1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Vai trò của Luật Bảo vệ môi trường 2005 trong hệ thống các văn bản nguồn của luật môi trường

23 503 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 82,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh hiến pháp với tư cách là đạo luật gốc có ý nghĩa nền tảng chung, các luật đơn hành cũng chứa đựng nhiều quy định về môi trường hoặc liên quan trực tiếp về môi trường. Có những đạo luật mà nhà nước ban hành để điều chỉnh các vấn đề cụ thể về môi trường song cũng có đạo luật trong đó nhà nước xác định nghĩa vụ chủ thể đối với việc bảo vệ môi trường trong một lĩnh vực cụ thể nào đó như thương mại,giao thông, xây dựng…Trong số các đạo luât được coi là nguồn trước hết phải kể đến các luật đơn hành được ban hành để điều chỉnh các vấn đề cụ thể về môi trường. Luật bảo vệ môi trường 2005 là nguồn cơ bản nhất của pháp luật môi trường Việt Nam hiện hành. Đây là đạo luật dành riêng cho vấn đề bảo vệ môi trường với những quy định cơ bản tập trung thống nhất .

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN:

Vai trò của Luật Bảo vệ môi trường 2005 trong hệ thống các

văn bản nguồn của luật môi trường

Trang 2

I Phần mở đầu

Bên cạnh hiến pháp với tư cách là đạo luật gốc có ý nghĩa nền tảng chung,các luật đơn hành cũng chứa đựng nhiều quy định về môi trường hoặc liên quantrực tiếp về môi trường Có những đạo luật mà nhà nước ban hành để điều chỉnhcác vấn đề cụ thể về môi trường song cũng có đạo luật trong đó nhà nước xácđịnh nghĩa vụ chủ thể đối với việc bảo vệ môi trường trong một lĩnh vực cụ thểnào đó như thương mại,giao thông, xây dựng…Trong số các đạo luât được coilà nguồn trước hết phải kể đến các luật đơn hành được ban hành để điều chỉnhcác vấn đề cụ thể về môi trường Luật bảo vệ môi trường 2005 là nguồn cơ bảnnhất của pháp luật môi trường Việt Nam hiện hành Đây là đạo luật dành riêngcho vấn đề bảo vệ môi trường với những quy định cơ bản tập trung thống nhất

II Tìm hiểu chung

1 Luật Môi Trường:

- Luật môi trường là một lĩnh vực pháp luật gồm tổng hợp các quy phạmpháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trực tiếp trong hoạt động khai thác,quản lý và bảo vệ các yếu tố môi trường

- Đối tượng điều chỉnh của LMT chính là các quan hệ xã hội phát sinhtrực tiếp trong họat động khai thác, quản lý và bảo vệ các yếu tố MT

- LMT sử dụng hai phuơng pháp điều chỉnh sau:

+ Phương pháp Bình đẳng thỏa thuận

+ Phương pháp Quyền uy

- Nguyên tắc của luật môi trường

+ Nguyên tắc Nhà nước ghi nhận và bảo vệ quyền con người được sốngtrong một môi trường trong lành

+ Nguyên tắc phát triển bền vững

+ Nguyên tắc phòng ngừa

+ Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền

+ Nguyên tắc môi trường là một thể thống nhất

2 Luật bảo vệ môi trường:

Luật bảo vệ môi trường số: 52/2005/QH11 được Quốc Hội nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 thay thế cho luật bảo vệmôi trường năm 1993 (có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2006) Với 15 chương,

Trang 3

136 điều, luật bảo vệ môi trường năm 2005 là nguồn cơ bản nhất của pháp luậtmôi trường Việt Nam hiện hành Một nét đặc trưng cơ bản của Luật BVMT sovới các Luật khác là đối tượng và phạm vi điều chỉnh rất rộng, quy định về hoạtđộng BVMT, chính sách, biện pháp và nguồn lực để BVMT Đây là nhữngnguyên tắc hết sức cơ bản và nội dung các nguyên tắc này sẽ chi phối toàn bộcác quy định của Luật BVMT năm 2005.

Một điểm mới so với Luật BVMT năm 1993 đó là sự phân biệt rõ rệt giữacác dự án đầu tư phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược, báocáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và bản cam kết bảo vệ môi trường Ngoài ra Luật còn quy định các tổ chức, cá nhân kinh doanh, dịch vụ phảicông bố, cung cấp thông tin về môi trường có liên quan đến hoạt động của mìnhcho cơ quan chuyên môn về BVMT và cộng đồng dân cư được biết cụ thể nhưBáo cáo ĐTM, quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM; cam kết BVMT; thông tinvề các nguồn thải, các loại chất thải có nguy cơ gây hại tới sức khỏe con ngườivà môi trường Luật BVMT năm 2005 quy định nguồn lực bảo vệ môi trườngnhằm phục vụ cho công tác tuyên truyền, giáo dục và đào tạo nguồn nhân lựccho BVMT; phát triển khoa học, công nghệ và phát triển công nghệ, xây dựngnăng lực dự báo và cảnh báo về môi trường

Luật BVMT năm 2005 quy định cụ thể trách nhiệm quản lý Nhà nước vềBVMT của UBND các cấp và cơ quan chuyên môn về môi trường Tăng cườnghoạt động quản lý và BVMT tại địa phương, phân cấp cụ thể chức năng nhiệmvụ QLMT cho UBND cấp huyện, cấp xã như đăng ký và kiểm tra việc thựchiện cam kết BVMT; Tuyên truyền giáo dục pháp luật về BVMT cho cộngđồng, vận động nhân dân ký hương ước, cam kết về BVMT

Luật BVMT năm 2005 được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện,cập nhật nhiều vấn đề bức xúc, đáp ứng nhu cầu công tác BVMT trong thời kỳcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên vấn đề đặt ra hiện nay làNhà nước ta phải kịp thời xây dựng và ban hành những cơ chế, chính sách, tổchức, bộ máy, chế tài một cách đồng bộ để đưa Luật Bảo vệ Môi trường năm

2005 nhanh chóng đi vào cuộc sống Đây là đạo luật dành riêng cho vấn đề bảovệ môi trường với những nội dung chính sau:

a Chính thức hóa một số khái niêm về môi trường, và các yếu tố của nó.Qui định rõ và cụ thể các nguyên tắc cơ bản về bảo vệ môi trường,chính sáchbảo vệ môi trường ,các hoạt động bảo vệ môi trường được nhà nước khuyếnkhích và các hành vi bị nghiêm cấm

Luật bảo vệ môi trường 2005 đã nêu lên được các khái niệm cơ bản về môitrường và các yếu tố của nó, bảo vệ môi trường được định nghĩa một cách

Trang 4

chuẩn tắc, quyền và nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân đượcquy định cụ thể và rõ ràng Nội dung này được qui định rõ tại Điều 3 các kháiniệm cơ bản

Môi trường có tầm quan trọng đối với con người vì vậy bảo vệ môi trườnglà quan trọng cho đời sống và phúc lợi của người dân nên pháp luật nước ta đã

qui định rõ ràng để các nguyên tắc về bảo vệ môi trường,điều này được qui định

tại Điều 4 Luật bảo vệ môi trường, Điều 5 Chính sách của Nhà nước về bảo vệmôi trường

Những hoạt động bảo vệ môi trường được Nhà nước khuyến khích tại điều

6 Luật bảo vệ môi trường : tuyên truyền, giáo dục và vận động mọi người thamgia bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiênnhiên và đa dạng sinh học; bảo vệ và sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiênnhiên; xây dựng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, cơ quan, cơ sở sản xuất,kinh doanh, dịch vụ thân thiện với môi trường; phát triển các hình thức tự quảnvà tổ chức hoạt động dịch vụ giữ gìn vệ sinh môi trường của cộng đồng dân cư;hình thành nếp sống, thói quen giữ gìn vệ sinh môi trường, xóa bỏ hủ tục gâyhại đến môi trường

Đặc biệt, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định việc xây dựng thóiquen tiêu dùng thân thiện với môi trường, Nhà nước khuyến khích tổ chức, cánhân tiêu dùng các loại sản phẩm tái chế từ chất thải, sản phẩm hữu cơ, bao gói

dễ phân hủy trong tự nhiên, sản phẩm được cấp nhãn sinh thái và sản phẩmkhác thân thiện với môi trường (khoản 1 Điều 34), thực hiện tốt bảo vệ môitrường là một trong những tiêu chí gia đình văn hóa (Điều 53) Đồng thời, nhằm

xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động bảo vệ môi trường, Nhà nước khuyến khíchcộng đồng dân cư thành lập tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường nơi mình sinhsống (Điều 54)

Quán triệt tư tưởng bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân, Luật Bảovệ môi trường năm 2005 cũng quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổchức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tuyên truyền,vận động các thành viên của tổ chức và nhân dân tham gia bảo vệ môi trường;giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường (Điều 124)

Bên cạnh những hoạt động được nhà nước khuyến khích thì Luật bảo vệmôi trường cũng đưa ra những hành vi bị cấm được qui định tại điều 7 của luậtnày

Trang 5

b Xác định trách nhiệm bảo vệ môi trường đối với các ngành thuộc lĩnhvực được qui định tại chương V luật bảo vệ môi trường: Bảo vệ môi trườngtrong hoạt động sản xuất,kinh doanh,dịch vụ như công nghiệp, xây dựng (Điều40), giao thông vận tải (Điều 41), thương mại (Điều 42, 43), khai thác khoángsản(Điều 44) , du lịch, nông nghiệp, thủy sản (Điều 45, 46, 47 ).

c Qui định về bảo vệ môi trường cụ thể đối với từng địa bàn,khuvực,như đô thị, khu dân cư (chương VI bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư),nơi công cộng, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cơ sở sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ, làng nghề (chương V bảo vệ môi trường trong hoạt động sảnxuất kinh doanh dịch vụ), biển, nước sông, công trình thủy lợi, hồ chứa nước(chương VII bảo vệ môi trường biển nước sông và các nguồn nước khác)

d Sử dụng đồng bộ các công cụ,biện pháp quản lí môi trường như: tiêuchuẩn môi trường được quy định trong chương II, đánh giá môi trường từ điều

14 đến điều 23, cam kết bảo vệ môi trường quy định điều 24, 25, 26, 27, quantrắc và báo cáo về môi trường trong chương X, công cụ kinh tế, thanh tra, kiểmtra bảo vệ môi trường

e yêu cầu về bảo vệ môi trường được qui định đối với toàn bộ quá trìnhphát triển từ khâu lập chiến lược,qui hoạch,kế hoạch phát triển,lập,phê duyệt vàthực hiện dự án đầu tư và trong quá trình hoạt động,trách nhiệm thu hồi,xử lísản phẩm hết hạnh sử dụng hoặc thải bỏ

f Xã hội hóa mạnh mẽ và nâng cao vai trò của người dân trong hoạtđộng bảo vệ môi trường như : cho phép các đối tượng thuộc nhiều thành phầnkinh tế tham gia vào quá trình đánh giá tác động môi trường (điều 21),khuyếnkhích và tạo điều kiện cho các tổ chức có năng lực tham gia hoạt động quản líchất thải và hoạt động quan trắc môi trường( khoản 2, 3 điều 70, điều 95),đảmbảo quyền được biết thông tin về môi trường của mọi tổ chức,cá nhân phát triểndịch vụ môi trường,khuyến khích tổ chức,cá nhân, hợp tác quốc tế về bảo vệmôi trường, đề cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc VN và các tổ chức thành viêntrong bảo vệ môi trường

g Qui định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong bảo vệ môi trường như:trách nhiệm của Chính Phủ Bộ tài nguyên và môi trường,bộ,cơ quan ngangbộ,cơ quan thuộc Chính phủ (Điều 121), ủy ban nhân dân các cấp (Điều 122),quyền và nghĩa vị của các tổ chức, cá nhân khác (Điều 124).

h Xác định biện pháp khen thưởng và xử lí vi phạm pháp luật về môitrường

Trang 6

Các hình thức xử lý cá nhân,tổ chức có hành vi gây ô nhiễm môi trườngđược quy định tại điều 49 Luật bảo vệ môi trường năm 2005.

Khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường,ứng phó sự cố môi trường là mộttrong những hình thức pháp lí của kiểm soát ô nhiễm nhằm ngăn chặn kịp thờinhững hậu quả xấu do ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường gây nên, đồng thờinhanh chóng tìm ra các giải pháp khôi phục lại tình trạng môi trường như trướckhi bị ô nhiễm(Mục 2 chương IX Luật bảo vệ môi trường 2005)

III Mối quan hệ giữa luật bảo vệ môi trường 2005 trong hệ thống các văn bản nguồn của luật môi trường

Luật bảo vệ môi trường số: 52/2005/QH11 được Quốc Hội nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005(có hiệu lực ngày 01tháng 7 năm 2006)

1 Luật bảo vệ môi trường 2005 và luật hóa chất 2008

Nói đến hóa chất ta nghĩ đến là là đơn chất, hợp chất, hỗn hợp chất đượccon người khai thác hoặc tạo ra từ nguồn nguyên liệu tự nhiên, nguyên liệunhân tạo Nếu chỉ nhìn ở khía cạnh kinh tế thì ta ta thấy rằng lợi nhuận từ việc

sử dụng hóa chất vào việc để tăng năng xuất ,đẹp mẫu mã sản phẩm là rất cao.Tuy nhiên nhìn một cách tổng thể thì việc lạm dụng hóa chất không chỉ gây hạicho sức khỏe con người,ô nhiễm môi trường mà còn làm mất cân bằng sinhthái Với cách hiểu như vậy,nhà nước ta đã có sự kiểm soát chặt chẽ việc sửdụng hóa chất thông qua các quy định của pháp luật Những quy định này thểhiện cụ thể trong luật bảo vệ môi trường 2005 và luật hóa chất năm 2008

Luật hóa chất Số: 06/2007/QH12 được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam thông qua ngày 11/12/2007( có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm2008) là đạo luật đơn hành khác mà chúng ta kể đến nếu xét đến góc độ bảo vệmôi trường Trong luật hóa chất có riêng chương 8 quy định về vấn đề bảo vệmôi trường Trong điều 56 quy định về trách nhiệm bảo vệ môi trường và antoàn cho cộng đồng nêu rõ: Tổ chức, cá nhân hoạt động hóa chất, liên quan đếnhoạt động hóa chất có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các quy định về an toàn hóachất theo quy định của Luật này, pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo vệ sứckhỏe nhân dân, an toàn lao động và các quy định khác của pháp luật có liênquan Mặt khác trong điều 57 cũng quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cánhân trong việc sử dụng hóa chất nhằm bảo vệ môi trường và an toàn cho cộng

Trang 7

đồng Vì vậy, tuy được ban hành để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến việcquản lí, sử dụng hóa chất song luật này chứa đựng khá nhiều các quy định vệmôi trường, bổ trợ cho việc thực hiện các điều luật trong luật bảo vệ môi trường2005.

Ngược lại vai trò của luật bảo vệ môi trường 2005 đối với luật hóa chấtcũng rất lớn, có những điều khoản quy định chi tiết về việc sử dụng hóa chất.Trong điều 88 An toàn hoá chất cũng chỉ rõ: Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinhdoanh, vận chuyển, lưu giữ, sử dụng hoặc có hoạt động khác liên quan đến hoáchất chỉ được phép hoạt động khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện, thủ tục, biệnpháp an toàn hóa chất theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng hóa chấtvà các quy định khác của pháp luật có liên quan Điều này có nghĩa rằng luậtbảo vệ môi trường 2005 đã dẫn chiếu đến những quy định khác trong luật hóachất cần đáp ứng đầy đủ theo quy định của luật hóa chất như: điều 8 quy địnhyêu cầu đối với quy hoạch công nghiệp hóa chất, điều 10 quy định yêu cầu đốivới dự án sản xuất, kinh doanh hóa chất, điều 12 quy đinh yêu cầu về cơ sở vậtchất - kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh hóa chất

2 Luật bảo vệ môi trường 2005 và luật đa dạng sinh học 2008

Như chúng ta đã biết Việt nam là một trong 25 nước có giá trị đa dạng sinhhọc thuộc loại cao nhất trên thế giới với các hệ sinh thái đặc thù cùng nhiềugiống, loài đặc hữu có giá trị kinh tế cao và nhiều nguồn gen quý hiếm Tuynhiên vấn đề suy giảm đa dạng sinh học, mất các nguồn gen quý hiếm đang trởthành vấn đề lớn với nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Đánh giá cao tầmquan trọng của việc bảo vệ đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên và nổ lựcthực hiện thông qua việc tham gia các thông ước quốc tế và các quy định tronghệ thống pháp luật Việt nam Hiện nay có khoảng 100 văn bản quy phạm phápluật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến bảo vệ đa dạng sinh học, trong đóphải kể đến luật bảo vệ môi trường 2005 và luật đa dạng sinh học 2008

Tại khoản 16 điều 3 luật bảo vệ môi trường 2005 luật đa dạng sinh họcđược quy định là sự phong phú về nguồn gen, về giống loài sinh vật và hệ sinhthái trong tự nhiên Cũng nói về điều này luật đa dạng sinh học 2008 cũng giảithích rất cụ thể định nghĩa một số khái niệm như sau:

a Bảo tồn đa dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh

thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự

Trang 8

nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường,nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loàinguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu

vật di truyền.

b Bảo tồn tại chỗ là bảo tồn loài hoang dã trong môi trường sống tự nhiên

của chúng; bảo tồn loài cây trồng, vật nuôi đặc hữu, có giá trị trong môi trườngsống, nơi hình thành và phát triển các đặc điểm đặc trưng của chúng

c Bảo tồn chuyển chỗ là bảo tồn loài hoang dã ngoài môi trường sống tự

nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của chúng; bảo tồn loài cây trồng, vật nuôiđặc hữu, có giá trị ngoài môi trường sống, nơi hình thành và phát triển các đặcđiểm đặc trưng của chúng; lưu giữ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyềntrong các cơ sở khoa học và công nghệ hoặc cơ sở lưu giữ, bảo quản nguồn genvà mẫu vật di truyền

d Cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học là cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng, cứu hộ,

nhân giống loài hoang dã, cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc hữu, cógiá trị; lưu giữ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyền phục vụ mục đích bảotồn và phát triển đa dạng sinh học

e Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái

trong tự nhiên

Với những định nghĩa đó không chỉ phù hợp với công ước quốc tế mà cũngdẫn chiếu, giúp cho những quy định trong luật đa dang sinh học 2008 trở nênchi tiết, thống nhất hơn Luật bảo vệ môi trường 2005 còn như một văn bảnnguồn của luật đa dạng sinh học 2008, có những vấn đề mà ngay cả luật đadạng sinh học chỉ nói chung chung nhưng luật bảo vệ môi trường 2005 lại quyđịnh rất chi tiết như: Điều 34 nói về việc điều tra, đánh giá và xác lập chế độphát triển bền vững các hệ sinh thái tự nhiên, điều 33 về việc báo cáo về hiệntrạng đa dạng sinh học của khu bảo tồn, điều 30 , điều 31… Một số điều củaluật còn là căn cứ cho luật đa dang sinh học 2008 (như điều 3 đã dẫn chứng ởtrên) Mặt khác luật đa dang sinh học 2008 cũng có một số điều dẫn chiếu đếncác điều luật khác liên quan đến một số vấn đề khác trong các văn bản quyphạm khác, mà cơ bản là luật bảo vệ môi trường 2005 như Điều 28 điều tra,

đánh giá, lập quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên, điều 29 bảo tồn thiên nhiên, điều 30 Bảo vệ đa dạng sinh học…

Như vậy với những minh chứng như trên có thể thấy rằng giữa hai luật bảovệ môi trường và luật đa dạng sinh học có mối quan hệ tương quan tác đôngqua lại lẫn nhau

3 Luật bảo vệ môi trường 2005 và luật đất đai 2003

Trang 9

Đất đai là bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường Đất không chỉ lànguồn tài nguyên mà còn là nền tảng không gian để phân bố dân cư và các hoạtđộng kinh tế – xã hội Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soátsuy thoái môi trường đất Trong bảo vệ tài nguyên đất, một trong những nguyêntắc sử dụng đất đầu tiên được Nhà nước ta xác định ngay trong khoản 2 Điều

11 Luật đất đai năm 2003 là sử dụng đất phải đảm bảo “ tiết kiệm, có hiệu quả,bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sửdụng đất xung quanh” Khoản 2 Điều 10 luật bảo vệ môi trường 2005 cũng quyđịnh “ Nhóm tiêu chuẩn môi trường đối với đất phục vụ cho các mục đích vềsản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và mục đích khác” Bảo vệ môitrường đất là một trong những căn cứ để xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất nhắm định hướng công tác quản lí, sử dụng đất đai trong tương lai Mộttrong những vấn đề được xác định mang tính nguyên tắc khi lập quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất là phải đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, khai tháchợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Đây là quy định nhằm bảovệ việc quản lí và sử dụng đất vừa đem lại hiệu quả kinh tế, vừa góp phần vàoviệc bảo vệ môi trường theo quan điểm phát triển bền vững Mặt khác, đất cònđược bảo vệ với tư cách là thành phần quan trọng của môi trường ngay trongcác quy định pháp luật về các loại đất cụ thể tại chương 3 Luật đất đai 2003:

- Đối với đất chuyên trồng lúa, người sử dụng đất có trách nhiệm bảovệ, cải tạo, làm tăng độ màu mỡ của đất, …

- Đối với đất có mặt nước ven biển để nuôi trồng thủy sản, sản xuấtnông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối cần tuân theo các quy định của pháp luậtnhư: phải sử dụng đất đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt,các chủ thể này phải bảo vệ đất, làm tăng sự bồi tụ đất ven biển cũng như hệsinh thái, môi trường và cảnh quan…

- Đối với các loại đất chuyên dùng như xây dựng cơ sở sản xuất kinhdoanh, sử dụng trong hoạt động khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng,… đềuphải tuân thủ các quy định của pháp luật về việc bảo vệ tài nguyên đất

- Đối với đất sử dụng cho mục đích khoáng sản, các chủ thể tiến hànhhoạt động khoáng sản phải tuân theo các quy định của pháp luật về bảo vệ vàcải tạo đất bảo vệ tài nguyên khoáng sản luật bảo vệ môi trường

- Đối với đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, phải được quy hoạch tập trung,

xa khu dân cư, thuận tiện cho việc chon cất, thăm viếng, đặc biệt là hợp vệ sinhvà tiết kiêm tài nguyên đất…

Trang 10

Nhằm hạn chế đến mức tối đa tình trạng các chủ thể gây ô nhiễm vàsuy thoái đất luật bảo vệ môi trường 2005 đã quy định việc kí quỹ cải tạo, phụchồi môi trường trong hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên nói chung, tàinguyên đất nói riêng Mức kí quỹ phụ thuộc vào quy mô khai thác, tác động xấuđối với đất, chi phí cần thiết để cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác( điểm a khoản 1 điều 114) Không chỉ có chính sách đối với hoạt động làmtăng khả năng sinh lợi của đất, Nhà nước còn quy định các hành vi bị nghiêmcấm khi tiến hành hoạt động trên đất Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định cáctổ chức, cá nhân không được phép chôn lấp, thải vào đất các chất độc, chấtphóng xạ, chất thải và các chất nguy hiểm khác chưa được xử lí đạt tiêu chuẩnmôi trường cho phép ( khoản 4, 5 Điều 7).

4 Luật bảo vệ môi trường 2005 và luật thủy sản 2003

Nguồn lợi thủy sản có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tếquốc dân và đã được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn củaViệt Nam Trong thời gian qua, Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách, ban hànhcác văn bản pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào việc bảo vệ, tái tạo vàphát triển giống loài thủy sinh Luật bảo vệ môi trường 2005 và luật thủy sản

2003 đóng vai trò quan trọng, tác động qua lại trong việc kiểm soát nguồn lợinày Cụ thể theo quy định tại Điều 7 Luật thủy sản 2003 và Điều 47 Luật bảovệ môi trường 2005 :

- Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống của các loàithuỷ sản

- Khi tiến hành hoạt động thuỷ sản hoặc có các hoạt động khác ảnhhưởng trực tiếp đến môi trường sống, di cư, sinh sản của các loài thuỷ sản phảituân theo quy định của pháp luật

- Bảo đảm điều kiện vệ sinh môi trường, phòng ngừa dịch bệnh thuỷsản; không được sử dụng hoá chất độc hại hoặc tích tụ độc hại

- Không được xây dựng khu nuôi trồng thuỷ sản tập trung trên bãi bồiđang hình thành vùng cửa sông ven biển; phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủysản

Bên cạnh đó Luật bảo vệ môi trường 2005 cũng có những quy định nhằmbảo vệ nguồn thủy sinh về công cụ, phương thức đánh bắt thủy sản như nghiêmcấm việc khai thác, đánh bắt các nguồn tài nguyên sinh vật bằng công cụ,phương pháp huỷ diệt, không đúng thời vụ và sản lượng theo quy định của phápluật (khoản 2 điều 7), về thức ăn, thuốc và các loại hóa chất dùng trong nuôitrồng thủy sản “ không được sử dụng thuốc thú y, hóa chất đã hết hạn sử dụng

Trang 11

hoặc ngoài danh mục cho phép trong nuôi trồng thủy sản” , “ tổ chức, cá nhânsản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thuốc thú y, hóa chất trong nuôi trồng thủy sảnphải thực hiện đúng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và cácquy định khác của pháp luật có liên quan” (khoản 1, 2 điều 47).

5 Luật bảo vệ môi trường 2005 và Luật Khoáng Sản 2010

Luật khoáng sản so 60/2010/QH Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ NghĩaViệt Nam khóa XVII kì họp thứ 8 thông qua ngày 17/11/2010 ( có hiệu lựcngày 01/07/2011) là đạo luật đơn hành mà chúng ta cần phải kể đến nếu xét gócđộ bảo vệ môi trường

Khoáng sản là những dạng vật chất rất gần gũi và đóng vai trò to lớn trongđời sống của con người Hoạt động khoáng sản bao gồm thăm dò khoángsản,hoạt động khai thác khoáng sản (khoản 5 điều 2 luật khoáng sản) Hoạtđộng này thường gây ảnh hưởng rất lớn tới môi trường, đòi hỏi phải kiểm soát ônhiễm môi trường trong hoạt động khoáng sản Điều 30 Luật khoáng sản quiđịnh rõ các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động khai khoáng phải thực hiệnnghĩa vụ bảo vệ môi trường

Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khoáng sản là hết sức cầnthiết bởi hoạt động khoáng sản có khả năng gây ảnh hưởng xấu tới môi trườngvà đời sống con người.Vì vậy bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản lànghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động này vì họ là nhữngngười có khả năng gây ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng môi trường Nghĩa vụnày được qui định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật khoángsản năm 2010,luật bảo vệ môi trường năm 2005 ( điều 44 ) Cụ thể như sau:-Tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản sử dụng công nghệ thiết bị vậtliệu,than thiện với môi trường, thực hiện giải pháp ngăn ngừa, giảm thiểu tácđộng xấu đến môi trường và cải tạo phục hồi môi trường theo qui định của phápluât

- Tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản phải thực hiện cá giải pháp vàchịu mọi chi phí bảo vệ cải tạo môi trường Giải pháp, chi phí bảo vệ, cải tạo,phục hồi môi trường phảo được xác định trong dự án đầu tư, báo cáo đánh giátác động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi trường được cơ quan quản lí nhànước có thẩm quyền phê duyệt

-Trước khi tiến hành khai thác khoáng sản, tổ chức cá nhân khai tháckhoáng sản phải ký quĩ cải tạo,phục hồi môi trường theo qui định.Tổ chức, cá

Ngày đăng: 11/09/2014, 11:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w