêm thành công cho
mảng thơ viết về Đất nước Từ những cảm nhận mang tính gần gũi, quen thuộc, Đất nước không còn xa lạ, trừu tượng mà trở nên thân thiết nhưng vẫn rất thiêng liêng Đọc Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm ta không chỉ tìm về cội nguồn dân tộc mà còn khơi dậy tinh thần dân tộc trong mỗi con người Việt Nam trong mọi thời đại
Trang 7Bài thơ " Đất nước" của Nguyễn Đình Thi
" Đất nước" của Nguyễn Đình Thi là bài thơ hay của nền thơ Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp Tác phẩm kết hợp được nhiều yếu tố : hình ảnh chân thực và chất suy tưởng, khái quát, cảm xúc, suy ngẫm của cá nhân với tình
cảm, tư tưởng của cả dân tộc về đất nước Có lẽ vì thế, trải qua nhiều năm tháng, "Đất nước" vẫn là tiếng thơ hào sảng trong tâm hồn người Việt Nam
Xưa nay, nhiều bài thơ hay lại được nhà thơ viết rất nhanh,
có vẻ như “xuất thần” Trái lại, có những bài thơ được nung nấu kỹ lưỡng khi hoàn thành chưa hẳn làm ưng ý tác giả, nhất là về cảm xúc, sự xộc xệch trong kết cấu… Đất nước của Nguyến Đình Thi
có lẽ là trường hợp ngoại lệ Nó được thai nghén từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp (năm 1948,1949) và hoàn thành khi cuộc kháng chiến ấy đã kết thúc (năm 1955) Dĩ nhiên,
đó phải là thành công của nhà thơ có tài Nhưng điều quan trọng hơn chính là do tác phẩm ấy được tạo dựng nên từ những cảm xúc, suy nghĩ của Nguyến Đình Thi về một chủ đề lớn: Đất nước !
Khởi đầu bài thơ là những cảm xúc trực tiếp trong một sáng mùa thu, gợi nỗi nhớ về Hà Nội :
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Đó cũng là ấn tượng về một mùa thu Hà Nội : không khí mát
trong, gió nhẹ thổi và phảng phất mùi hương cốm mới Câu thơ gợi
tả cả không gian, màu sắc và hương vị, “đồng hiện” cả thời gian và quá khứ và hiện tại, trộn lẫn hình ảnh trong thực tại và hình ảnh trong hoài niệm
Hương cốm mới là nét đặc sắc của mùa thu Hà Nội Dường như đó
là kết tinh của tất cả hương vị đất trời, cây cỏ mùa thu Hà Nội
Thạch Lam từng viết về cốm, món quà đặc biệt của mùa thu Hà Nội : “Phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ… là thức dâng của cánh đồng bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản
dị mà thanh khiết của đồng quê nội cỏ
(Hà Nội băm sáu phố phường )
Sau này, hương cốm cũng đã đi vào nhạc của Trịnh Công Sơn
Trang 8( Nhớ mùa thu Hà Nội ) cùng với cây cơm nguội vàng, cây bàng lá
đỏ… làm thành nét thanh tao, gợi nhớ mùa thu Hà thành : “Hà Nội mùa thu/ Cây cơm nguội vàng / cây bàng lá đỏ / nằm kề bên nhau/ phố xưa nhà cổ / mái ngói thâm nâu / … Hà Nội mùa thu / mùa thu Hà Nội / mùa hoa sữa về / thơm từng cơn gió / mùa cốm xanh
về / thơm bàn tay nhỏ / cốm sữa vỉa hè / thơm bước chân qua…
Nguyễn Đình Thi đã đưa vào thơ những gì đặc trưng nhất của mùa thu Hà Nội Điều đó chứng tỏ nhà thơ là người gắn bó sâu nặng, thiết tha với Hà Nội thấm thía xao xác khi ở xa trông về Nguyễn Đình Thi kể, hồi nhỏ đi học trung học, ông thường lên vùng Hồ Tây ngồi ngắm bầu trời và những áng may bay Cảm hứng về bầu trời thu, về những làn gió mát, về hương vị cốm xanh và những dòng sôn, ruộng đồng ở đoạn sau của nhà thơ “cũng chính là cảm hứng về đất nước” ( Nguyến Đình Thi – Bài thơ Đất nước )
Dòng thơ thứ ba là một sự chuyển mạch Thực ra, ở hai câu thơ đầu đã có hình ảnh mùa thu xưa rồi, nhưng đến đây có lẽ không kiềm được dòng hồi tưởng nên lời thơ như buột phát ra : “Tôi còn nhớ những ngày thu đã xa”
Ở đây, còn có một lý do nữa : Trong bài thơ Sáng mát trong như
sáng năm xưa, vốn là vị trí của câu thơ có hình ảnh đẹp : “Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em” Câu thơ mang dáng dấp suy nghĩ tình
cảm và tình cảm của một trí thức Hà Nội Thời ấy, có thể không hợp với suy nghĩ của nhiều người trong hoàn cảnh kháng chiến nên Nguyến Đình Thi đã thay đi Song, dù sao thì sự chuyển mạch
ấy cũng hợp lý, kết nối được hình ảnh toàn bài thơ
Bốn câu thơ kế tiếp miêu tả về mùa thu Hà Nội xưa :
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội thềm nắng lá rơi đầy
Mùa thu Hà Nội hiện lên trong hoài niệm của nhà thơ thật đẹp và
thơ mộng, về thời tiết, thiên nhiên, không gian (chớm lạnh, xao xác hơi may, phố dài ) Đặc biệt, sự cảm nhận của tác giả thật tinh
tế và tài hoa khiến cho mùa thu Hà Nội bỗng nhiên biểu hiện bằng hình khối, màu sắc, ánh sáng Đó là thứ hình khối, ánh sáng, màu sắc của tâm trạng nên khiến lòng người càng thêm xao động
Mùa thu Hà Nội trong hoài niệm của Nguyến Đình Thi vì thế
Trang 9mang vẻ đẹp của tâm trạng Cảnh thu thường gợi lên trong lòng người những phảng phất buồn bởi sự thay đổi âm thầm, dịu ngọt, chầm chậm của hương vị, hoa lá, cỏ cây, của đất trời, ánh sáng Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là do nhà thơ nắm bắt được
những phút giây kì diệu ấy của mùa thu Ở đất nước, Nguyến Đình Thi không chỉ nắm bắt được thần thái của mùa thu Hà Nội, mà có
lẽ mùa thu ấy từ lâu đã là một phần trong tâm hồn nhà thơ
Thơ xưa viết về mùa thu thường gắn với chia li, những cuộc tiễn đưa Thơ thu của Nguyến Đình Thi vô tình có hình ảnh ra đi ấy và
vì thế khiến cảnh thu càng thêm xao xuyến :
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng là rơi đầy
Đến nay, đã có nhiều ý kiến khác nhau về “ người ra đi” trong câu thơ trên Có người cho đó là người Hà Nội mang tâm trạng, cảnh ngộ rời bỏ Thủ đô khi kháng chiến bùng nổ Lại có ý kiến cho
rằng, đó là hình ảnh người lính của Trung đoàn Thủ đô khi rút
khỏi Hà Nội… Thực ra, Trung đoàn Thủ đô rời Hà Nội vào mùa xuân sau hai tháng chiến đấu (1947) và cuộc rút lui ấy diễn ra vào ban đêm, dưới gầm cầu Long Biên Còn nếu gắn việc người Hà Nội ra đi khi kháng chiến bùng nổ càng không đúng vì toàn quốc kháng chiến diễn ra tháng 12 năm 1946 Căn cứ vào cảm xúc và hình tượng thơ có thể khẳng định việc người ra đi ấy diễn ra trước năm 1945 Người ấy có sự dứt khoát về một lựa chọn (đầu không ngoảnh lại ) nhưng trong lòng hẳn nhiều vương vấn, luyến lưu nên
âm điệu thơ bâng khuâng và cảnh ra đi tuy đẹp nhưng buồn và
lặng lẽ : Hình ảnh ấy gần với người ra đi của Thâm Tâm:
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Chí lớn không về bàn tay không
(Tống biệt hành )
Nguyễn Đình Thi từng thổ lộ : Người ra đi này cũng không phải tác giả hoặc một người cụ thể - người ra đi ấy có thể là đi làm cách mạng, hoặc vì một lẽ khác, vì một bi kịch chung hoặc riêng… Dù sao đấy cũng là một người bỏ nơi ở, bỏ nói mình đang quen sống
để ra đi, người ấy có nhiều nông nổi, nhiều tâm trạng, cho nên ra
đi “đầu không ngoảnh lại”, cảnh đẹp vắng vẻ, quyến luyến lặng lẽ
Trang 10Người ra đi ấy có một cảnh ngộ nào đấy ta không biết rõ, nhưng đầu anh ta không ngoảnh lại, anh ta thấy cần phải đi, và những cái anh ta bỏ lại sau lưng, hình như không phải của anh ta nữa (Thư trả lời bạn đọc,ngày 14.12.1983)
Dù gì đi nữa thì khổ thơ trên vẫn là những câu thơ đẹp nhất của bài thơ đất nước Có những người nói đó là “những câu thơ thật mới
mẻ về hình thức, thật mới mẻ về cảm xúc so với thời bấy giờ, và ngay cả bây giờ, nó vẫn nguyên giá trị thơ, như là những giá trị cổ điển vậy” (Tâm Hoàng, Nhân Dân chủ nhật, ngày 11.8.1991)
Từ hoài niệm về mùa thu Hà Nội xưa, tác giả dẫn vào cảm xúc về mùa thu đất nước, trong cảnh hiện tại ở chiến khu Việt Bắc :
Mùa thu nay khác rồi Trong biếc nói cười thiết tha
Bài thơ có sự chuyển đổi về âm điệu, nhịp điệu: những câu thơ
ngắn với những thanh nhịp nhanh, rộn ràng; sự phối hợp âm thanh với vần trắc và thanh trắc (phất phới, áo mới ) Cảnh sắc thiên
nhiên cũng có sự thay đổi Vẫn là mùa thu với bầu trời trong xanh, nhưng tươi sáng, nhiều hoạt động linh hoạt, gió thổi, rừng tre phất phới, trời thu thay áo mới, nói cười thiết tha Tất cả sự thay đổi ấy hoà nhập với tâm trạng con người (đứng vui), thể hiện niềm vui hồ hởi, phấn chấn, tin tưởng, một vẻ đẹp khoẻ mạnh và tươi sáng
Sự tinh tế trong cảm nhận của nhà thơ thể hiện ở những nét riêng biệt của mùa thu mới : âm thanh ngân xa, vang vọng, ánh nắng
như trong sáng hơn và bầu trời cũng cao rộng hơn
Từ cảm xúc về mùa thu đất nước,Nguyến Đình Thi dẫn dắt đến sự bộc bạch tình cảm mến yêu tha thiết và tự hào :
Trời xanh đây là của chúng ta y xưa vọng nói về
Những từ chỉ định (đây) và điệp ngữ (của chúng ta) vang lên dõng dạc, tự hào về quyền làm chủ của đất nước Ngay cả sự liệt kê
(một cách khái quát, bằng những danh từ và tính từ) tiếp tục bổ sung cho niềm tự hào to lớn ây Đặc biệt là hình ảnh bầu trời được Nguyến Đình Thi hết sức chú ý : Trời xanh đây là của chúng ta Hình ảnh ấy vừa chân thực,lại vừa có ý nghĩa tượng trưng cho đất nước, cho tự do, cho những gì cao đẹp nhất của con người Trên cái nền không gian rộng mở, được miêu tả từ nhiều mặt, Nguyến Đình Thi chuyển sang chiều dài thời gian, nói lên đặc điểm, truyền
Trang 11thống và độ sâu lắng của đất nước và con người Việt Nam.
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Thực ra, quá khứ, truyển thống của dân tộc không chỉ có vậy
Nhưng có lẽ, trong hoàn cảnh của cuộc kháng chiến toàn dân lúc bấy giờ, Nguyến Đình Thi tập trung nói về truyền thống bốn nghìn năm kiên cường chống giặc ngoại xâm Câu thơ có sự khái quát rất cao, nhưng lại gợi mở về những lớp người, những thế hệ đã anh dũng hy sinh, sẵn sàng hiến dân cho đất nước
Tất nhiên, cùng với nhiều truyền thống tốt đẹp khác, tinh thần bất khuất của dân tộc hợp thành tiếng nói bền bỉ, liên tục, tiếp sức cho hiện tại :
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
Tiếng nói ấy trở thành hồn thiêng sông núi, tiếp sức, nhắc nhở
người đời sau Nguyến Đình Thi là nhà thơ sớm cảm nhận mối
quan hệ giữa quá khứ và hiện tại Sau ông, nhiều nhà thơ còn tiếp tục khai thác những khía cạnh độc đáo khác nhau về mối quan hệ
ấy Từ Huy Cận :
Cha ông yêu mến thời xưa cũ đường xuân
(Các vị La Hán chùa Tây Phương)
đến Chế Lan Viên (Người đi tìm hình của nước, Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?), Lê Anh Xuân, Thu Bồn… rồi Nguyễn Khoa Điềm ở những năm tháng đánh Mỹ :
Mai này con ta lớn lên Làm nên đất nước muôn đời
(Mặt đường khát vọng)
Phần hai bài thơ tập trung vào một ý lớn : đất nước từ trong đau thương căm hờn đứng lên ngời sáng Mở đầu là một hình ảnh về đất nước trong chiến tranh :
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Câu thơ giàu giá trị tạo hình, gây ấn tượng sâu đậm trong lòng
người đọc bằng hình ảnh đập mạnh vào cảm giác Nhiều người nói, Nguyễn Đình Thi sử dụng thủ pháp ngược sáng (contre soleil) của điện ảnh, trong ánh chiều tà, dây thép gai ở đồn giặc vươn lên
Trang 12tua tủa như đâm vào bầu trời Nguyễn Đình Thi có dịp thổ lộ, ngày
ấy “trên những chặng đường công tác mỗi buổi chiều khi mặt trời sắp tắt, nhìn về những chân trời xa thấy đồn bốt giặc với những lô cốt, những hàng dây thép gai giăng đầy làm cho chân trời bị xé
nát, nham nhở - gây một tức tối căm giận” Nên nhớ rằng, đây là một buổi chiều thu, vốn đẹp và nên thơ Hình ảnh ấy biểu hiện cái nhìn tinh tế và tình cảm chân thật của người viết : chiến tranh tàn phá tất cả, chiến tranh đồng nghĩa với sự huỷ hoại, với cái ác
Không ít nhà thơ cùng thời với Nguyễn Đình Thi cũng đã có
những cái nhìn tinh tế và đau xót ấy :
Có làng trung đoàn ta đi qua Đâu ngờ từ đó bặt tin nhau
(Vũ Cao – Núi đôi, 1956)
Trên cái nền của hiện thực ấy là tâm trạng của người chiến sĩ :
Những đêm dài hành quân nung nấu
5 khổ thơ tiếp tập trung thể hiện suy ngẫm của tác giả về đất nước
từ trong đau thương, căm hờn đã đứng lên chiến đấu bất khuất, sẵn sàng hi sinh như những anh hùng của thời đại mới Tứ thơ phát triển theo hướng suy tưởng nên hình tượng thiên về khái quát,
tượng trưng, với những biểu tượng quen thuộc, bát cơm, nước mắt, xiềng xích, chim, hoa… Nhiều câu thơ nặng diễn dịch ý, mang
tính chính luận Ý thơ dựa vào các mảng cảm xúc, tâm trạng, mảng
nọ đặt cạnh mảng kia để bộc lộ chủ đề, Nguyến Đình Thi không dùng các câu nối, trái lại là những hình ảnh rời làm thành khối
Chúng liên kết được với nhau là nhờ mạch cảm xúc, suy nghĩ của
Trang 13Bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta
…
Đứa đè cổ đứa lột da…
Các câu thơ với hình ảnh tương phản ( xiềng xích / trời, súng đạn / lòng dân) khi trùng điệp, tiếp nối (khói nhà máy, kèn gọi quân,
ngày nắng đốt, đêm mưa dội…) diễn tả những ý tưởng về đất nước được nhà thơ suy ngẫm trong thời gian dài Bây giờ, những ý
tưởng ấy đã trở nên quen thuộc, gần gũi với mọi người, nhưng ở thời kỳ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà mới hình thành, nhất là trong cuộc kháng chiến khốc liệt, đó lại là sự trải nghiệm phải trả giá bằng mồ hôi, nước mắt, thậm chí bằng máu xương của hàng vạn, hàng triệu con người
Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh tượng trưng cho sự đứng dậy hào hùng, chói lọi trong khói lửa chiến đấu, từ đau thương căm hờn của đất nước Bốn câu thơ thể sáu chữ với cách ngắt nhịp đều đặn, dồn dập tạo âm hưởng dõng dạc, hùng tráng Hình ảnh này hình thành từ cảnh thực tác giả đã chứng kiến tại chiến trường Điện
Biên Phủ năm 1954 Nhà thơ giải thích những câu thơ “đã tiếp
nhận được những âm vang mạnh mẽ của chiến trường khi hàng dàn đại bác cùng thi nhau bắn vào đầu giặc Bài thơ đã kết thúc
Trang 14với âm hưởng chiến thắng của chiến trường Điện Biên Phủ”.
Đất nước là bài thơ thành công hơn cả của Nguyễn Đình Thi khi ông viết về những chủ đề lớn hơn Đó cũng là bài thơ hay của nền thơ Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp Tác
phẩm kết hợp được nhiều yếu tố : hình ảnh chân thực và chất suy tưởng, khái quát, cảm xúc, suy ngẫm của cá nhân với tình cảm, tư tưởng của cả dân tộc về đất nước Có lẽ vì thế, trải qua nhiều năm tháng, Đất nước vẫn là tiếng thơ hào sảng trong tâm hồn người Việt Nam
Nguồn từ: VanMau.Com
Trang 15Bình giảng 7 câu thơ đầu bài thơ :"Đất nước" của Nguyễn
Đình Thi
"Sáng mát trong nắng lá rơi đầy".
Thu Hà Nội, hồn thu Thăng Long từng để thương để nhớ vơi đầy trong lòng bao người đã bao lâu nay Một dáng liễu Cổ Ngư, một
tiếng chuông Trấn Vũ, một"mặt gương Tây Hồ", một màu
vàng "hồn thu thảo", một ánh trăng thu Cổ thành tất cả đã "hóa tâm hồn" mỗi chúng ta:
"Trăng ơi đừng bỏ Kinh thành
Hồn cố đô vẫn thanh bình như xưa".
("Trăng Kinh thành")
Thu Hà Nội đẹp, một vẻ đẹp mơ màng, thơ mộng man mác bâng khuâng Thu li biệt Hà Nội trong thơ Nguyễn Đình Thi nửa thế kỉ trước cứ vương vấn mãi hồn ta:
"Sáng mát trong như sáng năm nắng lá rơi đầy"
1 Đoạn thơ gợi lên một nét thu Hà Nội trong tâm hồn "người ra đi" - một khách chinh phu của thời đại mới Cấu trúc đoạn thơ là
từ cảm xúc thu hiện tại mà "nhớ" những ngày thu đã xa, một mùa thu li biệt Kinh thành ngàn năm Hai câu thơ mở đầu bài thơ "Đất nước", Nguyễn Đình Thi xúc động nói lên cái hồn thu đất nước
muôn đời:
"Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới"
Những buổi sáng mùa thu, thu năm xưa cũng như thu hiện tại,
không khí trong lành, bầu trời trong xanh, không một gợn mây,
thoáng đãng, mênh mông, bao la "xanh ngắt mấy từng
cao"(Nguyễn Khuyến) Gió thu nhè nhẹ thổi mát hồn người và
lòng người, ai cũng cảm thấy thảnh thơi, nhẹ nhàng, lâng lâng Chỉ
2 chữ "mát trong" mà nhà thơ đã nhận diện vẻ đẹp của sắc thu, khí
thu và hồn thu muôn đời của đất nước Câu thơ thứ nhất là một so
sánh rất gợi: "Sáng mát trong như sáng năm xưa" Đất nước trải
qua những năm dài chiến tranh, bao mùa thu đã trôi qua, nhưng đất
nước vào thu vẫn "mát trong", vẫn đẹp như thế ! Đất nước bền
vững muôn đời nên thu vẫn đẹp muôn đời
Câu thơ thứ hai nói lên hương thu của đất nước: "hương cốm mới"
Trang 16Gió thu thổi qua những cánh đồng, mang theo hương "lúa nếp
thơm nồng", "hương cốm mới" phả vào lòng người, ủ ấp hồn người
cái hương vị quyến rũ, đậm đà của quê hương xứ sở Câu thơ cho thấy chất tài hoa, chất Hà Nội trong hồn thơ Nguyễn Đình Thi Có
lẽ lần đầu tiên "hương cốm mới" hiện diện trong thơ ? Trong văn
xuôi, Thạch Lam và Vũ Bằng đã viết rất thơ về cốm Vòng Hà Nội
Cốm là "thức quà riêng của đất nước", là "thức quà thanh nhã và tinh khiết" Trong cốm có "cái mùi thơm phức của lúa mới, của hoa cỏ dại ven bờ; trong màu xanh của cốm, cái tươi mát của lá non, và trong chất ngọt của cốm, cái dịu dàng thanh đạm của loài thảo mộc" ("Hà Nội 36 phố phường", 1943, Thạch Lam)
Với Vũ Bằng, trong những năm dài đất nước bị chia cắt, cùng với nỗi buồn của kẻ xa xứ là nỗi buồn nhớ Bắc Việt, nhớ Hà Nội - quê
mẹ mến yêu Suốt đêm ngày năm tháng, nỗi thương nhớ như trải
dài, như dồn tụ lại thành "Thương nhớ mười hai" Mùa thu chớm đến, ông ao ước"Không biết đến bao giờ mới lại được nghe thấy hơi may về với hoa vàng" ? Ông khắc khoải tự hỏi: "Mà ở đâu đây
có cái hương thơm gì mà dìu dịu thế ?" Ông nhớ khôn
nguôi "hương lúa ba giăng" Ông nhớ day dứt cái vị "thơm ngọt ngào mùi chuối trứng cuốc ngon lừ !" Quân thù nào có thể chia
cắt được đất nước, có thể làm vơi cạn, khô kiệt được nỗi nhớ ấy ?
Qua đó, ta cảm nhận được "hương cốm mới" trên trang văn của
Thạch Lam, của Vũ Bằng, trong thơ Nguyễn Đình Thi là nét đẹp của mùa thu đất nước, là hồn thu Thăng Long - Hà Nội mến yêu
2 Ba câu thơ tiếp theo nhắc lại nỗi nhớ "những ngày thu đã xa", buổi đầu thu "trong lòng Hà Nội" Cảm xúc dồn nén, hoài niệm
rung lên như dây tơ của cây nguyệt cầm với bao man mác:
"Tôi nhớ những ngày thu đã xa
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may"
"Những ngày thu đã xa"là những ngày thu giã biệt Hà Nội, ra đi vì
nghĩa lớn, vì đất nước và dân tộc thân yêu Cuộc giã biệt ấy đã để
lại trong lòng nhà thơ bao nỗi nhớ "Nhớ" cái "chớm lạnh"buổi đầu thu, cái lạnh se sắt của gió thu hiu hiu Hai chữ "chớm lạnh" buổi đầu thu, cái lạnh se sắt của gió thu hiu hiu Hai chữ "chớm
Trang 17lạnh" rất tinh tế trong gợi tả và biểu cảm, vừa diễn tả cái lành lạnh
những buổi sáng sớm đầu thu, vừa thể hiện chất xúc giác trong
cảm nhận Trong hơi may lành lạnh còn có âm thanh "xao xác" của
lá thu bay trong gió, nhẹ cuốn trên hè phố, trong lòng đường
của "những phố dài" Hà Nội Từ láy "xao xác" là tiếng thu, của lá
vàng rơi, của những nhánh cây khẽ rùng mình trong hơi
may "chớm lạnh" mà thi sĩ Xuân Diệu đã từng xúc động:
"Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh"
("Đây mùa thu tới")
Thu xưa trong thơ, mùa thu Hà Nội thấm bao nỗi buồn man mác,
bâng khuâng Thoáng buồn trong "xao xác hơi may" của lá thu
bay, của "mái buồn nghe sấu rụng" (Chính Hữu) Chỉ bằng một
vài nét vẽ, một vài chi tiết nghệ thuật về những ngày thu Hà
Nội "những ngày thu đã xa", trong đó có cái "chớm lạnh" của hơi may cảm được, có cái "xao xác" của lá thu bay nghe được, Nguyễn
Đình Thi đã để lại trong lòng mỗi chúng ta cái hồn thu Kinh thành văn hiến ngàn năm Phải là người tài hoa, mang tình yêu sâu nặng đối với Hà Nội mới viết được những vần thơ hàm súc, đẹp mà
buồn như thế Đoạn thơ ấy đã được khơi nguồn cảm hứng từ bài
thơ "Sáng mát trong như sáng năm xưa"(1948), hoài niệm trào
dâng, đồng hiện trong một không gian nghệ thuật và thời gian
nghệ thuật đầy ấn tượng:"Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em
Gió thổi mùa thu vào Hà Nội
Phố dài xao xác hơi may
Nắng soi ngõ vắng
Thềm cũ lối ra đi lá rụng đầy".
3 Hai câu cuối đoạn thơ thể hiện tâm trạng người ra đi từ ngày thu
ấy Giọng thơ lẳng lặng buồn:
"Người ra đi đầu không ngoảnh lại nắng lá rơi đầy".
"Người ra đi"theo tiếng gọi của Non Sông, "lên chiến
khu"? "Người ra đi mang theo bao kỷ niệm sâu sắc về mùa thu Hà Nội." "Hương cốm mới", cái "chớm lạnh" trong "hơi may" buổi đầu thu, cái "xao xác" của lá me, lá sấu bay trong "những phố
dài" Hà Nội đã trở thành hành trang, đã trở thành kỉ niệm sâu sắc,
Trang 18thân thiết "Người ra đi" ôm "chí nhớn" của một "li khách"với
quyết tâm "đầu không ngoảnh lại" ! Câu thơ "Sau lưng thềm nắng
lá rơi đầy" là một câu thơ thật hay Có màu vàng nhạt của nắng thu, có sắc vàng tươi của lá thu đã "rơi đầy", đã trải dài trải rộng
trên thềm phố Câu thơ chứa đầy tâm trạng Tác giả đã lấy ngoại cảnh, lấy nắng thu, lá thu để gợi tả tình lưu luyến Ra đi với quyết
tâm "đầu không ngoảnh lại" nhưng vẫn cảm nhận được "Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy" với bao tình lưu luyến, nhớ thương Vì thế, trải qua bao năm tháng, bao mùa thu trôi qua, đến "mùa thu
nay ", "tôi đứng vui nghe giữa núi đồi" mà vẫn bâng
khuâng "nhớ những ngày thu đã xa" Nhớ thu xa cũng là nhớ Hà
Nội, nhớ ngày giã biệt ra đi Mọi cuộc lên đường đều đáng nhớ Quên sao được Đông Đô - Thăng Long - Hà Nội mến yêu ! Quên
sao được Hồ Tây, Hồ Gươm, chợ Đồng Xuân, Ô Chợ Dừa "đi học về qua luôn hát vui ca" Người chiến sĩ từ mọi chiến trường
mà nhớ về Hà Nội với tất cả niềm yêu thương tự hào:
- "Từ thuở mang gươm đi giữ nước
Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long"(Huỳnh Văn Nghệ)
- "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm".(Quang Dũng)
- "Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa
Cả Đô thành nghi ngút cháy sau lưng "(Chính Hữu)
Đoạn thơ trên đây là phần đầu bài "Đất nước", một bài thơ đặc sắc
nhất của Nguyễn Đình Thi Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của tác giả Cảm xúc dồn nén, hình ảnh và ngôn ngữ tinh tế, hình tượng và biểu cảm Các chi tiết nghệ thuật rất gợi khi
nói về thu Hà Nội Mùa thu "ra di", mùa thu giã biệt Nét thu Hà
Nội đẹp mà buồn, man mác trong hoài niệm cũng là hồn thu muôn
đời của đất nước Một cái "chớm lạnh" đầu thu Một cái "xao
xác" của lá thu rơi, một mùi "hương cốm mới" được làn gió thu
mang theo và tỏa rộng trong không gian, thấm sâu vào hồn người Một màu vàng tươi, vàng nhạt của nắng, của là thu rơi đầy thềm làm ta vương vấn mãi
Thơ đích thực làm phong phú, thanh cao tâm hồn Đoạn thơ của Nguyễn Đình Thi đem đến cho ta một tình yêu đẹp: yêu Hà Nội mến yêu !
Trang 19Bình giảng một đoạn thơ trong bài "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi
"Mùa thu nay khác rồi vọng nói về".
Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đích thực tài hoa và giàu sáng tạo Trên các lĩnh vực văn xuôi, thơ, nhạc, kịch bản văn học,
lí luận phê bình, ông đều có thành tựu đáng tự hào Thơ Nguyễn Đình Thi có bản sắc riêng, có những tìm tòi về hình ảnh và ngôn
từ Thơ ông giàu cảm xúc khi viết về đất nước trong chiến tranh
Bài thơ "Đất nước" trích trong tập thơ "Người chiến sĩ", nó được
thai nghén và hình thành trong một thời gian khá dài từ năm
1948-1955 Từ thực tiễn lịch sử và sự sống còn của dân tộc, nhà thơ suy ngẫm về đất nước
Đây là một trong những bài thơ hay nhất viết về cảm hứng quê hương đất nước của nền thơ ca Việt Nam hiện đại
Biểu lộ niềm vui phơi phới của người chiến sĩ cầm súng đánh giặc bảo vệ quê hương, lòng yêu thương tự hào đất nước về cảnh sắc thiên nhiên, về truyền thống anh hùng của dân tộc, Nguyễn Đình Thi đã viết:
"Mùa thu nay khác rồi
Những buổi ngày xưa vọng nói về".
Cảm hứng yêu nước, tự hào dâng lên dào dạt trong tâm hồn nhà
thơ, trong tâm hồn những người chiến sĩ "đã đứng lên thành
những anh hùng" Người chiến sĩ đã ra đi từ mùa thu ấy , khi"Cả
đô thành nghi ngút cháy sau lưng" (Chính Hữu), giã từ phố cũ
thân yêu, dấn thân vào lửa máu
Đối lập với "những ngày thu đã xa" đẹp mà buồn, là "Mùa thu nay khác rồi" Nhà thơ reo lên sung sướng tự hào, một niềm vui phơi
phới dâng trào Đứng giữa núi đồi chiến khu, say mê ngắm đất
trời Thiên nhiên bao la tươi đẹp như xôn xao niềm vui với con
người Bốn chữ "tôi đứng vui nghe" thể hiện một tư thế, một dáng
đứng kiêu hãnh tuyệt đẹp Con người chan hòa cùng cây cỏ và say đắm trong màu sắc quê hương Ngọn gió mát lành mùa thu
quyện "hương cốm mới" như hát cùng đất nước Hình ảnh "rừng
Trang 20tre phấp phới" diễn tả thật hay sức sống mãnh liệt của đất trời quê
hương:
"Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới ".
Mùa thu lại về với đất nước và con người trong sắc màu tươi
sáng: "Mùa thu thay áo mới - Trong biếc nói cười thiết tha" Bao
trùm đất nước là cả một không gian bao la, một thiên nhiên đẹp hữu tình được nhân hóa, gắn bó hòa hợp với con người Con người kháng chiến với khát vọng tự do, nên tầm nhìn cũng cao xa, mênh mông Có lẽ vì thế, nhà thơ đặc biệt chú ý đến bầu trời Năm lần nhà thơ nói đến bầu trời, mỗi lần có một cách nói, cách cảm nhận đầy khám phá:
- "Trời thu thay áo mới".
- "Trời xanh đây là của chúng ta".
- "Trời đầy chim và đất đầy hoa".
- "Dây thép gai đâm nát trời chiều".
- "Trán cháy rực nghĩ trời đất mới".
Cái khác của mùa thu nay được diễn tả qua vần điệu náo nức, xôn
xao, được đặc tả qua hình ảnh sống động, tươi mát: "Gió thổi rừng tre phấp phới", được thể hiện ở ánh mắt, nụ cười:"Trong biếc nói cười thiết tha" "Biếc" ở trời xanh, "biếc" ở con mắt những chàng
trai, cô gái đang say mê ngắm trời thu thời máu lửa
Nguyên nhân của niềm vui ấy thật sâu xa, rộng lớn Cách mạng thành công, nhân dân đã và đang đem tài năng và xương máu để giữ gìn và xây dựng đất nước Đất nước là của nhân dân Nguyễn Đình Thi như reo lên, hát lên niềm hạnh phúc tột cùng của những con người đang làm chủ đất nước:
"Trời xanh đây là của chúng ta,
,
Những dòng sông đỏ nặng phù sa".
Một lối nói khẳng định: "của chúng ta" vang lên đĩnh đạc, tự hào
Một dân tộc đã gan góc đứng lên đánh Pháp mới có tiếng nói hào hùng ấy Tất cả những gì cao quý, thiêng liêng trên đất nước thân
yêu này là "của chúng ta", của nhân dân chúng ta Sau những đêm
Trang 21dài nô lệ, nước nhà độc lập, nhân dân ta mới có niềm vui tự hào mênh mông ấy Khát vọng làm chủ đất nước với tất cả niềm tự hào
là của bao thế hệ con người Việt Nam trong suốt bốn nghìn năm
lịch sử:"Của ta, trời đất, đêm ngày - Núi kia đồi nọ, sông này của
ta !" ("Hoan hô chiến sĩ Điện Biên" - Tố Hữu) Với nghệ thuật
diễn tả trùng điệp, với cách liệt kê, sử dụng điệp từ điệp ngữ (của chúng ta, đây là những) tác giả đã tạo nên giọng thơ lôi cuốn,
hấp dẫn mang âm điệu anh hùng ca
Dáng hình đất nước trong thơ Nguyễn Đình Thi hiện lên sống
động qua những vần thơ tráng lệ Nhà thơ như đang ngước mắt và
chỉ tay về "trời xanh" và "núi rừng", mà reo lên sung sướng Có
tình yêu nào lớn hơn tình yêu đất nước ? Đất nước bao la, hùng vĩ với trời cao, biển rộng, sông dài, trở nên thân thiết, thiêng liêng Đất nước với những cánh đồng quê mênh mông thẳng cánh cò
bay, "thơm mát" hương lúa bốn mùa Đất nước với những nẻo
đường tự do, những dặm đường kháng chiến "bát ngát" đến mọi
chân trời Đất nước với những dòng sông - sông Hồng, sông Đà,
sông Lô, sông Mã, Cửu Long Giang, "đỏ nặng phù sa", bồi đắp
nên những cánh đồng màu mỡ, nuôi sống nhân dân ta tự bao đời
nay Các tính từ: "Xanh", "thơm mát", "bát ngát", "đỏ nặng", cực
tả vẻ đẹp và sự bền vững đất nước, đồng thời cho thấy ngòi bút thơ tài hoa, điêu luyện của Nguyễn Đình Thi trong lựa chọn ngôn từ để hình tượng hóa vần thơ, tạo nên sắc điệu trữ tình đằm thắm
"Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi" (Tố Hữu) Cảm xúc dào dạt ấy về đất
nước cứ ngân nga mãi trong lòng chúng ta khi tiếp cận và cảm thụ
những vần thơ của tác giả "Người chiến sĩ" nói về dáng hình đất
"Nước chúng ta
Những buổi ngày xưa vọng nói về".
Trang 22Ba chữ "nước chúng ta" là sự khẳng định ý chí tự cường, niềm tự
tôn dân tộc Đất nước và dân tộc với lưỡi cày, thanh gươm và
chiếc gộc tre "chưa bao giờ chịu khuất" "Những buồi ngày
xưa" mà nhà thơ nhắc đến là những năm tháng đau thương và vinh
quang của giống nòi Quên sao được ngày Bà Trưng, Bà Triệu
xuất quân, khi Lý Thường Kiệt viết "Nam quốc sơn hà" trên chiến
tuyến sông Cầu - Như Nguyệt, khi Trần Quốc Tuấn bắt sống Ô Mã Nhi trên Bạch Đằng Giang, khi Liễu Thăng bị quân ta chém đầu tại Chi Lăng, khi Tôn Sĩ Nghị quăng cả ấn tín, triều phục chạy
tháo thân qua biên giới, Nhân dân mãi mãi tự hào về "những
buổi ngày xưa" ấy: "Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn.
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào Cửa Bắc,
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng".
("Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng" - Chế Lan Viên)
Hai chữ "đêm đêm" nói lên tính liên tục dòng chảy lịch sử bốn
nghìn năm của dân tộc Từ láy "rì rầm" như một nốt nhạc trầm
hùng vang xa trong bài ca Tổ quốc, nó gợi tả cái mạch ngầm của giang sơn, giống nòi, đó là truyền thống anh hùng bất khuất chống xâm lăng Biên độ câu thơ mở, khép tài tình, lúc rút ngắn lại 3 từ, lúc duỗi dài ra 8 từ, các câu lục ngôn, thất ngôn đan chéo vào
nhau, cài chặt vào nhau làm nên tính nhạc phong phú Cảm xúc dào dạt, âm hưởng hào hùng, ngôn ngữ đẹp và tinh tế Song song với chuỗi hình ảnh về dáng hình đất nước là sự phát triển của
chuỗi liên tưởng về quá khứ hào hùng, về sức mạnh Việt Nam
Đoạn thơ trên đây tiêu biểu cho vẻ đẹp và cốt cách thơ Nguyễn Đình Thi Một hồn thơ tài hoa, bay bổng Một tình yêu nước sâu nặng và thiết tha Một đất nước đẹp tươi, hùng vĩ, giàu tiềm năng
và tiềm lực, một dân tộc anh hùng được nhà thơ nói đến và ca
ngợi Chiều dài của lịch sử, tầm cao của dân tộc, thế đứng bất
khuất của con người Việt Nam là những điều tốt đẹp nhất được thể hiện qua đoạn thơ này mà ta cảm nhận được một cách sâu
sắc "Đất nước", bài thơ làm rung động tâm hồn chúng ta ,
như "lắng hồn núi sông ngàn năm ".
Trang 23Bình giảng một đoạn thơ trong bài thơ "Đất nước" của
Nguyễn Đình Thi
"Ôi những cánh đồng quê nhớ mắt người yêu".
Có những vần thơ xao xuyến bồi hồi Có những vần thơ ngọt ngào say đắm Lại có những vần thơ đĩnh đạc, hào hùng Còn có lúc, ta
bị ám ảnh khôn nguôi trước những vần thơ yêu thương và căm
giận:
"Ôi những cánh đồng quê chảy máu,
nhớ mắt người yêu".("Đất nước" - Nguyễn Đình Thi)
"Đất nước"là bài thơ sáng giá nhất của Nguyễn Đình Thi viết
trong kháng chiến chống Pháp, cũng là bài thơ kiệt tác viết về đề tài quê hương đất nước của nền thơ ca Việt Nam hiện đại Nó đã được tác giả thai nghén và hình thành trong một quá trình lịch sử
khá dài (1948-1955) Các áng thơ "Đêm mít tinh", "Sáng mát
trong như sáng năm xưa" - đã khơi nguồn cảm hứng để Nguyễn
Đình Thi khám phá và thể hiện tuyệt đẹp tình yêu nước một cách nồng nàn, say đắm
"Đất nước"như một phức điệu đa thanh nói về cảm xúc mùa thu
quê hương xưa và nay Là tiếng nói say mê về cảnh sắc thiên
nhiên tươi đẹp, hùng vĩ, là niềm tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc anh hùng Nó là tiếng nói xót xa, căm giận quân xâm lược đang giày xéo đất nước thân yêu Phần cuối bài thơ biểu lộ niềm kiêu hãnh của người chiến sĩ trước tư thế chiến đấu và chiến
thắng lẫm liệt hiên ngang "rũ bùn đứng dậy sáng lòa !" của đất nước Đoạn thơ 4 câu trên đây trích trong phần thứ ba của bài "Đất nước".
Nhà thơ - người chiến sĩ - như đang nắm chắc tay súng "lắng hồn núi sông ngàn năm", lắng nghe những âm vang của lịch sử, giống nòi "rì rầm trong tiếng đất" tự nghìn xưa "vọng nói về": những
Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa bất tử ! Từ quá khưa nghìn xưa trở về hiện tại, câu thơ vút lên nghẹn ngào, đau đớn:
"Ôi những cánh đồng quê chảy máu".
Cảnh tượng đau thương mà nhà thơ nói đến là mùa thu 1948, khi cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân ta đang diễn
ra vô cùng ác liệt ! Nhiều đô thị, nhiều vùng nông thôn rộng lớn
Trang 24của đất nước ta đang bị giặc Pháp chiếm đóng và giày xéo "Đương làng bao xương máu tơi bời - Vườn không nhà trống tàn
hoang" ("Làng tôi" - Văn Cao) "Những cánh đồng quê chảy
máu" - hình ảnh hóan dụ tượng trưng cho đất nước thân yêu,
những làng xóm thân thuộc đang bị quân thù càn quét, bắt giết dã man Máu những người nông dân hiền lành đã chảy ngập đường thôn, luống cày dưới làn bom đạn của lũ cướp nước Xưa kia
thuở thanh bình, đất nước là "những cánh đồng thơm mát ",
"xanh xanh bãi mía bờ dâu ", thì kể từ khi "súng giặc đất rền", đã trở nên tang thương, điêu tàn với "những cánh đồng quê chảy
máu" Nhân dân ta bị giặc Pháp tàn sát dã man Hai chữ "chảy
máu" lên án tội ác và chính sách tam quang của quân cướp nước:
giết sạch, cướp sạch, đốt phá sạch ! Từ "Ôi" cảm thán diễn tả nỗi
lòng đau đớn, xót xa không thể nào kể xiết !
Từ cái nhìn toàn cảnh về không gian đau thương, về "những cánh đồng quê chảy máu", nhà thơ đứng lặng nhìn về các phía chân trời
Một nét vẽ thậm xưng, độc đáo, rất sáng tạo:
"Dây thép gai đâm nát trời chiều".
Quân giặc tàn bạo ra sức bắn giết, càn quét, chiếm đất, dồn dân
Đồn giặc như nấm độc mọc lên khắp mọi nơi "Dây thép
gai" cũng là một hình ảnh hóan dụ nói về bốt đồn giặc, sự chiếm
đóng dã man của quân cướp nước Những núi thép gai, những
hàng rào dây thép gai tua tủa nhọn hoắt bao bọc xung quanh đồn giặc không chỉ nhằm chống đỡ những trận tấn công vũ bão của
quân đội ta, mà còn "đâm nát trời chiều" Một cách nói thậm
xưng đầy ấn tượng về tội ác và âm mưu cướp nước của giặc
Pháp "Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên" là những chiều thôn trang êm đềm có "cánh cò trắng vẫy mênh mông", có "tiếng
ốc xa đưa vẳng trống đồn", có tiếng sáo mục đồng dẫn trâu về
thôn Nhưng nay còn đâu nữa ? Cảnh trời chiều quê hương đã và
đang bị dây thép gai đồn giặc "đâm nát" Nỗi đau từ đất trời như đangcứu nát, đâm nát lòng người !
Ở phần đầu bài thơ, Nguyễn Đình Thi nói về cảnh sắc thiên nhiên
tươi đẹp và hùng vĩ của đất nước với trời xanh, núi xanh, những cánh đồng quê thơm mát, những ngả đường bát ngát, những
Trang 25dòng sông đỏ nặng phù sa - và tất cả đều "của chúng ta" Nhưng
từ khi giặc tràn tới, đồng quê thì "chảy máu", trời chiều thôn
trang thì bị dây thép gai "đâm nát", biết bao đau đớn, căm hờn !
Tác giả "Đất nước" tạo nên sự đối lập, tương phản đầy ấn
tượng: xưavà nay, thanh bình với chiến tranh, hữu tình nên thơ với điêu tàn, tang tóc - để lên án tội ác dã man của giặc Pháp mà
trời không thể dung tha, người người đều căm giận ! Sự kết hợp tài
tình các biện pháp tu từ hoán dụ, cảm thán, thậm xưng, và tương phản đã tạo nên vần thơ giàu hình tượng và biểu cảm Qua đó, ta cảm nhận được cốt cách thi sĩ của Nguyễn Đình Thi: hồn thơ đẹp, tài hoa, cảm xúc dồn nén, ngôn từ xác thực, hình tượng sáng tạo Nhà thơ đã dẫn hồn người đọc sống và cảm với hiện thực đất
nước một thời khói lửa, mở rộng cho ta một trường liên tưởng về không gian nghệ thuật để mọi người cùng suy ngẫm về dòng chảy
lịch sử và hành trình bi tráng của dân tộc Và đó cũng là cái giá của độc lập tự do để ta nhớ và tự hào !
Gần 150 năm về trước, trong bài thơ "Chạy giặc", Nguyễn Đình
Chiểu đã căm giận lên án quân xâm lược:
"Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
( ) Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây ".
Có biết bao câu thơ xúc động làm sôi sục lòng người những năm
tháng đất nước "ra trận":
"Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
("Bên kia sông Đuống" - Hoàng Cầm)
Đó là những vần thơ một thời tạc vào thời gian và lòng người để ta nhớ mãi
Câu thơ thứ ba nói lên tâm trạng người chiến sĩ ra trận:
"Những đêm dài hành quân nung nấu".
Trang 26Câu 1 nói về "những cánh đồng quê chảy máu", câu ba tứ thơ chỉ
rõ "Những đêm dài hành quân nung nấu", từ không gian đau
thương mở ra thời gian căm giận, không chỉ một đêm, năm mười
đêm mà là "những đêm dài" Cấu trúc song hành, điệp lại 2 lần
chữ "những", chữ "nấu" vần với chữ "máu" (vần chân) đã tạo
nên giai điệu, nhạc điều trầm hùng đang nung nấu tâm hồn người
chiến sĩ xung kích trên đường hành quân ra trận "Nung nấu" vì
căm thù dữ dội Lòng súng nóng bỏng, lưỡi lê nhọn hoắt căm thù ! Mối thù đối với giặc Pháp cướp nước nung nấu, ngùn ngụt bốc lửa, sôi sục trong lòng, không chỉ trong một thời gian hữu hạn mà kéo
dài trong thời gian vô hạn "Những đêm dài hành quân nung nấu" Hai chữ "nung nấu"biểu hiện sâu sắc tình yêu nước của "những người áo vải - Đã đứng lên thành những anh hùng !".
Càng nung nấu quân xâm lược bao nhiêu thì càng yêu quê hương đất nước bấy nhiêu Người lính ra trận nung nấu, sôi sục căm thù
giặc khi nhìn thấy đất nước tang tóc, điêu tàn "những cánh đồng quê chảy máu ", nhìn thấy "những bóng thù hắc ám", những đồn giặc mọc lên với bao "dây thép gai đâm nát trời chiều" Câu thơ
thứ tư tiếp theo là một nét vẽ, nét khắc chiều sâu tâm hồn người chiến sĩ ra trận; nhiều khám phá và sáng tạo:
"Bỗng bốn chồn nhớ mắt người yêu".
"Nung nấu"căm thù và "bồn chồn nhớ" là hai nét biểu hiện của
một tâm trạng, làm nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của anh
Vệ quốc quân thời kháng chiến 9 năm đánh Pháp Anh ra trận với
sức mạnh căm thù giặc, với tình yêu nước thương dân, với bao nỗi nhớ Nhớ luống cày mái rạ, nhớ bãi mía nương dâu, nhớ giếng nước gốc đa, nhớ"người tình chung" "nhớmắt người yêu" "Mắt người yêu" cũng là một hình ảnh hoán dụ rất đắt diễn tả hình
bóng quê hương, vẻ đẹp duyên dáng "người tình chung" sau lũy tre
làng mà anh nhớ lắm:
"Vầng trán em mang trời quê hương
Mắt em như giếng nước thôn làng
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em đã bao ngày em nhớ thương ? "
("Mắt người Sơn Tây" - Quang Dũng)
Trang 27"Nhớ mắt người yêu"với bao kỉ niệm đẹp một thời trai trẻ "Xa em năm nhớ - gần em mười thương" Chàng trai cày ngày xưa nhớ quê nhà là nhớ hương vị đậm đà "bát canh rau muống, quả cà giòn
tan", là "nhớ ai tát nước bên đường hôn nao" Anh bộ đội Cụ Hồ giã từ nơi chôn nhau cắt rốn, nơi "nước mặn đồng chua", nơi "đất cày lên sỏi đá", có người nhớ thầm: "Bầm ra ruộng cấy bầm run - Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non" Có người nhớ "người vợ trẻ - mòn chân bên cối gạo canh khuya" Chàng lính trẻ hào hoa trong đoàn binh Tây Tiến thì lại "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm" Có trăm nghìn nỗi nhớ quê, nhớ nhà, nhớ người thân thương:"Anh
bỗng nhớ em như đông về nhớ rét - Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng" (Chế Lan Viên), v.v
Trở lại câu thơ "bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu", hai chữ "bồn chồn" nghĩa là nóng ruột, không yên tâm (Từ điển tiếng Việt); diễn
tả nỗi nhớ xôn xao, rung động, dâng lên như những đợt sóng vỗ
mãi trong lòng Đã có nỗi nhớ "bổi hồi bồi hồi" Đã có sự vấn
vương "không yên một bề" Đã có tâm tình khao khát "nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai " Câu thơ "Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu" là một nét vẽ rất đẹp thể hiện bút pháp tài hoa của Nguyễn Đình Thi "Nhớ"là cảm hứng nhiều màu sắc và dáng vẻ đã làm nên
những câu thơ hay, những vần thơ đẹp của Nguyễn Đình Thi trong
tập thơ "Người chiến sĩ":
"Anh yêu em như anh yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần
Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước
Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn"
(Nhớ)
Trong cái chung nhớ nước, nhớ "nguồn thiêng ông cha" (Hữu
Loan), lại có cái riêng "bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu" Có nỗi hờn "nung nấu", có nỗi nhớ "bồn chồn" nên mới có sức mạnh
chiến đấu và niềm tin thắng trận: "Anh lại tìm em - Em mặt yếm thắm - Em thắt lụa hồng - Em đi trẩy hội non sông - Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh" (Hoàng Cầm).
Tình cảm là cái gốc của thơ ca, là ngọn nguồn sáng tạo của thơ ca Thơ chỉ đẹp khi thơ ca hút màu mỡ, phù sa trong lòng đất - hiện
Trang 28thực cuộc sống - mà nảy mầm xanh tươi, đơm hoa kết trái dâng hương thơm, vị ngọt cho đời Đoạn thơ của Nguyễn Đình Thi như một bông hoa đẹp trong cành hoa đẹp đã mang hơi thở nóng hổi của thời đại, mang tình yêu mãnh liệt của đất nước và con người Việt Nam trong ba ngàn ngày khói lửa.
Đọc đoạn thơ trên, ta cảm nhận được phần nào vẻ đẹp của phong cách nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi, một hồn thơ giàu cá tính sáng tạo Hiện thực chiến tranh: đất nước điêu tàn, dân tộc đau
thương trong bom đạn quân thù đã được diễn tả một cách tuyệt vời qua những vần thơ hàm súc, biểu cảm và giàu hình tượng
"Cánh đồng quê chảy máu", "Giây thép gai đâm nát trời chiều" là những hình ảnh thơ mới mẻ, độc đáo và hay "Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu" là một hình ảnh mang tính kế thừa sáng tạo, thể
hiện một hồn thơ chiến sĩ cho ta nhiều rung cảm thấm thía
Đọc "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi, tâm hồn ta được bồi đắp
bao tình cảm đẹp trở nên trong sáng và phong phú, để ta yêu, để ta nhớ, ta sống lại và tự hào về những năm tháng hào hùng và oanh liệt với ngọn lửa Điện Biên thần kì của đất nước và dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh
Trang 29Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân.
Đọc Vợ nhặt của Kim Lân tôi lại nhớ đến “Một đám cưới nghèo” của Nam Cao với những
bóng đen lầm lũi đi trong màn sương chiều nhập nhoạng Cái đói, cái nghèo ấy sao đầy kinh
hoàng và u ám đến thế Chính cái đói, cái nghèo đó tạo nên cho Vợ nhặt một tình huống hết sức
độc đáo và hấp dẫn Và vì thế, Kim Lân đã đóng góp một truyện ngắn vào loại hay nhất trong văn
học Việt Nam hiện đại
Ngay từ tựa đề của tác phẩm cũng gợi lên sự chua xót, miả mai, một nỗi đau không thể nói
thành lời “Nhặt vợ”, một hành động nghe sao đơn giản và dễ dàng đến như vậy? Điều đó hoàn
toàn trái ngược với quan niệm của dân gian:
Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà
Trong ba việc ấy thật là khó thay
Vậy mà ở đây Tràng đã nhặt được vợ hẳn hoi, trong cơn đói khủng khiếp mà có lẽ “đến
năm 2000 con cháu chúng ta vẫn kể cho nhau nghe để rùng mình” đang hoành hành Cái lạ
thường, kì dị của hành động đã tạo nên một tình huống vô cùng độc đáo mang ý nghĩa chi phối
toàn bộ tác phẩm
Đã từ lâu, dân làng cái xóm ngụ cư này đã quá quen với hình ảnh vập vạp, thô kệch của Tràng với
cái cười “hềnh hệch” vô hồn lúc nào cũng nở trên môi, Tràng
nghèo túng, xấu xí hơn cả những
con người tồi tàn, bèo bọt ở cái xóm làng thì làm gì có thể lấy
Trang 30được vợ? Thế nhưng hôm nay, bên
cạnh cái lưng to rộng như lưng gấu của hắn lại có cả một người đàn bà rón rén và e thẹn Điều đó
gợi nên sự kinh ngạc cho cả xóm Sự tò mò, xoi mói cứ lan dần theo từng bước đi của Tràng và
người đàn bà trên con đường xao xác, heo hút Mọi người cứ xì xầm bàn tán “Ai đấy nhỉ ! Hay là
người nhà bà cụ Tứ mới lên?” “Chả phải, từ ngày còn mồ ma ông
cụ Tứ có thấy họ mạc nào lên
thăm đâu?” thỉnh thoảng lại “rung rúc” vang lên tiếng cười đầy ghê rợn như tiếng cú báo hiệu tai
ương và chết chóc vọng mãi theo đôi uyên ương về cuối xóm Mặc cho những lời bàn tán, Tràng
vẫn lầm lũi bước dưới những gốc gạo sù sì có “bóng những người đói đi lặng lẽ như những bóng
ma thay cho khách” và tiếng quạ gào lên thê thiết từng hồi thay cho pháo cưới Câu chuyện chìm
trong nặng nề và sợ hãi, đầy những cảnh ma quái, đen tối Cái đói
Trang 31Tình huống càng bất ngờ đến hài hước khi chính Tràng cũng vẫn còn “ngỡ ngàng” “Ngồi
ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải
Ra hắn đã có vợ đấy ư?” Mọi
chuyện xảy ra quá bất ngờ, dường như chỉ là cơn mơ Người đàn
bà chỉ gặp mới hai lần lại trở
thành vợ hắn Mà thật ra, hắn cũng không có ý định gì với thị…Thị liều lĩnh đến với hắn chỉ bằng
một câu nói suông Thị theo hắn như phó mặc cho số phận Cái đói
đã đẩy họ đến với nhau
Trong cái thời tao đoạn ấy, việc Tràng lấy vợ quả là một tình
huống oái oăm Ta sẽ mừng
hay lo, buồn hay vui cho cặp vợ chồng này? Tâm trạng của những nhân vật trong câu chuyện chứa
đầy những cảm xúc ngổn ngang và mâu thuẫn Bà cụ Tứ vui vì cuối cùng con mình cũng có vợ
nhưng lại tủi vì sự trớ trên của số phận : có phải thời “tao đoạn” như thế, người ta mới chịu lấy
con mình? Bà mẹ nghèo nặng trĩu những lo âu cho tương lai của con mình, “liệu chúng nó có nuôi
nhau nổi sống qua được cơn đói khát này không?” Câu hỏi từ tận đáy lòng của bà mẹ “chất chứa
nỗi hoang mang, ám ảnh của kiếp bần hàn không lối thoát và cả sự rình rập trước ngõ của cơn ác
mộng về cái đói chưa bao giờ dữ dội đến thế” Trong lòng bà, ta cảm thấy cả nỗi buồn của một
người mẹ không được thấy con trong ngày vui, không được một vài mâm làm lễ gia tiên Trong
lời nghẹn ngoài tâm sự của bà có cả sự xót xa, một chút ân hận vì
đã không làm được đầy đủ bổn
Trang 32phận của một người mẹ đối với con.
Tâm trạng của Tràng cũng biến đổi liên tục từ khi thị quyết định theo hắn về nhà Tình
huống nhặt vợ mang đầy vẻ bi hài, chỉ bằng những câu bông lơn
và bốn bát bánh đúc, thị đã đồng
ý làm bạn với hắn Thị theo hắn dường như để giải quyết nhu cầu
ăn Những chuyện tưởng như rất
thô lậu và trơ trẽn nhưng dưới ngọi bút tài tình của Kim Lân, nó trở nên nhẹ nhàng hơn và lấp ló
tình thương Tràng hoàn toàn mờ mịt về tương lai của mình “thóc gạo này đến thân mình còn chả
biết có nuôi nổi không lại còn đèo bòng” nhưng hắn vẫn ra tay cưu mang người đàn bà nghèo khổ
Đói kém đã đẩy đưa người phụ nữ đến với hắn, mang đến cho hắn niềm hạnh phúc của một người
có được mái ấm gia đình với bao ước mơ về tương lai dung dị
nhưng đầy cảm động Chính vì thế,
hắn nhận ra trách nhiệm của mình đối với hạnh phúc mà mình vừa
có được Lòng hắn chợt loé lên
một ý nghĩa được đổi đời, tự dưng hắn thấy ân hận , tiếc rẻ, vẩn
Trang 33theo bản năng để được ăn,
được sống…Cơn đói khát làm cho ngừoi đàn bà quên cả sĩ diện, được mời ăn “hai con mắt trũng
hoáy của thị sáng lên” tức thì, thế rồi “thị sà xuống ăn thật Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh
đúc liền chẳng chuyện trò gì” Đoạn văn làm cho bất cứ ai có
lương tâm cũng phải xấu hổ, phải
quay mặt đi để cười ra nước mắt Thì làm ta liên tưởng đến bà lão trong Một bữa no của Nam
Cao Con người trở nên trơ trẽn, mất nhân cách khi cái đói lởn vởn trong tâm trí Giận thị nhưng
ta vẫn xót xa trước dáng hình tiều tụy của thị “hôm nay thị rách quá, quần áo tả tơi như tổ đỉa, thị
gầy sọp đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt” Cái đói, với bóng đen
kinh hoàng của nó bao trùm khắp mọi nơi, đè nặng lên cuộc sống bình thường của mỗi con người
Còn gì thê thảm bằng đám “rước dâu” có tiếng quạ kêu thê thiết đón chào, đêm tân hôn có tiếng ai
hờ khóc tỉ tê “có mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết
theo gió thoảng vào khét lẹt” Thân
phận bọt bèo của những con người như Tràng, những cám cảnh bần cùng ấy tự thân nó đã có sức
tố cáo mạnh mẽ cái tội ác của thực dân phát xít…
Thế nhưng, chính trong cái cảnh thê lương ấy, những tấm lòng
nhân hậu lại sáng ngời lên
mà tiêu biểu trong tác phẩm là bà cụ Tứ Trong lòng người mẹ
nghèo ấy lúc nào cũng mang sẵn
tình thương con vô bờ bến “vừa ai oán vừa xót xa cho số kiếp của đứa con mình” Trong cái nhìn
Trang 34đăm đăm vào người đàn bà đang “cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo
lấy nguy cơ bị cái chết gần thêm bước nữa
Bằng ngòi bút tài năng của mình, Kim Lân có lúc đã đưa người đọc đến tận cùng màn đêm
tối tăm, u ám, nhưng rồi lại nhẹ nhàng hé ra một khe sáng lấp ló đâu đó khiến chúng ta hướng về
và vươn tới Người dân Việt nam mà đại diện là những bà mẹ
Tràng, anh Tràng và người đàn bà
vẫn khát khao cuộc sống hạnh phúc tươi sáng hơn “Bà lão nói
toàn chuyện vui, chuyện sung
sướng sau này” Trong tâm trí bà đã có sẵn một viễn cảnh tươi
sáng gia đình Niềm vui làm bà mẹ
Tràng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác thường , “cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên” Ta vui
lây niềm vui của gia đình hoà thuận, đầm ấm, niềm vui của Tràng được thấy xung quanh mình
hôm nay có gì vừa thay đổi mới mẻ, khác thường Niềm vui bất chợt của gia đình làm ta cười
sung sướng nhưng nước mắt vẫn cứ tuôn mãi nghẹn ngào Ta
múôn tha thứ tất cả, kể cả sự trơ
tráo của người đàn bà và cả tội phung phí đến hai hào dầu của anh Tràng
Chỉ một tình huống nhỏ nhoi nhưng Kim Lân đã gợi nên biết bao
Trang 35điều Mỗi ý nghĩ của tình
huống lại mang một giá trị nhân bản,tấm lòng nhân đạo bao la của nhà văn Chính vì thế, tác
phẩm mang đầy tình yêu thương nồng ấm như một ngọn lửa nhỏ lấp loé mãi trong cuộc đời Và
tác phẩm đã cho ta phát hiện thêm một bản chất tuyệt vời nhân
hậu., tuyệt vời đức hi sinh của
những người nông dân Việt Nam Dù đứng trước sự mất còn của mạng sống ( hiểu theo nghĩa đen
trần trụi nhất) vẫn cưu mạng, vẫn lấy lại phẩm giá để làm người,
để sống với hi vọng, với tương
lai Lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh dẫn đoàn người đói khát đi phá kho thóc của Nhật đâu chỉ là
mộng tưởng Cách mạng đã gần kề, suối nguồn của chủ nghĩa nhân đạo sẽ làm sáng lên những
con người bình dị nhưng có phẩm chất nhân đạo như cụ Tứ, như Tràng và cô “vợ nhặt” tội
nghiệp….Họ sẽ viết tiếp truyện thống về phẩm giá con người Việt Nam trong tương lai
Trang 36Phân tích bài thơ SÓNG - Xuân Quỳnh (cực hay)
Một nhà thơ cổ điển Pháp từng nói: “Tình yêu là điều mà con
người không thể hiểu nổi.” Thật vậy, từ ngàn đời nay tình yêu luôn
là điều bí ẩn, là đề tài vô tận của văn chương Nhiều văn nhân thi
sĩ đã mượn văn chương để lí giải tình yêu nhưng chẳng ai cắt
nghĩa trọn vẹn hai mĩ từ ấy Nhà thơ Xuân Diệu đã từng ví von
“Yêu là chết trong lòng một tí”, Đỗ Trung Quân cũng từng thốt lên rằng “Anh đã thấy một điều mong manh nhất – Là tình yêu, là tình yêu ngát hương” và cũng không quên nhắc đến “Sóng” của nữ thi
sĩ Xuân Quỳnh “Sóng” là nơi gửi gắm những tâm tư sâu kín,
những trạng thái phức tạp tinh vi của tâm hồn người thiếu nữ khi nói về tình yêu trẻ trung, nồng nhiệt gắn với khát vọng hạnh phúc muôn thuở của con người
Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh sóng Đó là một hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu, là sự phân thân của cái tôi trữ tình Xuân Quỳnh Cùng với hình tượng sóng, bài thơ còn có hình tượng Em Hai nhân vật trữ tình này có lúc phân đôi ra để soi
chiếu vào nhau làm nổi bật sự tương đồng, có lúc lại hòa nhập vào nhau tạo nên một âm vang Xuân Quỳnh thật tài tình khi sáng tạo hình tượng sóng giàu giá trị thẩm mĩ để diễn tả tâm trạng, tình cảm với nhiều cung bậc sắc thái của một trái tim phụ nữ khao khát tình yêu và hạnh phúc
Dữ dội và dịu êm Sóng tìm ra tận bể
Bắt đầu bài thơ là hình ảnh sóng nước Đó là con sóng lúc thì dữ dội, ồn ào có thể phá tan tất cả trong những trận cuồng phong,
nhưng lúc trời yên gió lặn thì sóng lại dịu êm, lặng lẽ Sóng là vậy đấy, dữ đấy rồi êm đấy, chợt ồn rồi chợt lặng, sóng luôn biến đổi muôn hình vạn trạng Nhưng có ai đã từng hỏi vì sao sóng lại thế?
Vô ích thôi, đến ngay sóng cũng chẳng hiểu nổi mình, chỉ biết đó
là những tâm trạng thường có Sóng bối rối, trăn trở, sóng muốn hiểu được mình nên đã tìm ra tận bể, tìm ra tận nơi mênh mông rộng lớn, sâu thẳm vô cùng Sóng nghĩ ở nơi như thế may ra sóng mới có thể hiểu mình
Trang 37Sóng nước mà cũng có những tâm trạng như con người vậy sao? Phải chăng mượn sóng là để làm biểu tượng cho người con gái? Miêu tả sóng với những đặc điểm kì lạ cũng là để nói tới cái đa dạng phức tạp, khó giải thích của người con gái mà đúng hơn là của tình yêu Thế là sóng nước đã dần chuyển thành sóng tình
Giống như sóng, tình yêu là một khái niệm khó giải thích cho minh bạch Tình yêu là vậy và khát vọng tình yêu của con người thì
muôn đời không thay đổi
Ôi con sóng ngày xưa Bồi hồi trong ngực trẻ
Sóng ngày xưa thế nào thì sóng ngày nay vẫn thế Sóng nước là thế
và sóng tình cũng chẳng khác gì Tình yêu từ ngàn đời nay chẳng
hề bất di bất dịch, đó là một quy luật của tự nhiên Tình yêu không
bó hẹp trong một phạm vi lứa tuổi nhưng tình yêu thường đi đôi với tuổi trẻ Ở lứa tuổi mùa xuân của đời người, tình yêu phát triển mạnh mẽ nhất và mang đầy đủ ý nghĩa nhất Tình yêu tràn đầy sức sống, làm bồi hồi trái tim trong ngực trẻ khiến trái tim lúc nào
cũng thổn thức nhớ mong
Trước muôn trùng sóng bể Từ nơi nào sóng lên?
…………
Dẫu xuôi về phương Bắc Hướng về anh – một phương
Sóng tìm ra tận bể để hiểu mình thì em đây cũng tìm đến tình yêu anh để hiểu sâu hơn về con người của em Trước không gian bao la
là biển cả, làm sao em không trăn trở với những câu hỏi có từ ngàn xưa, những câu hỏi vượt qua bao không gian thời gian, những câu hỏi giản dị, tự nhiên nhưng khó lí giải Tất cả chúng như quấn lấy tâm hồn em làm cho em thao thức khôn nguôi Em tự hỏi, giữa đại dương mênh mông ấy nơi nào là nơi bắt đầu của sóng? Khó mà trả lời cho chính xác nhưng vẫn có thể trả lời rằng “Sóng bắt đầu từ gió” Vâng, không thể phủ định được điều đó, có gió mới có sóng thế nhưng “Gió bắt đầu từ đâu?” Lúc này thì khó mà trả lời được Thế là ra tới tận bể rồi ấy vậy mà sóng cũng vẫn chưa hiểu nổi
mình Cũng như sóng, em đã hòa nhập vào biển lớn của tình yêu anh mà em nào đã hiểu được em Em yêu anh từ đâu? Khi nào? Từ cái gì? Ánh mắt, nụ cười hay giọng nói? “Em cũng không biết
nữa” Mà biết để làm gì bởi anh và em chỉ cần hiểu rằng ta yêu
Trang 38nhau là đủ.
Trong tình yêu, ta vẫn thường thấy hai mặt yêu và nhớ, yêu say đắm thì nhớ thiết tha “Con sóng dưới lòng sâu – Con sóng trên mặt nước” là những cung bậc khác nhau của nỗi nhớ anh Dù trên mặt nước hay dưới lòng sâu thì con sóng vẫn đều có bờ Bờ là nơi đến của sóng, là đối tượng để sóng vuốt ve, vỗ về, là cái đích để đi đâu về đâu sóng lúc nào cũng nhớ đến, cũng không quên, ngay cả
đó là ngày hay đêm: “Ôi con sóng nhớ bờ – Ngày đêm không ngủ được” Nỗi nhớ có cái biểu hiện ra bên ngoài có cái ẩn chứa tự sâu trong đáy lòng Vắng anh, em nhớ, khi thức, em nhớ đến anh Đó
là biểu hiện bình thường Nhưng ở đây, trong mơ em vẫn nhớ Đó
là nỗi nhớ mới da diết, khắc khoải, thổn thức cứ trằn trọc không yên: “Lòng em nhớ đến anh – Cả trong mơ còn thức” Tình yêu là vậy đấy!
Xưa nay, nỗi nhớ luôn gắn liền với khái niệm thời gian vô tận và không gian vô cùng Với thời gian, nó không có ngày đêm; với
không gian, nó không có phương hướng Không gian có bốn
phương Đông, Tây, Nam, Bắc nhưng tình yêu thì chỉ có một
phương và đó chính là anh Trong đời, em quen biết nhiều người,
họ có thể hơn hẳn anh thế nhưng em lại chọn anh, yêu anh và chỉ biết có anh Chỉ riêng anh là khiến em luôn nghĩ tới và hướng về:
“Nơi nào em cũng nghĩ – Hướng về anh một phương” Những
người đang yêu bao giờ cũng hướng về nhau, họ là mặt trời suốt đời soi sáng và sưởi ấm cho nhau
Tình yêu đẹp là vậy, trong sáng là vậy, mãnh liệt bay bổng là vậy nhưng nó không tránh khỏi những dâu bể của đời thường Chính vì thế những người đang yêu ngoài sự say mê còn phải có đủ nghị lực
và lí trí để vượt qua mọi thử thách, giông bão của cuộc đời với
niềm tin sẽ tới đích
Ở ngoài kia đại dương Dù muôn vời cách trở
Những con sóng ở đại dương dù gió xô bão táp tới phương nào đi chăng nữa thì cuối cùng sóng vẫn trở về với bờ Em cũng như
sóng, cho dù gặp bao khó khăn em cũng sẽ vượt qua hết để đến với anh, bởi tình yêu anh đã cho em sức mạnh như ông bà xưa có câu:
Trang 39Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Ngũ lục sông cũng lội, thất bát cửu thập đèo cũng qua
Đẹp là thế, thiêng liêng là thế nhưng tình yêu cũng lại là thứ ngắn ngủi, mong manh và khó giữ
Cuộc đời tuy dài thế Để ngàn năm còn vỗ
Bởi thế khi yêu con người luôn khắc khoải, trăn trở Nỗi trăn trở đã thành bức bách, thôi thúc: Làm sao được tan ra, thành trăm con sóng nhỏ trong đại dương bao la, vô tận kia để được tồn tại mãi, sống mãi và yêu mãi Tình yêu bùng lên thành khát vọng Khát
vọng sôi sục mà vẫn khiêm nhường, đầy nữ tính
Thơ Xuân Quỳnh là tiếng thơ vừa dịu dàng vừa sâu lắng vừa dữ dội lại vừa thiết tha Nhớ tới chị chúng ta càng thêm trân trọng
những thi phẩm đặc sắc của chị Cùng với “Thuyền và biến”,
“Sóng” là những bài ca không thể nào quên của tuổi trẻ và tình
yêu Xin cảm ơn nữ thi sĩ đã hiến dâng cho đời những vần thơ đẹp
về tình yêu con người và cuộc sống
Trang 40Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ (Bài văn HS giỏi)
Truyện viết về cuộc sống của người dân lao động vùng núi cao, dưới ách thống trị tàn bạo của bọn thực dân phong kiến miền núi Đặc biệt truyện đã xây dựng thành công nhân vật Mị, qua đó ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, sức sống tiềm tàng và khả năng đến với cách mạng của nhân dân Tây Bắc
Vợ chồng A phủ là một trong những thành công lớn nhất của nhà văn Tô Hoài–là truyện ngắn rút ra từ tập” truyện Tây Bắc” viết vào năm 1953.” Vợ chồng A Phủ” là tác phẩm lên tiếng vì con người,
ca ngợi và bảo vệ con người và là một tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc
Truyện viết về cuộc đời của Mị và A phủ ở vùng núi cao Tây Bắc trước và sau khi đến với CM và niềm cảm thông sâu sắc trước số phận khốn khổ ,bất hạnh tủi nhụckhi bị mất quyền sống của người dân lao động miền núi dưới ách thống trị của lũ chúa đất và bọn thực dân và qua đó ca ngợi tinh thần CM của họ
Đọc truyện ngắn ta thực sự xót xa xho Mị,một cô gái Mèo đẹp
nết,đẹp người: cần cù,đảm đang, hiếu thảo, giàu lòng yêu đời… chỉ vì gia đình nghèo mà Mị phải đi làm con dâu gạt nợ ở nhà
thống lí Patra.Cuộc sống ở đây đã biến một cô gái hồn nhiên, tràn đầy sức sống và giàu mơ ước trở thành một con người khắc khổ, sống lầm lũi như ” con rùa nuôi trong xó cửa”, thậm chí nhiều lúc
Mị cảm thấy mình không bằng một con vật:” bây giờ Mị tưởng mình cũng là con trâu , mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ ,biết đi làm mà thôi…con trâu con ngựa làm còn có
lúc,đêm nó còn đc đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái trong cái nhà này thì vùi đầu vào làm việc cả ngày cả đêm”…
….Những ngày tết A Sử đi chơi,Mị còn bị trói đứng trong buồng tối, vậy mà khi vừa được chị dâu cởi trói Mị lại phải đi hái lá thuốc