1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ ĐỀ TÀI TOÀN CẦU HÓA

71 894 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỰ PHÁT TRIỂN TOÀN CẦU CỦA WALMART Được Sam Walton thành lập năm 1962 ở Arkansas,WalMart đã phát triển nhanh chóng trở thành công ty bán lẻ lớn nhất thế giới với doanh thu năm 2002 là 218 tỷ đôla, có 1.3 tỷ hội viên và 4500 cửa hàng. Mãi cho đến năm 1991 thì hoạt động của WalMart mới bị hạn chế bởi Chính phủ Mỹ, nơi nó đã tạo được lợi thế cạnh tranh dựa trên việc liên kết đẩy mạnh hiệu quả bán hàng và chính sách quan hệ con người tiến bộ. Bên cạnh đó, WalMart còn dẫn đầu trong việc sử dụng hệ thống thông tin để theo dõi doanh số bán hàng và kiểm kê hàng hóa. Nó đã phát triển một trong những hệ thống phân phối hiệu quả nhất trên thế giới và là một trong những công ty đầu tiên xúc tiến mở rộng quyền sở hữu vốn trong những người làm thuê. Việc này có thể làm tăng năng suất, cho phép WalMart cắt giảm chi phí hoạt động, và đạt được ý nguyện của người tiêu dùng trong việc mua hàng giá thấp, một chiến lược đã giúp công ty đạt được thị phần bán lẻ đầu tiên mà ngày nay nó đang chiếm ưu thế. Và sau đó là thị trường thực phẩm mà công ty chiếm thị phần nhờ các siêu thị. Tuy nhiên, mãi đến năm 1990, WalMart mới nhận ra rằng cơ hội phát triển của nó ở Mỹ đang ngày càng bị giới hạn. Năm 1995, công ty hoạt động ở cả 50 bang. Các nhà quản lý tính toán rằng, vào đầu những năm 2000, cơ hội phát triển nội địa của WalMart sẽ bị ghìm lại vì sự bão hòa của thị trường. Vì vậy, công ty đã quyết định mở rộng phạm vi ra toàn cầu. Ban đầu các nhà phê bình đã chế giễu điều đó. Họ nói rằng WalMart là một công ty Mỹ. Trong khi việc bán hàng của nó được thuận lợi ở Mỹ thì không nên mở rộng ra những nước khác, nơi mà cơ sở hạ tầng khác ở Mỹ, thị hiếu và sự lựa chọn của khách hàng cũng đa dạng và các công ty bán lẻ ở đây đã chiếm ưu thế. Nhưng không lo sợ, WalMart đã bắt đầu mở rộng ra quốc tế bằng việc mở cửa hàng đầu tiên tại Mexico. Sự hoạt động ở Mexico được thiết lập như một liên doanh với Cifera, đại lý bán lẻ lớn nhất ở đây. Ban đầu, WalMart đã có một số sai lầm, điều dường như chứng tỏ là các nhà phê bình đúng. WalMart đã gặp vấn đề về việc lặp lại hệ thống phân phối trước đó ở Mexico. Nền sản xuất nghèo nàn, đường hẹp, thiếu lực đòn bẫy với các nhà cung cấp địa phương, nhiều thứ không đến đúng các cửa hàng và các trung tâm phân phối của WalMart. Kết quả là đưa đến vấn đề về kho bãi làm tăng chi phí và giá cả. Lúc đầu, giá WalMart tại Mexico đã cao hơn giá sản phẩm tương tự tại Mỹ đến 20%. Điều này đã làm giới hạn khả năng đạt được thị phần của WalMart. Họ lại còn gặp khó khăn trong việc lựa chọn lực thúc đẩy bán hàng. Ban đầu, nhiều cửa hàng ở Mexico đã mang đến những món hàng phổ biến ở Mỹ, bao gồm ván trượt băng, máy cắt cỏ, máy thổi lúa và dụng cụ câu cá. Những thứ này không bán chạy ở Mexico. Vì vậy các nhà quản lí đã hạ giá để giảm hàng tồn kho, và hệ thống thông tin tự động của công ty sẽ ngay lập tức yêu cầu kiểm kê để bổ sung hàng hóa trong kho. Tuy nhiên, vào giữa những năm 1990, WalMart đã nhận biết được những sai lầm ban đầu và thích nghi với sự hoạt động theo kiểu Mexico để tồn tại được ở môi trường này. Một mối quan hệ buôn bán với người Mexico đã nhanh chóng cải thiện hệ thống phân phối, trong khi việc bảo quản cẩn thận hơn, nghĩa là các cửa hàng Mexico bán hàng với thị hiếu và sự ưa thích nơi đây. Bởi vì WalMart đã phát triển nên nhiều nhà cung cấp của WalMart đã xây dựng nhà máy gần các trung tâm phân phối để có thể phục vụ công ty tốt hơn, giúp giảm mạnh hơn nữa chi phí kiểm kê và hậu cần. Ngày nay, Mexico là một viên ngọc quý trong hoạt động kinh doanh quốc tế của WalMart. Năm 1998, WalMart đã đạt được mức lợi nhuận có thể kiểm soát tại Cifera. Cho đến năm 2002, thì WalMart đã lớn gấp đôi quy mô của đối thủ lớn nhất ở Mexico, với 600 cửa hàng và lợi nhuận trên 10 tỷ đôla.

Trang 1

QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ

BÀI DỊCH CHƯƠNG 1

TOÀN CẦU HÓA

Giáo viên: Ts Lê Tuấn Lộc

Lê Hoài Phương K104071232

Lê Thị Bảo Yến K104071276

Tp.HCM, ngày 16 tháng 5 năm 2012

Trang 2

SỰ PHÁT TRIỂN TOÀN CẦU CỦA WAL-MART

Được Sam Walton thành lập năm 1962 ở Arkansas, Wal-Mart đã phát triểnnhanh chóng trở thành công ty bán lẻ lớn nhất thế giới với doanh thu năm 2002 là 218

tỷ đôla, có 1.3 tỷ hội viên và 4500 cửa hàng Mãi cho đến năm 1991 thì hoạt động củaWal-Mart mới bị hạn chế bởi Chính phủ Mỹ, nơi nó đã tạo được lợi thế cạnh tranh dựatrên việc liên kết đẩy mạnh hiệu quả bán hàng và chính sách quan hệ con người tiến bộ.Bên cạnh đó, Wal-Mart còn dẫn đầu trong việc sử dụng hệ thống thông tin để theo dõidoanh số bán hàng và kiểm kê hàng hóa Nó đã phát triển một trong những hệ thốngphân phối hiệu quả nhất trên thế giới và là một trong những công ty đầu tiên xúc tiến

mở rộng quyền sở hữu vốn trong những người làm thuê Việc này có thể làm tăng năngsuất, cho phép Wal-Mart cắt giảm chi phí hoạt động, và đạt được ý nguyện của ngườitiêu dùng trong việc mua hàng giá thấp, một chiến lược đã giúp công ty đạt được thịphần bán lẻ đầu tiên mà ngày nay nó đang chiếm ưu thế Và sau đó là thị trường thựcphẩm mà công ty chiếm thị phần nhờ các siêu thị

Tuy nhiên, mãi đến năm 1990, Wal-Mart mới nhận ra rằng cơ hội phát triển của

nó ở Mỹ đang ngày càng bị giới hạn Năm 1995, công ty hoạt động ở cả 50 bang Cácnhà quản lý tính toán rằng, vào đầu những năm 2000, cơ hội phát triển nội địa của Wal-Mart sẽ bị ghìm lại vì sự bão hòa của thị trường Vì vậy, công ty đã quyết định mởrộng phạm vi ra toàn cầu Ban đầu các nhà phê bình đã chế giễu điều đó Họ nói rằngWal-Mart là một công ty Mỹ Trong khi việc bán hàng của nó được thuận lợi ở Mỹ thìkhông nên mở rộng ra những nước khác, nơi mà cơ sở hạ tầng khác ở Mỹ, thị hiếu và

sự lựa chọn của khách hàng cũng đa dạng và các công ty bán lẻ ở đây đã chiếm ưu thế

Nhưng không lo sợ, Wal-Mart đã bắt đầu mở rộng ra quốc tế bằng việc mở cửahàng đầu tiên tại Mexico Sự hoạt động ở Mexico được thiết lập như một liên doanhvới Cifera, đại lý bán lẻ lớn nhất ở đây Ban đầu, Wal-Mart đã có một số sai lầm, điềudường như chứng tỏ là các nhà phê bình đúng Wal-Mart đã gặp vấn đề về việc lặp lại

hệ thống phân phối trước đó ở Mexico Nền sản xuất nghèo nàn, đường hẹp, thiếu lực

Trang 3

Chương 1: Toàn cầu hóa

đòn bẫy với các nhà cung cấp địa phương, nhiều thứ không đến đúng các cửa hàng vàcác trung tâm phân phối của Wal-Mart Kết quả là đưa đến vấn đề về kho bãi làm tăngchi phí và giá cả Lúc đầu, giá Wal-Mart tại Mexico đã cao hơn giá sản phẩm tương tựtại Mỹ đến 20% Điều này đã làm giới hạn khả năng đạt được thị phần của Wal-Mart

Họ lại còn gặp khó khăn trong việc lựa chọn lực thúc đẩy bán hàng Ban đầu, nhiều cửahàng ở Mexico đã mang đến những món hàng phổ biến ở Mỹ, bao gồm ván trượt băng,máy cắt cỏ, máy thổi lúa và dụng cụ câu cá Những thứ này không bán chạy ở Mexico

Vì vậy các nhà quản lí đã hạ giá để giảm hàng tồn kho, và hệ thống thông tin tự độngcủa công ty sẽ ngay lập tức yêu cầu kiểm kê để bổ sung hàng hóa trong kho

Tuy nhiên, vào giữa những năm 1990, Wal-Mart đã nhận biết được những sailầm ban đầu và thích nghi với sự hoạt động theo kiểu Mexico để tồn tại được ở môitrường này Một mối quan hệ buôn bán với người Mexico đã nhanh chóng cải thiện hệthống phân phối, trong khi việc bảo quản cẩn thận hơn, nghĩa là các cửa hàng Mexicobán hàng với thị hiếu và sự ưa thích nơi đây Bởi vì Wal-Mart đã phát triển nên nhiềunhà cung cấp của Wal-Mart đã xây dựng nhà máy gần các trung tâm phân phối để cóthể phục vụ công ty tốt hơn, giúp giảm mạnh hơn nữa chi phí kiểm kê và hậu cần.Ngày nay, Mexico là một viên ngọc quý trong hoạt động kinh doanh quốc tế của Wal-Mart Năm 1998, Wal-Mart đã đạt được mức lợi nhuận có thể kiểm soát tại Cifera Chođến năm 2002, thì Wal-Mart đã lớn gấp đôi quy mô của đối thủ lớn nhất ở Mexico, với

600 cửa hàng và lợi nhuận trên 10 tỷ đôla

Kinh nghiệm ở Mexico chứng tỏ rằng Wal-Mart có thể cạnh tranh bên ngoàinước Mỹ Sau đó, nó đã mở rộng sang 8 nước khác, Canada, Anh, Đức, Nhật, HànQuốc, Wal-Mart đã xâm nhập bằng cách mua lại các công ty bán lẻ tại đó rồi chuyểngiao hệ thống thông tin, hậu cần và chuyên môn quản lý Ở Brazil, Argentina và TrungQuốc, Wal-Mart đã thành lập những cửa hàng của chính nó Và kết quả là đến năm

2002, công ty có hơn 1200 cửa hàng bên ngoài Mỹ, 303000 nhân viên và lợi nhuậnquốc tế hơn 35 tỷ đôla

Trang 4

Ban đầu, sự mở rộng ra quốc tế của Wal-Mart đã được trợ giúp bởi 3 yếu tố.Thứ nhất, vì hàng rào của việc đầu tư xuyên biên giới đã giảm trong những năm 1990,nên khả thi hơn cho Wal-Mart xâm nhập ra nước ngoài trên phạm vi lớn Điển hìnhnhư sự thâm nhập năm 1996 của Wal-Mart vào Trung Quốc, nơi mà bây giờ Wal-Mart

có 26 cửa hàng, sẽ không thể sớm hơn 1 thập kỷ Thứ hai, bằng việc mở rộng ra quốc

tế, Wal-Mart đã thu hoạch được quy mô kinh tế lớn từ sức mua toàn cầu Nhiều công tynhư GE (sản phẩm điện, điện tử), Unilever (thực phẩm) và P&G (sản phẩm chăm sóc

cá nhân) là những nhà cung cấp lớn cho Wal-Mart đã có sự hoạt động toàn cầu lâu đời.Nhờ xây dựng phạm vi hoạt động quốc tế, Wal-Mart đã sử dụng quy mô được nângcao của nó để yêu cầu sự giảm giá hơn nữa của các nhà cung cấp địa phương, tăng khảnăng bán giá thấp hơn đến khách hàng, đạt được thị phần và sau cùng là kiếm được

nguồn lợi nhuận khổng lồ hơn Thứ ba, sự tiến bộ của hệ thống thông tin, đặc biệt là sự

lan rộng của phần mềm Internet cơ bản, đã cho phép Wal-Mart sử dụng để xem xét,điều khiển hoạt động của nó trên toàn cầu, theo dõi doanh thu các cửa hàng riêng biệt,hàng tồn kho, giá cả và dữ liệu lợi nhuận hằng ngày

Wal-Mart đã nhận ra rằng, nếu nó không mở rộng ra thế giới thì các nhà bản lẻtoàn cầu sẽ đánh bại nó Sự thật là Wal-Mart đã đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt trêntoàn cầu từ Carrefour của Pháp, Ahold của Hà Lan và Tesco từ Anh Carrefour, nhàbán lẻ lớn thứ hai trên toàn thế giới, có lẽ là công ty mang tính toàn cầu nhiều nhất Lànhà đi đầu, bây giờ nó đã hoạt động ở 26 quốc gia với hơn 50% doanh thu bán hàng là

từ bên ngoài Pháp So sánh với công ty này thì Wal-Mart đã chậm hơn với chỉ 17%doanh thu từ hoạt động quốc tế Tuy nhiên, vẫn còn cơ hội cho sự phát triển toàn cầu.Thị trường bán lẻ toàn cầu vẫn còn dở dang Năm 2002, tốp 25 nhà bán lẻ chỉ mới nắmđược 18% doanh số trên toàn thế giới, mặc dù dự báo con số có thể lên đến 40% vàonăm 2009, với Mỹ Latinh, Bắc Á, Đông Âu là những thị trường chính

Trang 5

Chương 1: Toàn cầu hóa

GIỚI THIỆU

Một sự thay đổi cơ bản đang diễn ra trong nền kinh tế thế giới Chúng ta đangdần xa một thế giới mà ở đó kinh tế quốc gia khép kín, bị cô lập với các nước khác bởihàng rào thương mại; bởi khoảng cách thời gian, khu vực địa lý và ngôn ngữ; và bởi sựkhác biệt quốc gia trong sự điều hành của chính phủ, văn hóa và hệ thống kinh doanh.Chúng ta đang hướng tới một thế giới mà hàng rào đầu tư và thương mại đã sụp đổ,khoảng cách đang rút ngắn lại nhờ sự tiến bộ của công nghệ vận tải và viễn thông, chấtliệu văn hóa bắt đầu tương tự bên ngoài thế giới, và kinh tế quốc gia đang sáp nhập vào

hệ thống kinh tế toàn cầu Tiến trình này đang được đề cập phổ biến với tên gọi là toàncầu hóa

Trong nền kinh tế toàn cầu phụ thuộc này, một người Mỹ có thể đi làm bằngchiếc xe hơi được thiết kế ở Đức, lắp ráp ở Mexico bởi Daimler Chryler, thiết bị đượcsản xuất tại Mỹ và Nhật, những thiết bị này lại được cấu tạo từ thép Hàn Quốc và cao

su Malaysia Cô ta có lẽ phải đổ xăng tại một quầy dịch vụ BP của công ty đa quốc giaAnh Xăng dầu có thể được sản xuất từ dầu bơm ngoài bờ biển châu Phi bởi một công

ty dầu của Mỹ, được vận chuyển đến Mỹ trên con tàu của hãng tàu Hy Lạp Trong lúclái xe, cô ấy có thể nói chuyện với người mua bán cổ phần chứng khoán bằng điệnthoại di động Nokia được thiết kế ở Phần Lan, lắp ráp ở Texas, sử dụng bộ chip sảnxuất ở Đài Loan, thiết kế bởi các kỹ sư Ấn Độ làm việc ở bang San Diego, California,được gọi là Qualcomm Cô ta có thể bảo người mua bán cổ phiếu mua cổ phần củaDeutsche Telekom, một hãng viễn thông Đức, từ một công ty độc quyền thành mộtcông ty quốc tế nhờ CEO đầy nghị lực người Israeli Cô ta có thể mở radio xe, đượcsản xuất ở Malaysia bởi một hãng Nhật, và nghe bài hiphop nổi tiếng tác giả là ngườiThụy Điển, trình bày bằng tiếng Anh của nhóm nhạc Đan Mạch - đã ký hợp đồng vớicông ty nhạc Pháp để quảng cáo bản thu ở Mỹ Lái xe có thể uống một cốc cà phê từquán của một người nhập cư Hàn Quốc, và gọi một chiếc bánh không béo phủ đầysôcôla Hạt cà phê đến từ Brazil và sôcôla từ Peru, trong khi bánh ngọt làm ở địa

Trang 6

phương và sử dụng công thức Ý Sau khi bài hát kết thúc, phát thanh viên nói rằng mộtphong trào chống toàn cầu hóa đang diễn ra ở cuộc họp thượng đỉnh của bang Davos,Thụy Sỹ, đã dẫn đến bạo lực Một người biểu tình đã bị giết Sau đó, chuyển sang mụctiếp theo, câu chuyện về sự xuống dốc của kinh tế Mỹ đã làm chỉ số chứng khoánNikkei, Nhật Bản xuống mức thấp nhất trong 17 năm qua.

Đây là thế giới mà chúng ta đang sống Nơi mà làn sóng của hàng hóa, dịch vụ

và đầu tư quốc tế đã mở rộng nhanh hơn sản lượng thế giới hằng năm trong suốt 2 thập

kỷ cuối của thế kỷ 20 Đây là thế giới mà hơn 1.2 tỷ đôla trong ngoại thương được tạo

ra hằng ngày Là thế giới mà Tổ chức thương mại thế giới tập trung các nhà lãnh đạo từcác nền kinh tế mạnh nhất trên thế giới để kêu gọi giảm bớt hàng rào thương mại vàđầu tư Là thế giới mà biểu tượng văn hóa và sự phổ biến đang tăng trên toàn cầu: từcủa Coca-cola đến Sony Playstation, điện thoại di động Nokia, MTV và phim Disney

Là thế giới mà sản phẩm được sản xuất từ những nguyên liệu đến từ khắp nơi trên thếgiới Là thế giới mà khủng hoảng kinh tế ở châu Á có thể dẫn đến sự thụt lùi sản xuất ở

Mỹ và sự xuống dốc ở Mỹ đã đưa chỉ số của Nekkei, Nhật Bản năm 2002 xuống mứcthấp chưa từng thấy từ năm 1985 Là thế giới mà một số người đã tạo ra phong tràochống toàn cầu hóa, thứ họ cho là nguyên nhân của thất nghiệp ở những nước pháttriển, sự xuống cấp môi trường và sự Mỹ hóa trong văn hóa Và những phong trào này

đã dần trở nên bạo lực

Dù sao thì đối với kinh doanh đây là khoảng thời gian tốt Toàn cầu hóa đã làmtăng cơ hội mở rộng lợi nhuận bằng việc bán hàng trên khắp thế giới, và giảm chi phíbằng việc sản xuất ở những nước có nguyên liệu rẻ hơn Từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xãhội cuối những năm 1980, sự dao động chính sách ở các quốc gia đã đưa đến một thịtrường tự do hơn Sự can thiệp và các hàng rào quản trị kinh doanh ở nước ngoài đãgiảm xuống, trong khi các nước này cũng thường xuyên chuyển đổi nền kinh tế, hoạtđộng kinh doanh cá nhân, thị trường tự do, tăng cạnh tranh và mời chào đầu tư bằng

Trang 7

Chương 1: Toàn cầu hóa

ngoại thương Điều này cho phép hoạt động kinh doanh, cả lớn và nhỏ, từ các nướctiến bộ và các nước đang phát triển mở rộng ra thế giới

Wal-Mart là người đi sau trong sự phát triển này Ở một số nền công nghiệp nhưmáy bay thương mại, xe ô tô, dầu khí, sản phẩm gia dụng, chip bán dẫn và máy tính,các công ty đã mở rộng toàn cầu được mấy thập kỷ Việc bán lẻ diễn ra đầu tiên ởphương đông, nhưng trong nhịp độ phát triển của toàn cầu hóa, dẫn đầu bởi các công tynhư Wal-Mart và Carrefour của Pháp, điều này cũng đang thay đổi Việc cắt giảm hàngrào đầu tư xuyên biên giới đã làm cho điều này có thể xảy ra Sự tăng trưởng kinh tếnhanh chóng ở các quốc gia đang phát triển và sự bão hòa thị trường nội địa đã khiếntoàn cầu hóa trở thành bắt buộc và là chiến lược đối với các công ty bán lẻ để phát triểnhoạt động kinh doanh Các công ty như Wal-Mart tin rằng, họ phải thay đổi tích cựcngay bây giờ, vì đã mất sự khởi đầu vào những công ty sớm như Carrefour Họ có sựtiến bộ trong chiến lược xây dựng thương hiệu toàn cầu, phân biệt hệ thống thang đokinh tế, và kỹ năng tạo lực đòn bẫy thông qua hàng rào quốc gia Trong điều này, họkhông khác gì những công ty đã gia nhập toàn cầu ở các nền công nghiệp khác

Sau một khoảng thời gian, việc gia nhập toàn cầu đã không thành vấn đề nữa.Đây cũng là bằng chứng cho trường hợp ví dụ Tầm nhìn chiến lược đúng đắn của cáccông ty bán lẻ như Wal-Mart thường vấp phải khó khăn, với thực tế rằng sự tươngđồng văn hóa, sự phổ biến trong hệ thống kinh doanh chỉ là bề ngoài, việc kinh doanh

ở nước ngoài vẫn là những thử thách Vì sự khác nhau về thị hiếu và sự ưa thích,những gì công ty bán được ở Mỹ có lẽ không bán được ở Trung Quốc, tiến trình kinhdoanh ở Mỹ có thể khó áp dụng ở Mexico, và một thương hiệu ở Kansan có lẽ ít có ýnghĩa ở Indonexia

Mâu thuẫn giữa các cơ hội kinh tế khi toàn cầu hóa và những thử thách trongkinh doanh xuyên biên giới là quan trọng trong kinh doanh quốc tế Chúng ta sẽ xemxét lại sự mâu thuẫn ấy trong quyển sách này Tuy nhiên, để bắt đầu, chúng ta cần xem

Trang 8

trình này, đánh giá nó thay đổi bộ mặt của kinh doanh quốc tế như thế nào, và tốt hơnnên nắm được tại sao toàn cầu hóa đã và đang trở thành trung tâm của những cuộc bàncãi, bằng chứng xác thực và sự đấu tranh vượt qua hướng dẫn tương lai của cuộc cáchmạng của chúng ta.

TOÀN CẦU HÓA LÀ GÌ?

Toàn cầu hóa đề cập đến sự thay đổi của nền kinh tế theo hướng ngày càngthống nhất và phụ thuộc nhau hơn Toàn cầu hóa có một vài khía cạnh khác nhau baogồm toàn cầu hóa thị trường và toàn cầu hóa sản xuất

TOÀN CẦU HÓA THỊ TRƯỜNG

Toàn cầu hóa thị trường đề cập đến sự sáp nhập các thị trường quốc gia riêngbiệt thành một thị trường toàn cầu lớn Việc giảm hàng rào thương mại đã khiến choviệc buôn bán quốc tế dễ dàng hơn Có nhận xét rằng, thỉnh thoảng thị hiếu và sự ưathích của khách hàng ở các quốc gia khác nhau bắt đầu hội tụ tại một số tiêu chuẩntoàn cầu, bằng cách ấy tạo ra thị trường toàn cầu Các sản phẩm tiêu dùng như thẻCiticorp, nước Coca-cola, hambuger là những ví dụ điển hình Các hãng như Citicorp,Coca-cola, McDonald và Sony có nhiều lợi thế trong xu hướng này Bằng việc xâydựng các tiêu chuẩn sản phẩm trên toàn cầu, đã giúp họ tạo ra thị trường toàn cầu

Một công ty không nhất thiết phải có quy mô như những công ty đa quốc giakhổng lồ thì mới có thể thu lợi từ sự toàn cầu hóa thị trường Ví dụ như ở Mỹ, năm

2001, gần 89% các hãng xuất khẩu là chủ thể kinh doanh nhỏ và thuê ít hơn 100 côngnhân Thị phần của họ trong tổng kim ngạch xuất khẩu Mỹ đã tăng đều đặn trong suốtthập kỷ qua để đạt 21% vào năm 2001 Các hãng thuê ít hơn 500 công nhân được tínhtoán là chiếm 97% ở Mỹ và gần 30% tổng kim ngạch xuất khẩu Điển hình là Hytech,một nhà sản xuất tấm hấp thụ năng lượng mặt trời ở NewYork, 40% trong tổng doanhthu 3 triệu đôla hằng năm đến từ xuất khẩu sang 5 nước; hay B&S Aircraft Alloys, mộtcông ty khác ở NewYork, đã có 40% của doanh thu 8 triệu đôla hằng năm là từ xuất

Trang 9

Chương 1: Toàn cầu hóa

khẩu Tình huống này cũng tương tự ở một số quốc gia khác Ở Đức, các công ty có íthơn 500 người chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia

Mặc dù có sự lưu hành toàn cầu của thẻ Citicorp và hambuger McDonald, thì họvẫn luôn ý thức rằng rằng thị trường quốc gia là con đường dẫn đến thị trường toàncầu Như ta sẽ thấy ở chương sau, vẫn còn nhiều khác biệt to lớn tồn tại giữa thị trườngcác quốc gia theo nhiều thước đo, bao gồm sự ưa thích và thị hiếu khách hàng, kênhphân phối, hệ thống với các chuẩn mực về văn hóa, hệ thống kinh doanh và tính hợppháp Nó đòi hỏi các chiến lược marketing đặc điểm sản phẩm và khách hàng hóa đểthích nghi tốt nhất với điều kiện của một nước Ví dụ như xe hơi, công ty sẽ xúc tiếncác mẫu xe khác nhau phụ thuộc vào dãy yếu tố như chi phí nhiên liệu ở địa phương,mức đầu vào, ùn tắc giao thông, và giá trị văn hóa Tương tự, như ta thấy trong trườnghợp ví dụ, các nhà bán lẻ quốc tế như Wal-Mart vẫn cần đa dạng hóa hòa trộn từ nướcnày sang nước khác phụ thuộc vào thị hiếu và sự ưa thích ở nơi đó

Thị trường toàn cầu nhất hiện nay không phải là thị trường sản phẩm tiêu thụ nơi mà sự khác nhau trong thị hiếu vẫn còn đủ quan trọng để cản trở toàn cầu hóa – mà

-là thị trường hàng hóa công nghiệp và nguyên liệu phục vụ nhu cầu trên khắp thế giới.Những thị trường này bao gồm thị trường của nguyên liệu thô như nhôm, dầu khí, lúamì; thị trường sản phẩm công nghiệp như bộ vi xử lí, thẻ nhớ máy tính và máy bayphản lực dùng cho thương mại; thị trường của phần mềm máy tính và thị trường chocác tài sản tài chính từ Mỹ Hóa đơn tài chính đến trái khoán châu Âu và tương lai củachỉ số Nekkei hoặc đồng peso của Mexico

Ở nhiều thị trường quốc tế, các hãng có sản phẩm giống nhau thường xuyên đốiđầu với nhau như những nhà cạnh tranh của quốc gia này với quốc gia khác Sự cạnhtranh giữa Coca-cola với Pepsi là một ví dụ, cũng như sự cạnh tranh giữa Ford vàToyota, Boeing và Airbus, Caterpillar và Komatsu, Mintendo và Sega Nếu một hãngthâm nhập vào một quốc gia chưa có mặt công ty đối thủ, cạnh tranh chắc chắn theo

Trang 10

bán lẻ như Wal-Mart, Carrefour và Tesco đang bắt đầu một sự cạnh tranh quốc tế Cáchãng sẽ theo nhau trên khắp thế giới, hành trang sẽ là lợi thế cạnh tranh của họ ở quốcgia khác – bao gồm sản phẩm, chiến lược thực hiện, chiến lược tiếp thị và thương hiệu– tạo một số sự đồng nhất thông qua thị trường Như vậy, sự đồng bộ lớn hơn thay thế

sự đa dạng Vì sự phát triển đó, trong khi các ngành công nghiệp đang tăng dần, khôngcòn ý nghĩa nữa khi nói về thị trường Đức, thị trường Mỹ, thị trường Brazil hay thịtrường Nhật; với nhiều hãng, chỉ có thị trường quốc tế

TOÀN CẦU HÓA SẢN XUẤT

Toàn cầu hóa sản xuất đề cập đến nguồn hàng hóa và dịch vụ từ khắp thế giới đểtận dụng lợi thế khác biệt giữa các quốc gia về chi phí và chất lượng của các yếu tố sảnxuất (như lao động, năng lượng, đất và vốn) Thực hiện điều này, các công ty hy vọnggiảm cấu trúc toàn bộ chi phí và cải thiện chất lượng chức năng của sản phẩm họ bán,

từ đó cho phép họ cạnh tranh hiệu quả Hãy xem xét máy bay chở khách Boeing 777,tám nhà cung cấp Nhật đã sản xuất những phần cho than máy bay, cửa, cánh; một nhàcung cấp ở Singapore thì sản xuất bánh xe răng cưa tiếp đất; ba nhà sản xuất ở Ý sảnxuất vành cánh,… Lý do căn bản mà Boeing thu gom sản xuất từ nhiều nhà cung cấpnước ngoài là vì đây là những nhà cung cấp tốt nhất trên thế giới nếu xét về từng lĩnhvực chuyên môn Mạng lưới quốc tế của các nhà cung cấp để sản xuất ra sản phẩmcuối cùng tốt hơn, làm tăng cơ hội chiếm được thị phần đặt hàng lớn hơn các đối thủcạnh tranh khác Boeing còn gom mua những sự sản xuất từ nước ngoài để tăng cơ hộigiành được những đơn đặt hàng quan trọng từ nhũng chiếc máy bay được sản xuất cơbản ở những nước đó

Việc phổ biến rộng rãi các hoạt động sản xuất là không giới hạn đối với những

gã khổng lồ như Boeing Các hãng nhỏ hơn nhiều cũng đang dần hành động SwanOptical là một nhà sản xuất và phân phối kính mắt của Mỹ Với doanh thu hằng năm từ20-30 triệu đôla, Swan là một gã khổng lồ hiếm có, Swan sản xuất mắt kính ở các nhàmáy chi phí thấp ở Hồng Kông và Trung Quốc, các nhà máy là đồng sở hữu cùng một

Trang 11

Chương 1: Toàn cầu hóa

công ty Hồng Kông Swan cũng có chân trong các ngôi nhà thiết kế ở Nhật, Pháp và Ý.Công ty đã thiết kế và sản xuất ở khắp các nước trên toàn thế giới để tận dụng lợi thếcủa những lợi ích từ kỹ năng lao động và cấu trúc chi phí Đầu tư nước ngoài ở HồngKông và sau đó ở Trung Quốc đã giúp Swan giảm chi phí, trong khi đầu tư ở Nhật,Pháp và Ý thì giúp sản xuất những mắt kính thời trang hơn để bán với giá cao hơn.Bằng việc mở rộng hoạt động thiết kế và sản xuất, Swan đã thiết lập một lợi thế cạnhtranh cho mình trong thị trường mắt kính quốc tế, như Boeing đã từng cố gắng làm

Robert Reich, người từng là một thư ký nhân sự trong hệ thống quản trị ton, đã nhận xét rằng, như một kết quả của xu hướng được minh họa bởi Boeing vàSwan Oftical, ở nhiều nền công nghiệp, đã trở nên không thích hợp khi nói về các sảnphẩm Mỹ, Nhật, hay Hàn Quốc Theo Reich, tăng sự thu gom hoạt động sản xuất từcác nhà cung cấp khác nhau, kết quả là tạo ra các sản phẩm toàn cầu một cách tự nhiên,

Clin-đó là sản phẩm quốc tế Nhưng với sự toàn cầu hóa thị trường, phải cẩn thận để khôngđẩy toàn cầu hóa sản xuất đi quá xa Như chúng ta sẽ biết trong chương sau, những trởngại thực tế vẫn còn làm cho các hãng khó đạt được các hoạt động sản xuất đến cáckhu vực trên toàn cầu Những trở ngại này bao gồm hàng rào thương mại chính thức vàkhông chính thức giữa các nước, hàng rào đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi phí vận tải

và các vụ kiện, các yêu cầu liên quan đến rủi ro chính trị và kinh tế

Mặc dù vậy, chúng ta vẫn hướng tới một tương lai ngày càng toàn cầu hóa thịtrường và sản xuất Những hãng hiện đại đóng vai trò quan trọng trong việc này, bằngnhững hoạt động đẩy mạnh toàn cầu hóa của họ Tuy nhiên, những hãng này, chỉ đơnthuần là hành động theo bản năng để đạt hiệu quả và thay đổi điều kiện thị trường

SỰ CẦN THIẾT CỦA CÁC TỔ CHỨC

Vì thị trường ngày càng toàn cầu hóa và ngày càng nhiều các hoạt động kinhdoanh bên ngoài các hàng rào quốc gia, nên cần thiết có các tổ chức để quản lý, điềuchỉnh và kiểm soát thị trường toàn cầu Hơn nửa thế kỷ qua, một số tổ chức quan trọng

Trang 12

toàn cầu đã được thành lập để thực hiện chức năng này Những tổ chúc này bao gồmHiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch, tiền thân của Tổ chức thương mại thế giới;Qũy tiền tệ thế giới và tổ chức anh em là Ngân hàng thế giới; Liên Hiệp Quốc Các tổchức này được thành lập trên nguyên tắc tự nguyện giữa các nước thành viên và chứcnăng của nó được cam kết trong các thỏa thuận quốc tế.

Tổ chức thương mại thế giới (Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch trướcđó) chịu trách nhiệm lớn nhất trong các hoạt động kinh doanh, do đó tổ chức này cóphạm vi hoạt động và tầm ảnh hưởng khá lớn WTO chịu trách nhiệm tạo điều kiệnthuận lợi hơn cho việc thiết lập các hợp đồng thương mại đa quốc gia giữa các thànhviên Qua lịch sử của nó và Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch trước đó, WTO

đã xúc tiến việc cắt giảm hàng rào thuế quan thương mại và đầu tư Do đó, nó là trợ thủđắc lực của các thành viên muốn tạo ra một hệ thống kinh doanh toàn cầu hơn nữa vàkhông bị trở ngại bởi hàng rào thương mại và đầu tư Nếu không có một tổ chức nhưWTO, sự toàn cầu hóa thị trường và sản xuất không thể tiếp tục vươn xa như thế Tuynhiên như sẽ thấy ở chương này và trong chương 5, nếu chúng ta nhìn theo hướng khácthì WTO đang là nguyên nhân mất dần chủ quyền quốc gia của các nước thành viên

Qũy tiền tệ thế giới và Ngân hàng thế giới đều được thành lập năm 1944 bởi 44nước ở Bretton, New Hampshire Chức năng của Qũy tiền tệ thế giới là sắp xếp lại hệthống tiền tệ thế giới và Ngân hàng thế giới là thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Trongvòng 60 năm kể từ khi thành lập, cả 2 tổ chức đã giữ một vai trò quan trọng trong nềnkinh tế toàn cầu Ngân hàng thế giới thì ít gây tranh cãi hơn tổ chức anh em của mình

Nó tập trung làm giảm tỷ lệ nợ của chính phủ các nước nghèo, những nước mongmuốn được đầu tư cơ sở hạ tầng quan trọng (như xây dựng đập hoặc hệ thống giaothông)

Qũy tiền tệ thế giới thường được biết đến như người cho vay cuối cùng củanhững nền kinh tế trong tình trạng hỗn độn và tiền tệ đang mất giá so với các nướckhác.Ví dụ như, trong suốt thập kỷ qua, Qũy tiền tệ thế giới đã cho các chính phủ đang

Trang 13

Chương 1: Toàn cầu hóa

gặp khó khăn mượn tiền bao gồm Argentina, Indonesia, Mexico, Nga, Hàn Quốc, TháiLan và Thổ Nhĩ Kỳ Vay nợ của Qũy tiền tệ thế giới đến cùng với một loạt điều kiệnđính kèm; khi đến hạn, Qũy tiền tệ thế giới yêu cầu quốc gia phải chấp nhận các chínhsách kinh tế riêng biệt nhằm mục đích đưa nền kinh tế trì trệ của họ trở nên bền vững

và phát triển Những điều kiện này tạo ra nhiều sự bàn cãi, đối với một số người thì cácchính sách của Qũy tiền tệ thế giới không được đánh giá cao, trong khi một số kháccho rằng, giống như WTO, bằng việc yêu cầu chính phủ các nước thực hiện các chínhsách kinh tế, Qũy tiền tệ thế giới đang chiếm đoạt chủ quyền của các quốc gia - dântộc Chúng ta sẽ xem xét sự tranh cãi về vai trò của Qũy tiền tệ thế giới trong chương10

Tổ chức Liên Hợp Quốc được thành lập vào 24/11/1945 bởi 51 quốc gia camkết giữ vững nền hòa bình thông qua các tổ chức quốc tế và an ninh tập thể Đến nayhầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều trực thuộc Liên Hợp Quốc, số thành viên

đã lên tới 191 quốc gia Khi một nước trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc, nước

đó phải tuân theo những quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc, một hiệp ướcquốc tế về những nguyên tắc cở của các mối quan hệ quốc tế Dựa theo Hiến chương,

tổ chức Liên Hợp Quốc có 4 mục tiêu: duy trì hòa bình và an ninh thế giới, để pháttriển các tình hữu nghị giữa các quốc gia, để hợp tác cùng giải quyết những vấn đềquốc tế và nâng cao quyền nhân quyền, và để trở thành trung tâm để điều hành hoạtđộng của các quốc gia Mặc dù Liên Hợp Quốc được biết nhiều như là một tổ chức giữgìn hòa bình, một trong những nhiệm vụ chính của nó là nâng cao mức sống, đảm bảoviệc làm, và các điều kiện của nền kinh tế và quá trình phát triển xã hội và phát triển –tất cả những vấn đề những vấn đề chính dẫn đến sự bất ổn của nền kinh tế Đến 70%trên tổng số công việc của Liên Hợp Quốc là nhầm hoàn thành nhiệm vụ này Để làmđược như thế, Liên Hợp Quốc phải hợp tác chặt chẽ vỡi những tổ chức quốc tế khácnhư Ngân hàng Thế giới Việc chỉ đạo công việc sẽ xóa bỏ đi con nghèo, nầng cao chấtlượng đời sống của người nhân mọi nơi là những bước cần thiết để tạo ra một thế giới

Trang 14

NHÂN TỐ CỦA TOÀN CẦU HÓA

Có hai nhân tố chính thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ hơn Thứnhất là những rào cản giao dịch hàng hóa, dịch vụ và vốn xuất hiện từ vào cuối Thếchiến thứ II đã phần nào giảm nhẹ Nhân tố thứ hai là sự thay đổi của công nghệ, đặcbiệt là sự phát triển mạnh mẽ của phương tiện liên lạc, quá trình xử lý thông tin vàphương tiện chuyên trở trong những năm gần đây

SỰ DẦN THÁO GỠ CÁC RÀO CẢN THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ

Trong những thập niên 20 và 30 của thế kỉ XX, có rất nhiều quốc gia dân tộctrên thế giới xây dựng các rào cản khắc khe đối với thương mại quốc tế và đầu tư trựctiếp nước ngoài Thương mại quốc tế được xem là việc một công ty đầu tư nguồn lựcvào những hoạt động kinh tế vào các quốc gia khác Rất nhiều rào cản thương mạiquốc tếchủ yếu làviệc đánh thuế cao vào hoạt động nhập khẩu các hàng hóa sản xuấtcông nghiệp Mục đích chính của việc đánh thuế đó là bảo vệ hàng hóa trong nướctrước sự cạnh tranh của các mặt hàng nước ngoài Tuy nhiên, điều này đã hình thànhchính sách “bần cùng hóa bạn hàng” giữa các quốc gia khi các nước đều gia tăng ràocản của mình đối với nước bạn Kết quả là cầu trên thế giới giảm sút và hình thànhcuộc Đại khủng hoảng vào những năm 30 của thế kỉ XX

Rút kinh nghiệm từ quá khứ, sau Thế chiến thứ II, những nước có nền côngnghiệp tiên tiến ở phương Tây đã tự thỏa thuận là sẽ tháo bỏ những rào cản về tự dolưu thông hàng hóa, dịch vụ và tiền vốn giữa các nước Mục tiêu này đã được nêu rõtrong Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Dưới điều khoản của

Bảng 1.1 Mức thuế trung bình của hàng hóa công nghiệp tính theo phần trăm giá trị Nguồn: 1913 – 1990 từ

“Who Wants to Be a Giant?” The Economist: A Survey of the Multinationals June 24, 1995, pp.3-4 Copyright © The

Trang 15

Chương 1: Toàn cầu hóa

GATT, tám vòng đàm phán của các nước thành viên (bây giờ là 146 nước) đã diễn ranhằm tháo gỡ các rào cản tự do thương mại và dịch vụ Gần đây nhất là Vòng đàmphán Uruguay, kết thúc vào tháng 12 năm 1993 Vòng đàm phán Uruguay đã đẩy mạnhviệc tháo bỏ rào cản, mở rộng GATT tới các dịch vụ cũng như các mặt hàng sản xuấtcông nghiệp, nâng cao bảo vệ quyền sáng chế, thương hiệu và bản quyền; thành lập Tổchức Thương mại quốc tế (WTO) để kiểm soát hệ thống trao đổi buôn bán quốc tế.Bảng 1.1 tóm tắt những ảnh hưởng của hiệp định GATT đối với các mức thuế trungbình cho các hàng hóa sản xuất công nghiệp Như chúng ta có thể thấy, mức thuế trungbình đã giảm một cách rõ rệt từ 1950 và hiện tại đang ở con số 39%

Vào cuối năm 2001, WTO khởi xướng một vòng đàm phán mới nhằm mục đích

tự do hóa thương mại thế giới và cơ cấu đầu tư Lần đàm phán này diễn ra tại Doha,thủ đô của Qatar Tại Doha, các nước thành viên thiết lập chương trình nghị sự.Chương trình được dự kiến diễn ra trong 3 năm, tuy nhiên nếu lịch sự là một bài họckinh nghiệm, nó đã có thể kéo dài hơn Chương trình bao gồm việc cắt giảm thuế củacác mặt hàng công nghiệp, giảm bớt rào cản thương mại đối với các dự án đầu tưxuyên quốc gia (FDI); và giới hạn việc áp dụng chính sách chống phá giá Thành cônglớn nhất có thể thấy được là về nông sản: mức thuế nông nghiệp trung bình sẽ xoayquanh con số 40%, và các quốc gia giàu mạnh sẽ chi 3 tỉ đôla trợ cấp mỗi năm để hỗtrợ ngành nông nghiệp của nước nhà Những quốc gia nghèo nhất thế giới sẽ có lợinhiều nhất trong việc bởi những cải cách như thế sẽ cho cơ hội đặt chân vào thị trườngcủa các nước đã phát triển

Bên cạnh việc giảm bớt các rào cản, nhiều quốc gia đã có bức tiến nhanh trongviệc thoá bỏ những điều cấm đối với việc đầu tư trực tiếp quốc tế (FDI) Theo Hoa Kỳ,gần 95% trong 1393 sự thay đổicủa nghị định của chính phủ về đầu tư trực tiếp quốc tế

từ năm 1991 đến 2001 trên toàn thế giới đã tạo ra một môi trường dễ tốt đẹp hơn choFDI Mục đích của chính phủ là tạo điều kiện cho việc đầu tư FDI đã được chứng minhbằng sự tăng mạnh của các hiệp ước đầu tư song phương với nội dung bảo vệ và đẩy

Trang 16

mạnh việc đầu tư giữa hai nước Cụ thể năm 2002, có đến 2099 hiệp ước như thế đến

từ hơn 160 quốc gia trên toàn thế giới, tăng 10 lần so với 181 hiệp ước năm 1980

Những xu hướng trên đã tạo điều kiện cho việc toàn cầu hóa th trường cũng nhưtoàn cầu hóa sản xuất Việc gỡ bỏ các rào cản thương mại quốc tế đã giúp thị trườngcủa các công ty rộng ra toàn cầu chứ không giới hạn ở một quốc gia nào Đồng thời cáccông ty có thể đặt cơ sở sản xuất của mình ở địa điểm tối ưu để hoạt động Cho nên,một công ty có thể thiết kế một sản phẩm ở quốc gia này, sản xuất linh kiện ở hai quốcgia khác, lắp rắp linh kiện lại ở một quốc gia khác, và sau đó xuất khẩu sản phẩm cuốicùng ra toàn thế giới

Việc gỡ bỏ các rào cản thương mại cũng tạo điều kiện cho việc toàn cầu hóa sảnxuất Theo thông tin từ WTO, từ năm 1950 số lượng sản phẩm được đem ra trao đổităng nhanh hơn số lượng sản phẩm sản xuất Từ năm 1950 đến 2002, thương mại quốc

tế đã tăng gấp hơn 20 lần, gấp 3 lần lượng sản phẩm được sản xuất ra tăng 7 lần Nhưđược thể hiện trong biểu đồ 1.1, sự tăng trưởng của thương mại quốc tế có bước nhảyvọt từ năm 1990

Tuy nhiên, vào năm 2001 xu hướng dài hạn này bỗng có sự tụt dốc Lượng sảnphẩm trao đổi trên toàn quốc giảm 1% vào năm 2001, lần sụt giảm đầu tiên sau hai thế

kỉ, trong khi lượng sản phẩm sản xuất ra tăng mờ nhạt 1% Mặc dù lượng sản phẩmđược đem trao đổi tăng trở lại 2.5% vào năm 2002 nhưng vẫn còn kém xa so với tốc độtrung bình 6.7% đã đạt được trong những năm 1990 Kinh tế thế giới bị đình trệ vàonăm 2001 và 2002 cùng với thiệt hại kinh tế từ cuộc khủng bố nhằm vào Hoa Kỳ ngày

11 tháng 9 năm 2001 là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự sụt giảm trong thương mạiquốc tế If his… , sự sụt giảm này chỉ là diễn ra rất ngắn, dù cho ảnh hưởng của cuộcchiến Irac và Hội chứng Hô hấp Cấp tính nặng (bệnh dịch SARS) cũng được cho là đãdẫn đến việc tăng trưởng chậm chạp của thương mại và sản lượng trong suốt năm2003

Trang 17

Chương 1: Toàn cầu hóa

Mặc dù có sự giảm sút gần đây, số liệu được thể hiện trong biểu đồ 1.1 đã làm

rõ hai vấn đề Đầu tiên, ngày càng nhiều công ty theo gót của Boeing trong việc sảnxuất ra chiếc 777: phân chia việc sản xuất các bộ phận đến những địa điểm khác nhautrên toàn quốc nhằm giảm chi phí và nâng cao chất lượng Thứ hai, nền kinh tế của cácquốc gia dân tộc trên thế giới ngày càng quấn chặt vào nhau Khi mà thương mại được

mở rộng các quốc gia ngày lệ thuộc vào nhau đối với các hoàng hóa và dịch vụ quantrọng

Những bằng chứng trên cũng nói lên rằng việc đầu tư trực tiếp quốc tế đangđóng một vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu khi mà càng nhiềucông ty đầu tư mạnh hơn qua các nước khác Lượng FDI đầu tư trung bình hằng nămtăng từ khoảng 25 tỉ đôla năm 1975 lên con số kỉ lục 1.3 nghìn tỉ đôla năm 2000

Tuy nhiên, cũng giống như thương mại quốc tế, dòng vốn FDI cũng giảm súttrong năm 2001, còn 735 tỉ đôla, và xuống đền khoảng 534 tỉ trong năm 2002 cũng vìnhững lý do ở trên Mặc dù có sự trì trệ trong những năm 2001 và 2002, dòng vốn FDIkhông chỉ tăng nhanh over the last quarter century, mà còn tăng nhanh hơn so với sựtăng trưởng của thương mại thế giới Ví dụ như giữa năm 1990 và 2000, dòng vốn FDI

từ các quốc gia tăng gấp năm lần, trong khi thương mại thế giới tăng gần 82% và sảnlượng đầu ra thế giới tăng gần 23% Với việc dòng vốn FDI tăng trưởng mạnh, kết quả

là cổ phiếu quốc tế của FDI đạt đến mốc 6,6 nghìn tỷ USD Nhìn chung, có 65000công ty mẹ sở hữu hơn 850000 chi nhánh trên thị trường ngoại ngoại quốc

Toàn cầu hóa thị trường và sản xuất, tăng trưởng thương mại thế giới, đầu tưnước ngoài trực tiếp, và xuất khẩu đều chỉ ra rằng các công ty đang nhận thấy việc thịtrường sân nhà của mình đang bị các đối thủ bên ngoại tấn công Như ở Nhật Bản, cáccông ty Hoa Kỳ như Kodak, Procter & Gamble, và Merrill Lynch đang ngày càng xuấthiện nhiều Tương tự đối với Hoa Kỳ, các nhà sản xuất xe ô tô Nhật Bản đã chiếm lấythị phần của General Motors và Ford Châu Âu cũng không ngoài lệ, công ty Phillips

Trang 18

của Hà Lan, từng độc chiếm thị trường hàng tiêu dùng điện tử, giờ cũng chứng kiến thịphần của mình bị công ty JVJ, Matsushita và Sony của Nhật Bản lấy mất.

Nhưng việc giảm bớt các rào cản thương mại không phải là không phải là hoànhảo Như chúng ta có thể thấy trong những chương tiếp theo, trên thế giới vẫn cónhững quốc gia yêu cầu sự “bảo vệ” khỏi những công ty nước ngoài, kể cả Hoa Kỳ.Mặc dù việc thi hành lại các chính sách hạn chế thương mại của những năm 20, 30 thế

kỉ XIX là điều khó có thể xảy ra, nhưng cũng không chắc rằng liệu các tổ chức chínhtrịtrong thế giới công nghiệp hóa này có thích giảm tải các rào cản thương mại haykhông Nếu việc giảm tải rào cản thương mại kết thúc, ít nhất cho đến bây giờ, nó sẽ làcái phanh kìm hãm việc toàn cầu hóa cả thị trường lẫn sản xuất

VAI TRÒ CỦA NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA CÔNG NGHỆ

Việc giảm bớt các rào cản thương mại có thể dẫn đến việc toàn cầu hóa thịtrường và sản xuất chỉ là lý thuyết nhưng những thay đổi về kĩ thuật đã khiến nó trở sựthật hiển nhiên Từ kết thúc Thế chiến thứ 2, thế giới đã có đạt được những bước pháttriển nhảy vọt trong liên lạc, xử lý thông tin và chuyển giao công nghệ, bao gồm cả sựbùng nổ của Internet và Hệ thống mạng lưới toàn cầu (World Wide Web) Theo như lờicủa Renato Ruggiero, Tổng giám đốc của WTO,

Hệ thống liên lạc viễn thông đang tạo ra một sân khấu toàn cầu Giao thông vậntải đang tạo ra một ngôi làng toàn cầu Từ Buenos Aires đến Bostom đến Beijing,người dân đang xem MTV, họ mặc quần jean hiệu Levis, và họ nghe nhạc bằng máyWalkmans của Sony trên đường đến công sở

MẠCH VI XỬ LÝ VÀ VIỄN THÔNG

Có lẽ sự đổi mới quan trọng bậc nhất là sự phát triển của các mạch vi xử lý, nó

đã dẫn đến sự phát triển nổi trội của những hệ thống vi tính năng suất cao, chi phí thấp,tăng nhanh lượng thông tin được xử lý bởi cá nhân và các doanh nghiệp Các mạch vi

Trang 19

Chương 1: Toàn cầu hóa

xử lý cũng đã tăng cường sự viễn thông toàn cầu Trong 30 năm vừa qua, viễn thôngtoàn cầu đã được cải tiến với những sự phát triển của vệ tinh, cáp quang, công nghệkhông dây và bây giờ là Internet và hệ thống mạng lưới toàn cầu (World Wide Web).Những kỹ thuật trên phụ thuộc rất nhiều vào các mạch vi xử lý để mã hóa, truyền phát,

và đọc lượng thồng tin khổng lồ được truyền qua những những đường dây điện cao áp.Chi phí để sản xuất ra các mạch vi xử lý ngày càng giảm trong khi hiệu suất lại càngtăng (hiện tượng này được gọi là Định luật Moore, cho rằng hiệu suất của các mạch vi

xử lý sẽ tăng gấp đôi trong khi chi phí sản xuất giảm một nữa cứ mỗi 18 tháng) Và vìvậy, chi phí cho việc liên lạc toàn cầu cũng giảm và việc tổ chức và điều khiển một tổchức thế giới cũng ít tốt kém hơn Như có thể thấy giữa 1930 và 1990, giá của mộtcuộc gọi 3 phút từ Newyork và London giảm từ 244.65 USD xuống còn 3.32 USD.Đến 1998 chỉ còn có 36% đối với người sử dụng và còn thấp hơn nhiều đối với doanhnghiệp

MẠNG MÁY TÍNH (INTERNET) VÀ HỆ THỐNG MẠNG LƯỚI TOÀN CẦU (WORLD WIDE WEB)

Sự tăng trưởng vượt bậc của Internet và Hệ thống mạng lưới toàn cầu (là một hệthống sử dụng Internet để liên lạc giữa các trang Web) là biểu hiện cuối cùng của sựphát triển này Trong 1990, gần 1 triệu người sử dụng đã kết nối với Internet Đến

1995, con số đã tăng lên 50 triệu Trong 2002, đã tăng lên trong tầm 580 đến 650 triệu.Các dự báo cho rằng đến năm 2005, Internet sẽ có hơn 1.12 tỉ người sử dụng, gần 18%dân số thế giới Tháng 7/1993, gần 1.8 triệu máy chủ đã kết nối với Internet (các máychủ địa phương) Tháng 1/2003 có 172 triệu máy chủ và con số vẫn còn tăng lên rấtnhanh Ở Hoa Kỳ, nơi mà Internet phát triển mạnh nhất, 60% dân số kết nối vớiInternet tại nhà vào 2002 Tốc độ phát triển của Internet hiện nay đang chậm lại ở Hoa

Kỳ vì thị trường đã trở nên bão hòa Tuy nhiên, đa số các nhà quan sát cho rằng nguyênnhân là do phần lớn tốc độ kết nối Internet vẫn còn chậm (kết nối bằng đường dây điệnthoại), và họ tin rằng một khi các kết nối có tốc độ cạo trở nên phổ biến hơn (như cáp

Trang 20

mondem có thể truyền dữ liệu nhanh gấp 1000 lần so với kết nối qua đường dây điệnthoại bằng modem truyền thống), chúng ra sẽ chứng kiến một sự biến đổi mạnh tronglượng giao thông trên các trang Web Vào 2002, số hộ gia đình sử dụng dạng thức kếtnối tốc độ cao “broadband” tăng lên 59% đạt con số 33 triệu.

Internet và Hệ thống mạng lưới toàn cầu hứa hẹn sẽ phát triển trở thành trụ cộtthông tin của nền kinh tế toàn cầu Theo Forrester Research, trị giá của các giao dịchthông qua các trang Web lên đến 657 triệu USD trong 2002, từ gần như là con số

không trong 1994 và đến 2004 đã có thể tăng lên 6.8 nghìn tỷ USD, trong đó Hoa Kỳchiến 47% trong số tổng các giao dịch (hình 1.2) Nhiều giao dịch thông qua các trangWeb không phải là giao dịch giữa doanh nghiệp và khách hàng (còn gọi là e-commerce), mà là giao dịch giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (hay là e-business)

Hình 1.2 Một thế giới đang thu nhỏ Nguồn: P.Dickeb, Global Shift (New York: Guiford Press, 1992), p.104.

Trang 21

Chương 1: Toàn cầu hóa

Tiềm năng lớn nhất hiện nay của các trang Web có lẽ là ở mảng doanh nghiệp vàdoanh nghiệp

Phần trăm thương mại giữa các nước cũng tăng theo sự gia tăng của số lượnggiao dịch thông qua các trang web Quan sát trên toàn thế giới, các trang Web ngàycàng có vai trò san bằng hóa mọi việc Nó xóa bỏ những hạn chế do vị trí, phạm vi vàmúi giờ mang lại Các trang Web cho phép các doanh nghiệp, dù lớn hay nhỏ, hiệndiện ở mọi nơi với chi phí thấp nhất từ trước đến nay Một thí dụ là công ty nhỏ khởinghiệp tại California, Cardiac Science, sản xuất máy khử rung và máy đo nhịp tim.Vào 1996, Cardiac Science mong muốn gia nhập vào thị trường toàn cầu nhưng khôngbiết cách để thành lập chi nhánh quốc tế Đến khoảng 1998, công ty đã bán sản phẩmcho khách hàng ở 46 nướ và doanh thu quốc tê góp 1.02 triệu USD vào tổng doanh thu1.2 triệu USD của công ty Đến 2002, tổng doanh thu đã tăng lên nhờ vào dòng sảnphẩm mới, trong đó có 17.5 triệu USD là doanh thu bán hàng cho các khách hàng ở 50quốc gia Mặc dù một vài vụ làm ăn thực hiện thông qua các kênh xuất khẩu truyềnthống, một phần lớn là nhờ những lần ghé thăm đến website của công ty, mà theo CEOcủa công ty là “thu hút những thương quốc tế như là ong tìm mật” Tương tự, 10 nămtrước không ai nghĩ rằng một công ty nhỏ của nước Anh có trụ sở ở Stafford lại có thểxây dựng một thị trường toàn cầu cho mình bằng cách khai thác tối đa Internet, nhưng

đó chính là chuyện mà Bridgewater Pottery đã làm Bridgewatter từ lâu bán các sảnphầm gốm qua các kênh xuất khẩu, nhưng công ty thấy rằng để tìm được các nhà bán

lẻ thì rất khó và gian nan Từ khi thành lập trang Web vào 1997, Bridgewater giao dịchđược với rất nhiều khách hàng ở nhiều quốc gia khác nhau mà họ không thể mua bánqua những kênh phân phối hiện có hoặc phải tốn rất nhiều chi phí Các trang Webkhiến người mua và người bán dễ dàng tìm gặp nhau hơn dù cho họ ở đâu và có quy

mô cỡ nào

Hình 1.2 Một thế giới đang thu nhỏ Nguồn: P.Dickeb, Global Shift (New York: Guiford Press, 1992), p.104.

Trang 22

CÔNG NGHỆ VẬN CHUYỂN

Bên cạnh sự phát triển của công nghệ giao tiếp, một số cách tân nổi bật trongcông nghệ vận chuyển cũng xuất hiện từ Chiến tranh thế giới thứ hai Nếu xét theo phíacạnh kinh tế, quan trọng nhất là sự phát triển của máy bay phản lực thương mại, tàuchở hàng và sự ra mắt của việc thiết kế tàu hay bến cảng để vận chuyển côngtenơ,những công nghệ này đã đơn giản hóa việc vận chuyển bằng tàu từ nơi này đến nơikhác Sự có mặt của máy bay phản lực thương mại đã giảm thời gian di chuyển từ nơinày đến nơi khác, góp phần thu nhỏ trái đât một cách đáng kể Xét phương diện thờigian di chuyển, New York bây giờ “gần” Tokyo hơn là Philadelphia vào những ngàythuộc địa

Sự lắp đaẹt đã cách tân thương mại vận chuyển, đặc biệt giảm chi phí chuyểnhàng đường dài Trước khi có containerzation, vận chuyển hàng hóa từ địa điểmchuyển chở này đến địa điểm chuyên chở khác cần nhiều nhân lực, tốn nhiều thời gian

và tiền bạc Để chất hàng và dỡ hàng lên xuống xe tài hay xe lửa có thể mất vài ngày

và cần hàng trăm người khuân vác Nhờ sự containerzation ngày càng trở nên phổ biếnvào những năm 70, 80 của thế kỉ 20 mà cả quá trình chỉ cần một vài nhân công trongvòng 2 ngày Từ 1980, đội tàu thủy được thiết kể để chở côngtenơ đã tăng gấp 4 lần,phần nào phản ánh số lượng thương mại xuyên quốc gia đang tăng cao cũng như sựchuyển đổi dần sang loại hình chuyên chở này Một trong những lợi ích mà việccontainerization mang lại là việc cắt giảm rất nhiều chi phí vận chuyển, khiến việcchuyển chở hàng hóa ngày càng tiết kiệm hơn và vì thế đẩy mạnh quá trình toàn cầuhóa thị trường và sản xuất Giữa 1920 và 1990, trung bình chi phí mỗi tấn hàng xuấtnhập khẩu ở Mỹ thông qua cac chuyến tàu chở hàng và ở các cảng biển đã tụt từ 95đôla xuống còn 29 đô la (tính theo giá đôla 1990) Chi phí chuyên chở mỗi tấn hàngtrên mỗi dặm đường ray xe lửa của Hoa Kỳ giảm từ 3.04 xu năm 1985 còn 2.3 xu năm

2002, và phần lớn lợi ích này là do việc containfer mang lại Giờ đây ngày còn cónhiều hàng hóa được vận chuyển bằng đường không Giữa 1955 và 1999, doanh thu

Trang 23

Chương 1: Toàn cầu hóa

trung bình của việc vận chuyển băng đường không giảm hơn 80% Phản ánh việc giảmgiá trên, khoảng 2002 việc chuyển chở bằng đường không chiếm 28% giá trị hàng hóavận chuyển của Mỹ, tăng từ 7% ở năm 1965

QUẢN LÝ TẬP TRUNG

Homer Simpson - một thương hiệu toàn cầu

Nếu 1 cuộc thăm dò được tổ chức để xác định gia đình “rắc rối” được yêuthích trên thế giới, gia đình Simpson có lẽ sẽ giành chiến thắng trong tầm tay Công tyThe Fox Broadcasting sản xuất những thước phim về cuộc sống và những tình huốngcủa ông Homer và cả gia tộc, đó là bộ phim hoạt hình được đồ họa dài nhất trong lịch

sử các chương trình tivi Khoảng 60 triệu người ở hơn 70 đất nước mở tivi hàng tuần

để xem sự khôi hài của gia đình Simpson Bộ phim phổ biến ở khắp nơi, với lượngkhán giả chia đều 50/50 cả người lớn và trẻ em, tỷ lệ khán giả ngày càng tăng khắp cácnước từ Tây Ban Nha cho tới Nhật Bản Tạp chí Time gọi “Gia đình Simpson” làchương trình tivi hay nhất thế kỉ 20 Trưởng bộ môn Triết Đại học Manitoba viết mộtbài tuyên bố là “Gia đình Simpson” là chương trình truyền hình sâu sắc nhất

Khi mà sức hấp dẫn của chương trình vẫn còn thì không còn nghi ngờ nào vềviệc ông Homer và gia đình đang trở thành một thương hiệu toàn cầu đầy quyền lực.Fox và công ty mẹ News Corporation không chỉ có lợi từ bản quyền khổng lồ củachương trình mà họ còn thu lợi từ việc bán hình ảnh các nhân vật Từ khi ra đời năm

1990, “Gia đình Simpson” đã tạo ra hơn 1.2 tỉ đôla từ việc bán lẻ cà vạt, phần lớn tiêuthụ bên ngoài nước Mỹ Hơn 60 thương hiệu lớn và đối tác marketing trên khắp thếgiới sử dụng hình ảnh gia đình Simpson để bán mọi thứ từ giấy vệ sinh ở Đức, kẹosôcôla Kit Kat và khoai tây chiên ở Anh, búp bê El Cortes Bart Simpson ở Tây BanNha, cho tới bộ vi xử lí của Intel ở Mỹ Clinton Cards- một công ty bán lẻ thiệp chúcmừng sử dụng ngày của cha (Father’s Day) trong năm 2000 như một cơ hội hoàn hảo

Trang 24

để tìm kiếm người cha ở nước Anh có cách cư xử tương tự như ông Homer Simpson.Cuộc thi đã tung ra trên 692 câu chuyện và được quảng cáo hỗ trợ trên tivi.

Vậy điều gì sẽ xảy đến tiếp theo cho gia đình Simpson? Fox đã cẩn thận hơn khiquản lí việc cấp giấy phép sử dụng hình ảnh, để ông Homer và cả gia tộc không bị lạmdụng, phổ biến theo các cách không phù hợp Theo Matt Groening, tác giả của chươngtrình, “gia đình Simpson là một hình ảnh thương mại và chúng tôi giữ cho những kếhoạch tài chính diễn ra tự nhiên nhất Chúng tôi đã cố gắng để gia đình Simpson khôngchỉ đánh vào nhãn hiệu, chúng tôi không đánh vào những hình ảnh được vẽ trên sảnphẩm Chúng tôi cố làm những món đồ dí dỏm, và đôi khi chúng tôi giải thích trên đó

sự phi lí của chính sản phẩm Trong ngắn hạn, Fox cố đảm bảo rằng những nhân vậtcủa “Gia đình Simpson” được sử dụng một cách phù hợp nhất với sự bất kính tự nhiênnhất của chính chương trình Nếu chúng tôi không làm vậy, chúng tôi có thể mất đi sựtin cậy của người hâm mộ và chúng tôi có thể đảm bảo rằng điều đó sẽ không xảy ra.”

Nguồn: D Finigan, “Homer Impovement”, Brandweek, ngày27/11/2000, trang22-25 ; “The Simpson -Picking a Winner”, ngày 29/6 /2000, trang 28-29; T.Chapman,

“Licensing Done Right”, Marketing, ngày 2/12 /2002 trang 14

TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI TOÀN CẦU HÓA SẢN XUẤT.

Cũng giống như những chi phí vận chuyển ảnh hưởng tới toàn cầu hóa sản xuất,việc phân tán sản xuất ở các địa điểm địa lý riêng biệt đã trở nên tiết kiệm hơn Nhưmột kết quả của việc đổi mới công nghệ, cái giá thực sự của việc tiếp cận thông tin vàgiao tiếp đã giảm đáng kể trong 2 thập kỉ qua Sự phát triển này có thể làm cho mộtcông ty tạo ra và sau đó là quản lí hệ thống phân phối sản phẩm toàn cầu, tiếp tục tạođiều kiện thuận lợi cho việc toàn cầu hóa sản xuất

Một mạng lưới thông tin liên lạc toàn cầu là cần thiết cho nhiều doanhnghiệp quốc tế Ví dụ như công ty máy tính Dell sử dụng internet để phối hợp và điềukhiển hệ thống phân phối sản phẩm toàn cầu, chỉ có ba ngày để hàng tồn kho tại các

Trang 25

Chương 1: Toàn cầu hóa

địa điểm lắp ráp Hệ thống internet của Dell dựa trên việc ghi lại các đơn hàng thiết bịmáy tính, cũng như việc chúng được gửi bởi khách hàng thông qua trang web của công

ty, sau đó ngay lập tức truyền lại kết quả đặt hàng tới các nhà cung cấp trên khắp thếgiới - là những người có một cái nhìn xác thực dòng lệnh đặthàng của Dell và có thể điều chỉnh lịch trình sản xuất cho phù hợp Với chi phí vận tảihàng không thấp, Dell có thể sử dụng dịch vụ vận chuyển này để đẩy nhanh tốc độcung cấp linh kiện, đáp ứng nhu cầu bất thường, mà không phải trì hoãn thời gian sảnphẩm cuối cùng tới khách hàng Dell cũng đã sử dụng công nghệ liên lạc hiện đại, thuê

Ấn Độ trong hoạt động dịch vụ khách hàng Khi một khách hàng ở Mỹ gọi cho Dellvới một yêu cầu dịch vụ, họ sẽ được chuyển đường dây tới Bangalore ở Ấn Độ, nơi màcác nhân viên xử lý các cuộc gọi bằng tiếng Anh

Sự phát triển của máy bay thương mại đã giúp kết nối các hoạt động của nhiềudoanh nghiệp quốc tế Sử dụng máy bay, một cô giám đốc người Mỹ chỉ cần nhiềunhất một ngày để thăm các hoạt động của công ty cô ấy ở châu Âu hoặc châu Á Điềunày cho phép cô ấy có thể giám sát một hệ thống sản xuất phân tán trên toàn cầu

Ý NGHĨA CỦA TOÀN CẦU HÓA THỊ TRƯỜNG KINH DOANH

Ngoài ra, đổi mới công nghệ cũng đã tạo điều kiện cho toàn cầu hóa thị trường.Như đã nói ở trên, chi phí vận chuyển thấp đã giúp tiết kiệm hơn, đưa sản phẩm đikhắp thế giới, qua đó tạo ra thị trường toàn cầu Chi phí của việc thông tin liên lạc toàncầu thấp đang giúp xây dựng nên một thị trường điện tử toàn cầu Ngoài ra, chi phí dulịch thấp đã dẫn đến sự di chuyển nhiều hơn của người dân giữa các nước Việc nàygiúp giảm khoảng cách về văn hóa và mang lại một số điểm chung cho thị hiếu tiêudùng và sở thích Cũng tại thời điểm này, các phương tiện truyền thông toàn cầu đangtạo ra một nền văn hóa trên toàn thế giới Các kênh tivi của Mỹ như CNN, MTV, HBOđược chấp nhận ở nhiều nước, các bộ phim Hollywood đang được trình chiếu khắp thếgiới Ở một vài nước, truyền thông là phương tiện truyền tải văn hóa chủ yếu; như vậy

Trang 26

hóa toàn cầu Một kết quả tất yếu của sự phát triển là sự xuất hiện của thị trường toàncầu cho các sản phẩm tiêu dùng

Dấu hiệu đầu tiên của việc này đã rõ ràng Bây giờ để tìm kiếm một nhà hàngMcDonald ở Tokyo cũng dễ dàng như việc tìm thấy nó ở New York, mua một cái SonyWalkman ở Rio cũng như ở Berlin, mua một cái quần jean Levi ở Paris cũng như ở SanFrancisco

Dù vậy, với xu hướng này, chúng ta phải cẩn thận để không phóng đại tầm quantrọng của chúng Trong khi các phương tiện giao tiếp hiện đại và chuyển giao côngnghệ đang mở ra trong “ngôi làng toàn cầu”, sự khác biệt quốc gia vẫn còn giữ vai tròquan trọng đối với văn hóa, sở thích của người tiêu dùng và tập quán kinh doanh Mộtcông ty phủ nhận khác biệt văn hóa giữa các nước là đang đẩy mình vào vòng nguyhiểm Chúng ta sẽ nhấn mạnh điểm này xuyên suốt cuốn sách và xây dựng nó trongchương sau

THAY ĐỔI CƠ CẤU DÂN SỐ CỦA NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, cơ cấu dân số đã thay đổi đáng kể trong hơn

30 năm nay Vào cuối những năm 60, có bốn sự kiện được cách điệu hóa để mô tả cơcấu dân số của nền kinh tế toàn cầu Thứ nhất là sự thống trị của Mỹ trong kinh tế thếgiới và toàn cảnh bức tranh thương mại toàn cầu Thứ hai là sự thống trị của Mỹ tronglĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới Liên quan đến điều này là điều thứ

ba, đó là sự thống trị của các công ty đa quốc gia của Mỹ trong kinh doanh quốc tế.Điều thứ tư là gần một nửa kinh tế toàn cầu - các nền kinh tế kế hoạch tập trung củacác nước xã hội chủ nghĩa - không phải là nơi kinh doanh của các doanh nghiệpphương Tây Nó sẽ được giải thích dưới đây, cả bốn yếu tố này đã thay đổi hoặc khôngthay đổi một cách nhanh chóng

Trang 27

Chương 1: Toàn cầu hóa

Sự thay đổi của sản lượng thế giới và bức tranh về thương mại thế giới

giới năm 1963

Thị phần sản lượng thếgiới năm 2001 - 2002

Thị phần xuất khẩuthế giới năm 2002

Bảng 1.2: Mô hình thay đổi của sản lượng và xuất khẩu trên thế giới

* Số liệu năm 1963 của Đức đề cập đến Tây Đức trước đây

** Số liệu của Trung Quốc bao gồm cả HongKong

Sản lượng được đo bằng tổng sản phẩm quốc gia ở sức mua tương đương

Nguồn : số liệu xuất khẩu từ Tổ chức Thương mại thế giới, International TradeTrends and Statistics, 2002; số liệu sản lượng thế giới từ CIA World Factbook, 2003

Vào đầu những năm 60, nước Mỹ vẫn thống trị ngành công nghiệp thế giới.Năm 1963, Mỹ chiếm 40.3% sản lượng thế giới Năm 2000, Mỹ chiếm 27% sản lượngthế giới, cho đến nay, Mỹ vẫn là nền công nghiệp quyền lực nhất thế giới, nhưng sảnlượng đã giảm đáng kể nếu tính tương đối so với thế giới từ những năm 1960 (xembảng 1.2) Mỹ không phải là quốc gia phát triển duy nhất có sự trượt dốc vị trí tươngđối Điều tương tự xảy ra ở Đức, Pháp và Anh, đều là một trong số các quốc gia côngnghiệp hóa đầu tiên Sự giảm sút này theo quan điểm của Mỹ, không phải là một sựsuy giảm tuyệt đối, vì nền kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ trung bình hàng

Trang 28

năm hơn 3% từ 1963 đến 2000 (nền kinh tế của Đức, Pháp, Anh cũng phát triển trongthời gian này) Đúng hơn là nó là một sự suy giảm tương đối, phản ánh sự tăng trưởngnhanh hơn của các nền kinh tế khác, đặc biệt là ở Châu Á Chúng ta có thể thấy từ bảng1.2, từ 1963 đến 2002, sản lượng so với thế giới của Trung Quốc tăng từ không có sốliệu ghi nhận đến 12.77% Các nước khác tăng đáng kể sản lượng bao gồm Nhật, TháiLan, Malaysia, Đài Loan và Hàn Quốc.Cuối những năm 80, vị trí xuất khẩu dẫn đầuthế giới của Mỹ bị đe dọa Hơn 30 năm trước, sự thống trị của Mỹ trên thị trường xuấtkhẩu đã suy yếu dần, bởi Nhật, Đức và một số các nước công nghiệp mới phát triểnnhư Hàn Quốc và Trung Quốc đã chiếm lấy một lượng lớn thị phần xuất khẩu thế giới.Trong suốt những năm 60 của thế kỉ 20, Mỹ thường xuyên có 20% sản lượng xuấtkhẩu thế giới Nhưng như bảng 1.2 cho thấy, thị phần này đã bị tụt xuống 11.9% trongnăm 2002 Mặc dù suy giảm nhưng Mỹ vẫn còn là nước xuất khẩu lớn nhất của thếgiới, trên cả Đức và Nhật.

Trong năm 1997-1998, các nền kinh tế năng động của khu vực Châu Á TháiBình Dương đã trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, đedọa làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế của họ trong nhiều năm Mặc dù vậy, tốc độtăng trưởng mạnh mẽ của các nước này vẫn có thể tiếp tục trong thời gian dài, cũngnhư một số nền kinh tế quan trọng khác đang nổi lên ở Mỹ Latinh (Brazil) và Đông Âu(Ba Lan) Do đó, một sự suy giảm tương đối nhiều hơn nữa trong thị phần sản lượng vàxuất khẩu thế giới của Mỹ và các quốc gia phát triển lâu đời là có khả năng xảy ra Bởi

vì, điều này không phải là xấu Sự suy giảm tương đối của Mỹ phản ánh sự tăngtrưởng kinh tế và công nghiệp hóa của thế giới, và vì không có bất

kỳ sự suy giảm tuyệt đối nào của kinh tế, Mỹ bước vào thiên niên kỷ mới mạnh mẽhơn bao giờ hết Nếu chúng ta nhìn vào tương lai 20 năm sau, hầu hết các dự báo đều

dự đoán một sự gia tăng nhanh chóng trong sản lượng thế giới của các nước đang pháttriển như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Hàn Quốc, Mexico, Brazil và đó là

từ sự suy giảm tương ứng của các nước công nghiệp phát triển như Anh, Đức, Nhật và

Mỹ Ngân hàng Thế giới ước tính nếu xu hướng này tiếp tục, năm 2020 nền kinh

Trang 29

Chương 1: Toàn cầu hóa

tế Trung Quốc có thể lớn hơn Mỹ, trong khi Ấn Độ sẽ thay thế vị trí của Đức Ngânhàng Thế giới cũng cho rằng các quốc gia đang phát triển hiện nay sẽ chiếm hơn 60%hoạt động kinh tế thế giới vào 2020, trong khi các nước phát triển hiện đang chiếm trên55%, có thể chỉ còn giữ khoảng 38% hoạt động kinh tế thế giới Dự báo không phải lúcnào cũng đúng, nhưng nó cho thấy một sự thay đổi bản đồ kinh tế thế giới, mặc dù tầmquan trọng của sự thay đổi này vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng Đối với các doanhnghiệp quốc tế, những tác động này lại rõ ràng hơn: nhiều cơ hội kinh doanh trongtương lai có thể được tìm thấy ở các nước đang phát triển, và nhiều đối thủ cạnh tranhtiềm tàng cũng sẽ nổi lên từ các khu vực này

Bảng 1.3 Phần trăm cổ phần trên tổng vốn FDI 1980-2001Nguồn : Liên hiệp quốc, World Investment Report, 2002 ( New York andGeneva: United Nations , 2002)

THAY ĐỔI HÌNH ẢNH CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

Trang 30

Biểu hiện cho sự thống trị của kinh tế Mỹ là các công ty Mỹ chiếm đến 66.3%đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn thế giới trong những năm 60 Các công ty Anhđứng thứ 2, ước tính khoảng 10.5%, trong khi các công ty Nhật cách khá xa với chỉ2% Các công ty Mỹ lớn mạnh như vậy thế nên cuốn sách này viết về mối đe dọa kinh

tế đặt ra cho châu Âu bởi các công ty Mỹ Một số chính phủ châu Âu, đáng chú ý nhất

là Pháp, đã nói về giới hạn đầu tư vào trong nước của các công ty Mỹ

Việc giảm các rào cản đối với tự do hàng hoá, dịch vụ, vốn; các nước tăng cổphần của mình ra thế giới, làm cho các công ty ngày càng đầu tư ra bên ngoài biên giớinhiều hơn Động lực đầu tư ra nước ngoài của công ty các nước khác - không phải Mỹ

- là để phân tán các hoạt động sản xuất ở các địa điểm được lựa chọn và xây dựng sựhiện diện trực tiếp tại thị trường nước ngoài Do đó, từ cuối những năm 70, các công tychâu Âu và Nhật bắt đầu chuyển dịch lao động, thay đổi các hoạt động lao động, sảnxuất, chuyển từ thị trường nội địa sang các nước đang phát triển, nơi chi phí lao độngthấp Ngày càng nhiều công ty Nhật đầu tư vào Bắc Mỹ và châu Âu – như là một hàngrào chống lại sự luân chuyển tiền tệ không thuận lợi và có thể áp đặt các rào cảnthương mại Ví dụ như Toyota, một công ty xe hơi của Nhật, tăng nhanh chóng việcđầu tư cơ sở vật chất sản xuất ở Mỹ và Châu Âu từ cuối những năm 80 và đầu nhữngnăm 90 Những nhà điều hành Toyota tin rằng giá đồng yên Nhật ngày càng tăng cóthể làm tăng giá xe hơi xuất khẩu ra nước ngoài, vì thế, việc sản xuất ở nước ngoài làrất quan trọng, có ý nghĩa hơn việc xuất khẩu từ Nhật Toyota cũng đã tiến hành nhữngđầu tư phát triển đầu ra để hạn chế áp lực chính trị của Mỹ và Châu Âu lên xe hơi xuấtkhẩu trong thị trường này

Trang 31

Chương 1: Toàn cầu hóa

Trung Quốc

Bảng 1.4 Dòng vốn FDI 1994 - 2002 (tỉ USD)

Nguồn : Liên Hiệp Quốc, World Investment report, 2002 (New York andGeneva: United Nations , 2002), và Liên Hiệp Quốc, “UNCTAD Predicts 27% Drop inFDI Flows This Year” , Liên Hiệp Quốc phát hành TAD/INF/PR/63, ngày 24 tháng 11năm 2012 Số liệu cho 2002 và ước tính sơ bộ

Một hệ quả của sự phát triển này được minh họa trong hình 1.3, chúng ta thấy

cổ phần của các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài bởi 6 nước lớn nhất thế giới - Mỹ,Anh, Nhật, Đức, Pháp và Hà Lan - đã thay đổi ở khoảng những năm 1980 và 2001 (Cổphần của các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài thường là tổng giá trị tích lũy của đầu tưnước ngoài) Bảng 1.3 cũng cho thấy số cổ phần thường là của các công ty từ nhữngnước phát triển Tỉ lệ cổ phần của các công ty Mỹ giảm đáng kể từ khoảng 42% năm

1980 xuống 21% năm 2001 Trong khi đó, cổ phần chiếm bởi Nhật, Pháp, các nướcphát triển khác và các quốc gia đang phát triển trên thế giới tăng lên một cách rõ rệt.Việc tăng cổ phần của các nước đang phát triển phản ánh xu hướng phát triển chonhững công ty đến từ những nước này, như Hàn Quốc Năm 2001, những công ty ở

Trang 32

những nước đang phát triển chiếm 11.8% cổ phần đầu tư trực tiếp nước ngoài, trongkhi năm 1980 chỉ là 3.1%.

Bảng 1.4 minh họa 2 xu hướng quan trọng khác là sự tăng trưởng bền vững củadòng chảy đầu tư trực tiếp nước ngoài đã xuất hiện trong suốt những năm 90, điều cầnthiết cho những quốc gia đang phát triển như là một đích đến của đầu tư trực tiếp nướcngoài Trong suốt những năm 90, lượng đầu tư trực tiếp từ cả các nước đã và đang pháttriển tăng nhanh chóng, một xu hướng phản ánh việc quốc tế hóa trong các công ty.Việc tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia đang phát triển từ 1998-2000 đãkéo theo các khu ổ chuột trong năm 2001-2002, gắn liền với sự suy giảm trong hoạtđộng kinh tế toàn cầu Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp vào các quốc gia đang phát triển vẫntương đối tốt, trung bình khoảng 200 tỷ đôla hàng năm từ 1998-2002, Trung Quốcđược xem là nước điển hình trong thời điểm này Như chúng ta sẽ thấy sau cuốn sáchnày, việc duy trì dòng chảy đầu tư quốc tế vào các nước đang phát triển là một kíchthích rất quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế ở những nước này, và Trung Quốc,Mexico, Brazil là những nước hưởng lợi đầu tiên từ xu hướng này

BẢN CHẤT SỰ THAY ĐỔI CỦA DOANH NGHIỆP ĐA QUỐC GIA

Một doanh nghiệp đa quốc gia là doanh nghiệp hoạt động sản xuất ở hai nướctrở lên Từ những năm 1960, có 2 xu hướng đáng chú ý ở loại hình doanh nghiệp đaquốc gia: (1) sự tăng lên của các công ty đa quốc gia không phải của Mỹ, đặc biệt làcác công ty của Nhật; (2) là sự tăng trưởng của các công ty đa quốc gia con

Trang 33

Chương 1: Toàn cầu hóa

Bảng 1.5 Quốc gia gốc của các tập đoàn đa quốc gia lớn nhất năm 1973, 1991, 2000Nguồn : dữ liệu cho năm 1973 từ N.Hood và J.Young, The Economics of theMultinational Enterprise (New York : Longman năm 1973), và dữ liệu cho năm 1991

và năm 2000 từ Liên Hiệp Quốc, World Investment Reports năm 1992 và 2002 ( NewYork and Geneva: United Nations năm 2002)

CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA KHÔNG PHẢI CỦA MỸ

Trong những năm 1960, hoạt động kinh doanh toàn cầu bị thống trị bởi các tậpđoàn đa quốc gia khổng lồ của Mỹ Với các công ty Mỹ chiếm khoảng 2/3 lượng đầu

tư trực tiếp nước ngoài trong suốt những năm 1960, điều có thể dự báo là hầu hết cáccông ty đa quốc gia đến từ Mỹ Theo những dữ liệu được tóm tắt trong bảng 1.5, trongnăm 1973, 48.5% trong số 260 công ty đa quốc gia lớn nhất là các công ty Mỹ Đấtnước có nguồn lực lớn thứ 2 là Anh với 18.8% Nhật Bản chiếm 3.5% ở thời điểm này

Số lượng lớn công ty đa quốc gia phản ánh sự thống trị của kinh tế Mỹ trong hơn 3thập niên của chiến tranh thế giới thứ II, trong khi lượng lớn công ty đa quốc gia ở Anh

Trang 34

phản ánh rằng nền công nghiệp của nước này chỉ mới thống trị trong những thập niêngần đây của thế kỉ 20.

Tuy nhiên đến năm 2000, đã có những chuyển dịch đáng kể Các công ty Mỹchỉ chiếm 24% trong 100 công ty đa quốc gia lớn nhất thế giới, theo sau là Nhật với16% và Anh đứng thứ 3 với 14% Mặc dù dữ liệu tóm tắt trong bảng 1.5 không đúngvới dữ liệu sau này (bảng số liệu năm 1973 dựa trên 260 công ty, năm 2000 lại so sánhdựa trên 100 công ty), nhưng chúng đã minh họa cho xu hướng mới Toàn cầu hóa kinh

tế thế giới cùng với sự vươn lên của kinh tế Nhật là kết quả của việc suy giảm tươngđối sự thống trị của các công ty Mỹ (và mức độ thấp hơn là công ty Anh) trong thịtrường toàn cầu Theo số liệu của UN, các tập đoàn đa quốc gia nằm trong bảng xếphạng 100 lớn nhất thế giới thường đến từ các nền kinh tế phát triển.41 Tuy nhiên, lầnđầu tiên đã có những tập đoàn thuộc các nước đang phát triển gia nhập Đó làHutchison Whampoa của Hong Kong, Trung Quốc hạng 48, Petroleos de Venezuelacủa Venezuela hạng 84, và Cemex của Mexico hạng 100.42 Nhìn rộng hơn có thể thấy

có một sự tăng trưởng đáng kể về số lượng các tập đoàn đa quốc gia đến từ các nướcđang phát triển Đầu những năm 2000, 50 tập đoàn lớn nhất đến từ các nước đang pháttriển có doanh thu từ nước ngoài đạt 103 tỷ đôla trên tổng số 453 tỷ đôla tổng doanhthu, tuyển dụng 483,179 lao động nước ngoài Khoảng 22% trong các công ty này đến

từ Hong Kong, 16.7% từ Hàn Quốc, 8.8% ở Trung Quốc, 7.6% từ Brazil Chúng ta có

lý do để tin rằng sẽ có sự tăng trưởng lớn hơn từ các doanh nghiệp mới của các nướcđang phát triển Những công ty này đang nổi lên như một đối thủ quan trọng trong thịtrường toàn cầu, do vậy sẽ tiếp tục chuyển dịch trục kinh tế thế giới ra khỏi Bắc Mỹ vàTây Âu, đe dọa các công ty phương Tây, vốn đã thống trị trong một thời gian dài Mộtđối thủ đang tăng trưởng như vậy là Wipro của Ấn Độ.Công ty TNHH Wipro – Diệnmạo mới của cạnh tranh toàn cầu

15 năm trước, Wipro của Ấn Độ là một tập đoàn kinh doanh hỗn hợp mọi thứ từdầu ăn, đồ dùng cá nhân đến hàng nhái máy tính Dell và cả bóng đèn Đến bây giờ thì

Trang 35

Chương 1: Toàn cầu hóa

nó đã trở thành một công ty chuyên về công nghệ thông tin đi đầu trong lĩnh vực côngnghệ ở Ấn Độ Trong năm 2002, Wipro đạt doanh thu trên 900 triệu đôla, chủ yếu là từcác hợp đồng xuất khẩu trong lĩnh vực công nghệ thông tin Doanh thu của công ty đãtăng 26% một năm kể từ 1997, và tốc độ tăng trưởng không cho thấy dấu hiệu nào của

sự chững lại

Wipro chuyển sang lĩnh vực công nghệ vào đầu thập niên 90, bắt đầu bằng việcbán những phần mềm chuyên môn cho các công ty nước ngoài đang mong muốn giảmchi phí phát triển phần mềm Ấn Độ có một nền tảng khá chắc chắn từ các trường đạihọc và cao đẳng chuyên về công nghệ, khi mà hàng năm có khá nhiều kĩ sư, chuyên giahoàn thành khóa học Trong khi những người phát triển phần mềm ở Mỹ yêu cầu mứclương trên 100,000 đôla/năm, thì ở Ấn Độ con số này chỉ là khoảng 2 đôla/giờ, vàtrung bình thu nhập của họ vào khoảng 8000 đôla/năm Đó có thể không phải là mộtcon số quá lớn, nhưng ở Ấn độ, nơi mà thu nhập bình quân đầu người còn ở mức dưới

500 đôla/năm, con số này có thể đảm bảo một điều kiện sống khá tốt

Ngày nay các nhân viên của Wipro viết phần mềm, tích hợp các giải pháp chocông việc văn phòng, thiết kế bán dẫn, sửa lỗi các ứng dụng, làm theo đơn đặt hàng, và

cả các lĩnh vực hỗ trợ cuộc gọi cho các công ty hàng đầu thế giới Khách hàng củaWipro bao gồm cả General Electric, Hewlett-Packard, Home Depot, Nokia, Sony,Weyerhaeuser Nhờ vào Internet, Wipro có thể duy trì và quản lí các ứng dụng phầnmềm cho nhiều công ty trên toàn thế giới trong cùng một khoảng thời gian Điển hình

là mối quan hệ giữa Wipro với Weyerhaeuser- một trong những công ty gỗ lớn nhất thếgiới Quan hệ kinh doanh này được thiết lập vào 1999, khi mà hai nhân viên đã thựchiện một phân tích hiện đại trên web tại trụ sở chính của Weyerhaeuser, phía namSeattle, Mỹ Năm 2003, Wipro đã hỗ trợ một loạt các hệ thống thông tin choWeyerhaeuser, bao gồm cả hậu cần, bán hàng, ứng dụng nguồn nhân lực từ Bangalore,

Ấn Độ Nhìn chung, ước tính Wipro có thể tiết kiệm cho khách hàng của mình khoảng

Ngày đăng: 12/09/2014, 10:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 tóm tắt những ảnh hưởng của hiệp định GATT đối với các mức thuế trung  bình cho các hàng hóa sản xuất công nghiệp - TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ ĐỀ TÀI TOÀN CẦU HÓA
Bảng 1.1 tóm tắt những ảnh hưởng của hiệp định GATT đối với các mức thuế trung bình cho các hàng hóa sản xuất công nghiệp (Trang 15)
Hình 1.2 Một thế giới đang thu nhỏ Nguồn: P.Dickeb, Global Shift  (New York: Guiford Press, 1992),  p.104. - TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ ĐỀ TÀI TOÀN CẦU HÓA
Hình 1.2 Một thế giới đang thu nhỏ Nguồn: P.Dickeb, Global Shift (New York: Guiford Press, 1992), p.104 (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w