Nhà nước cũng đã có những chính sách những khuyến khích nhất định dành cho các cơ sở thực hiện XHH, đặc biệt là chính sách không phân biệt đối xử đối với các sản phẩm và dịch vụ của các cơ sở này. Ngoài ra, nhà nước cũng ban hành nhiều chính sách nhằm tăng cường quản lý các cơ sở hoạt động theo hình thức XHH, cũng như trợ giúp người nghèo để có thể tiếp cận tới các dịch vụ này. Tuy nhiên, hệ thống chính sách XHH mới chỉ nhấn mạnh việc huy động nguồn lực cho cung ứng dịch vụ công mà chưa đề cập rõ ràng và cụ thể tới việc thay đổi tương ứng vai trò quản lý của chính nhà nước trong quá trình XHH. Hệ thống chính sách XHH (các chính sách ở cấp độ hướng dẫn thực hiện) hiện tại chưa gắn liền với việc thay đổi vai trò quản lý nhà nước của các cơ quan chính phủ ở địa phương. Hệ quả của việc này là hệ thống chính sách XHH hiện tại có sự thiếu hụt trong các quy định và cơ chế kiểm soát cụ thể về quản lý nhà nước (nhất là quản lý chất lượng dịch vụ) đối với các cơ sở XHH, và sự thiếu cụ thể trong chính sách kiểm soát tài chính nhằm tránh lạm dụng XHH. Kết quả phỏng vấn và khảo sát ở các tỉnh cho thấy chủ trương và các chính sách xã hội hóa trong giáo dục và y tế được các cấp quản lý địa phương đánh giá cao và ủng hộ mạnh mẽ. Tuy nhiên các, các địa phương có điều kiện kinh tế chậm phát triển gặp nhiều khó khăn hơn trong việc XHH giáo dục và y tế do hạn chế cả về nguồn cung (nhà đầu tư) và nhu cầu (mức độ sẵn sàng đóng góp của người dân). Với dịch vụ giáo dục, trên phương diện quản lý nhà nước ở địa phương, việc triển khai chính sách XHH chưa gắn liền với vai trò quản lý nhà nước tương ứng như vai trò định hướng, điều tiết, và giám sát. Điều này là một trong những nguyên nhân làm cho XHH chưa được phát triển toàn diện giữa các vùng, chưa đảm bảo chất lượng dịch vụ cung ứng, và thậm chí bị lạm dụng đối với một số khoản thu. Khi những hạn chế này xảy ra thì người nghèo chính là đối tượng bị thiệt hại đầu tiên và nặng nề nhất. Thực tiễn khảo sát hoạt động của một số cơ sở giáo dục cũng cho thấy người nghèo đang bị thiệt trên một số lĩnh vực. Thứ nhất, chính sách giảm học phí cho người nghèo trên thực tế hiện chỉ áp dụng ở các trường công lập. Trong khi đó, rất nhiều học sinh nghèo lại không thể thi vào được trường công lập (kể từ cấp phổ thông trung học trở lên), mà chỉ có thể vào học ở trường dân lập. Vì vậy, họ đã không được hưởng chính sách trên. Trong khi đó, kết quả dạy và học ở các trường dân lập lại thấp hơn ở trường công lập. Kết quả khảo sát các hộ gia đình cũng chỉ rõ người nghèo đang chịu rào cản lớn hơn về học phí và phụ phí nếu so với 5 năm trước. Như vậy, cùng với việc triển khai XHH thì người nghèo đang gặp khó khăn lớn hơn về chi phí cho giáo dục. Tuy nhiên, người nghèo cũng đang được hưởng những cải thiện về chất lượng tổng thể của giáo dục từ XHH. Với dịch vụ y tế, XHH đã mang lại những tác động tích cực tới việc chăm sóc sức khỏe cho người dân. Tác động lớn nhất là đã huy động vốn đầu tư mở rộng nguồn cung ứng các dịch vụ y tế, đa dạng hóa loại hình dịch vụ y tế, và tạo sức ép cạnh tranh nhất định, thúc đẩy việc nâng cao chất lượng các dịch vụ này. Người nghèo được hưởng lợi gián tiếp từ việc các cơ sở XHH làm giảm tải cho bệnh viện công và tạo sức ép nhất định tới việc tăng chất lượng khám chữa bệnh ở bệnh viện công. Tuy nhiên, các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân chủ yếu mới đang cung cấp các dịch vụ ít rủi ro và có lợi nhuận cao, sử dụng các thiết bị hiện đại. Dịch vụ điều trị hoặc chữa bệnh phức tạp vẫn do các bệnh viện công cung cấp. Khác với các cơ sở XHH trong giáo dục (cụ thể là trường dân lập), các cơ sở XHH y tế (khám dịch vụ trong bệnh viện công và phòng khámbệnh viện tư) trực tiếp phục vụ người có khả năng chi trả. Như vậy, người nghèo không phải là đối tượng phục vụ của các cơ sở này. Các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân có tiến hành đầu tư trang thiết bị và cơ sở vật chất. Tuy nhiên, về nguồn nhân lực chất lượng cao thì các cơ sở này chủ yếu đang tìm cách thu hút từ các cơ sở công. Các bệnh viện công có nhận thấy vấn đề chảy máu chất xám, song chưa có biện pháp đối phó hữu hiệu.Từ những phát hiện đó, các khuyến nghị chính cho việc hạn chế các tác động tiêu cực của XHH được nhóm nghiên cứu đề xuất bao gồm: Với dịch vụ giáo dục (i) nên coi XHH giáo dục là gắn liền với việc chuyển đổi vai trò quản lý của nhà nước từ việc trực tiếp cung cấp dịch vụ sang việc quản lý vĩ mô, nâng cao vai trò dự báo, lên kế hoạch, quy hoạch, điều tiết sự phát triển giữa các vùng, và kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ sở thuộc sở hữu khác nhau; (ii) các địa phương cần có quy hoạch phát triển hệ thống cơ sở giáo dục ở các vùng khác nhau, từ đó tính toán và có chính sách khuyến khích để các vùng sâu vùng xa vẫn có cơ sở giáo dục, giảm rào cản về khoảng cách cho họ. Trong một số trường hợp, nhà nước có thể dành tiền đầu tư các trường công nhiều hơn cho vùng sâu vùng xa vì ở các vùng đông dân các cơ sở dân lập và tư thục sẽ ngày càng phát triển và bổ sung khá lớn về nguồn cung dịch vụ; (iii) tăng cường công tác kiểm tra giám sát, kiểm định chất lượng, đặc biệt là việc thực hiện các chính sách học phí và phụ phí, tránh tình trạng lạm dụng chính sách XHH. Với dịch vụ y tế (i) tăng cường chức năng quản lý vĩ mô như quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra giám sát của nhà nước; (ii) tăng cường công tác kiểm tra giám sát nhằm hạn chế hiện tượng lạm dụng XHH để tăng chi phí khám chữa bệnh tại các bệnh viện công; và (iii) đảm bảo nguyên tắc trong việc xác định hộ nghèo tránh tình trạng các chính sách hỗ trợ người nghèo không hướng đúng vào nhóm đối tượng cần thụ hưởng
Trang 1HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
KHOA: VẬN TẢI HÀNG KHÔNG
KINH TẾ VĨ MÔ
ĐỀ TÀI: Hãy phân tích vai trò của chính phủ trong tiến trình xã hội hóa ngành giáo dục, y tế Bàn luận về định hướng, tính công bằng, khả năng tiếp cận các dịch vụ giáo dục, y tế của người dân.
Trang 2LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
rong những năm gần đây, chính phủ Việt Nam đang nỗ lực cải thiện chất lượng cácdịch vụ công nói chung và giáo dục và y tế nói riêng Chủ trương “xã hội hóa” đượcthực hiện như một hình thức tăng trách nhiệm và huy động nguồn lực của toàn xãhội nhằm nâng cao chất lượng và nguồn cung ứng các dịch vụ này Xã hội hóa chính là việcgiảm tỷ trọng bao cấp và hỗ trợ của nhà nước thông qua việc giao trách nhiệm tự chủ về tàichính cho các đơn vị công như bệnh viện, trường học, giảm hoặc cắt bao cấp dịch vụ chongười dân, cũng như khuyến khích các thành phần kinh tế cung cấp các dịch vụ cơ bản kháccho người dân Bên cạnh những tác động tích cực, việc thực hiện chủ trương “xã hội hóa ”cũng tiềm ẩn những nguy cơ làm giảm tiếp cận của người nghèo tới dịch vụ y tế và giáodục Phát hiện và điều chỉnh kịp thời những nguy cơ tiềm ẩn trên là yêu cầu cấp thiết đangđặt ra cho các nhà quản lý
T
Xã hội hóa hiện là một chủ trương quan trọng trong phát triển giáo dục và y tế Xuất phátđiểm của chủ trương này có thể coi là từ chủ trương “nhà nước và nhân dân cùng làm” vàothập niên 80 của thế kỷ trước Chủ trương “Xã hội hóa ” giáo dục và y tế được chính thức
đề cập trong “Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VIII của Đảng” năm 1996, và được chính phủ cụ thể ở Nghị quyết NQ90/
CP năm 1997
Điểm nổi bật trong các văn kiện và chính sách trên là về mục tiêu của chủ trương XHH:
XHH nhằm huy động tiềm năng nhân lực, vật lực, tài lực của toàn xã hội, trên cơ sở đổi mới
cơ chế quản lý, đa dạng hóa hoạt động và các nguồn đầu tư nhằm tạo điều kiện để toàn bộ
xã hội được hưởng thụ tốt hơn các dịch vụ y tế, giáo dục…Về lý thuyết, chính sách XHHcũng hướng tới mục tiêu về công bằng xã hội trong thụ hưởng các dịch vụ trên XHH cácdịch vụ công bao gồm các đặc điểm chính (i) Người sử dụng dịch vụ bỏ (một phần hay toànbộ) tiền ra mua dịch vụ;(ii) Các cơ sở cung cấp dịch vụ công đưa một phần hoặc toàn bộ chiphí hoạt động của mình vào giá dịch vụ do người sử dụng chi trả (thay vì được nhà nướcbao cấp toàn bộ); (iii) Khuyến khích người dân, các thành phần kinh tế tham gia đầu tư cungứng dịch vụ
Nhà nước cũng đã có những chính sách những khuyến khích nhất định dành cho các cơ sởthực hiện XHH, đặc biệt là chính sách không phân biệt đối xử đối với các sản phẩm và dịch
vụ của các cơ sở này Ngoài ra, nhà nước cũng ban hành nhiều chính sách nhằm tăng cườngquản lý các cơ sở hoạt động theo hình thức XHH, cũng như trợ giúp người nghèo để có thểtiếp cận tới các dịch vụ này Tuy nhiên, hệ thống chính sách XHH mới chỉ nhấn mạnh việchuy động nguồn lực cho cung ứng dịch vụ công mà chưa đề cập rõ ràng và cụ thể tới việcthay đổi tương ứng vai trò quản lý của chính nhà nước trong quá trình XHH Hệ thống chínhsách XHH (các chính sách ở cấp độ hướng dẫn thực hiện) hiện tại chưa gắn liền với việcthay đổi vai trò quản lý nhà nước của các cơ quan chính phủ ở địa phương Hệ quả của việcnày là hệ thống chính sách XHH hiện tại có sự thiếu hụt trong các quy định và cơ chế kiểmsoát cụ thể về quản lý nhà nước (nhất là quản lý chất lượng dịch vụ) đối với các cơ sở XHH,
và sự thiếu cụ thể trong chính sách kiểm soát tài chính nhằm tránh lạm dụng XHH
Kết quả phỏng vấn và khảo sát ở các tỉnh cho thấy chủ trương và các chính sách xã hội hóatrong giáo dục và y tế được các cấp quản lý địa phương đánh giá cao và ủng hộ mạnh mẽ.Tuy nhiên các, các địa phương có điều kiện kinh tế chậm phát triển gặp nhiều khó khăn hơn
Trang 3độ sẵn sàng đóng góp của người dân) Với dịch vụ giáo dục, trên phương diện quản lý nhànước ở địa phương, việc triển khai chính sách XHH chưa gắn liền với vai trò quản lý nhànước tương ứng như vai trò định hướng, điều tiết, và giám sát Điều này là một trong nhữngnguyên nhân làm cho XHH chưa được phát triển toàn diện giữa các vùng, chưa đảm bảochất lượng dịch vụ cung ứng, và thậm chí bị lạm dụng đối với một số khoản thu Khi nhữnghạn chế này xảy ra thì người nghèo chính là đối tượng bị thiệt hại đầu tiên và nặng nề nhất.Thực tiễn khảo sát hoạt động của một số cơ sở giáo dục cũng cho thấy người nghèo đang bịthiệt trên một số lĩnh vực Thứ nhất, chính sách giảm học phí cho người nghèo trên thực tếhiện chỉ áp dụng ở các trường công lập Trong khi đó, rất nhiều học sinh nghèo lại khôngthể thi vào được trường công lập (kể từ cấp phổ thông trung học trở lên), mà chỉ có thể vàohọc ở trường dân lập Vì vậy, họ đã không được hưởng chính sách trên Trong khi đó, kếtquả dạy và học ở các trường dân lập lại thấp hơn ở trường công lập Kết quả khảo sát các hộgia đình cũng chỉ rõ người nghèo đang chịu rào cản lớn hơn về học phí và phụ phí nếu sovới 5 năm trước Như vậy, cùng với việc triển khai XHH thì người nghèo đang gặp khókhăn lớn hơn về chi phí cho giáo dục Tuy nhiên, người nghèo cũng đang được hưởngnhững cải thiện về chất lượng tổng thể của giáo dục từ XHH Với dịch vụ y tế, XHH đãmang lại những tác động tích cực tới việc chăm sóc sức khỏe cho người dân Tác động lớnnhất là đã huy động vốn đầu tư mở rộng nguồn cung ứng các dịch vụ y tế, đa dạng hóa loạihình dịch vụ y tế, và tạo sức ép cạnh tranh nhất định, thúc đẩy việc nâng cao chất lượng cácdịch vụ này Người nghèo được hưởng lợi gián tiếp từ việc các cơ sở XHH làm giảm tải chobệnh viện công và tạo sức ép nhất định tới việc tăng chất lượng khám chữa bệnh ở bệnhviện công Tuy nhiên, các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân chủ yếu mới đang cung cấp cácdịch vụ ít rủi ro và có lợi nhuận cao, sử dụng các thiết bị hiện đại Dịch vụ điều trị hoặcchữa bệnh phức tạp vẫn do các bệnh viện công cung cấp Khác với các cơ sở XHH tronggiáo dục (cụ thể là trường dân lập), các cơ sở XHH y tế (khám dịch vụ trong bệnh viện công
và phòng khám/bệnh viện tư) trực tiếp phục vụ người có khả năng chi trả Như vậy, ngườinghèo không phải là đối tượng phục vụ của các cơ sở này Các cơ sở khám chữa bệnh tưnhân có tiến hành đầu tư trang thiết bị và cơ sở vật chất Tuy nhiên, về nguồn nhân lực chấtlượng cao thì các cơ sở này chủ yếu đang tìm cách thu hút từ các cơ sở công Các bệnh việncông có nhận thấy vấn đề chảy máu chất xám, song chưa có biện pháp đối phó hữu hiệu
Từ những phát hiện đó, các khuyến nghị chính cho việc hạn chế các tác động tiêu cực củaXHH được nhóm nghiên cứu đề xuất bao gồm: Với dịch vụ giáo dục (i) nên coi XHH giáodục là gắn liền với việc chuyển đổi vai trò quản lý của nhà nước từ việc trực tiếp cung cấpdịch vụ sang việc quản lý vĩ mô, nâng cao vai trò dự báo, lên kế hoạch, quy hoạch, điều tiết
sự phát triển giữa các vùng, và kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ sở thuộc sở hữu khácnhau; (ii) các địa phương cần có quy hoạch phát triển hệ thống cơ sở giáo dục ở các vùngkhác nhau, từ đó tính toán và có chính sách khuyến khích để các vùng sâu vùng xa vẫn có
cơ sở giáo dục, giảm rào cản về khoảng cách cho họ Trong một số trường hợp, nhà nước cóthể dành tiền đầu tư các trường công nhiều hơn cho vùng sâu vùng xa vì ở các vùng đôngdân các cơ sở dân lập và tư thục sẽ ngày càng phát triển và bổ sung khá lớn về nguồn cungdịch vụ; (iii) tăng cường công tác kiểm tra giám sát, kiểm định chất lượng, đặc biệt là việcthực hiện các chính sách học phí và phụ phí, tránh tình trạng lạm dụng chính sách XHH.Với dịch vụ y tế (i) tăng cường chức năng quản lý vĩ mô như quy hoạch, kế hoạch, kiểm tragiám sát của nhà nước; (ii) tăng cường công tác kiểm tra giám sát nhằm hạn chế hiện tượnglạm dụng XHH để tăng chi phí khám chữa bệnh tại các bệnh viện công; và (iii) đảm bảo
Trang 4nguyên tắc trong việc xác định hộ nghèo tránh tình trạng các chính sách hỗ trợ người nghèo không hướng đúng vào nhóm đối tượng cần thụ hưởng
Mục lục
I Tổng quan về xã hội hóa trong lĩnh vực y tế và giáo dục 6
1 Xã hội hóa giáo dục và y tế là gì? 6
2 Giáo dục Việt Nam và xã hội hóa giáo dục 8
3 Y tế Việt Nam và xã hội hóa y tế 9
4 Tính cấp thiết và cần thiết của xã hội hóa ngành giáo dục, y tế 11
II Vai trò của chính phủ trong tiến trình xã hội hóa ngành kinh tế 11
1 Vai trò định hướng 11
1.1 Giáo dục 11
1.2 Y tế 12
2 Quá trình tiến triển của chính sách xã hội hóa trong giáo dục và y tế của Việt Nam ……… 13
3 Các nguồn lực cho XHH giáo dục và y tế 15
4 Các chính sách bổ trợ để tăng cường hiệu quả và hạn chế mặt trái của chính sách XHH với người nghèo 17
5 Cơ sở pháp lý 19
5.1 Các văn bản pháp luật của Trung ương 19
5.2 Các chính sách, quy định 20
6 Mục tiêu hướng tới 24
6.1 Tính công bằng phát triển nhân đạo 24
6.2 Khả năng tiếp cận các dịch vụ của người dân 24
III Thực trạng hiện tại 27
1 Xã hội hóa giáo dục 27
1.1 Thành tựu đạt được 27
1.2 Tồn tại, hạn chế và giải pháp khắc phục 28
2 Xã hội hóa y tế 32
2.1 Thành tựu đạt được 32
2.2 Tồn tại, hạn chế và giải pháp khắc phục 32
Trang 6I Tổng quan về xã hội hóa trong lĩnh vực y tế và giáo dục
Xu thế hội nhập và đẩy mạnh tự do là không thể đảo ngược, và xu thế đó đặc biệt rõràng sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Các quy chế,thông lệ quốc tế và cam kết về mở cửa thị trường, tự do hóa thương mại, về tư nhânhóa kể cả là các lĩnh vực truyền thống và là nhiệm vụ của Nhà nước như y tế và giáodục,… phải dần được thực hiện phù hợp với lộ trình mà Chính phủ đã cam kết Điều
đó có nghĩa là tư nhân sẽ tham gia tích cực hơn và việc cung cấp các dịch vụ côngtrong đó hai lĩnh vực chính là giáo dục và y tế, còn Nhà nước sẽ giảm trách nhiệmtrong việc cung cấp các dịch vụ này và tăng tính trách nhiệm của cộng đồng Nhưvậy, mục tiêu xã hội của các dịch vụ giáo dục và y tế sẽ hướng dần sang mục tiêu lợinhuận
Việt Nam có một thời gian dài thực hiện bao cấp, việc sử dụng các dịch vụ công nhưgiáo dục và y tế là hoàn toàn miễn phí, nên các lĩnh vực này có một sức ì, chậm đổimới và còn lúng túng trong việc xây dựng cơ chế vận hành vừa phù hợp với thịtrường lại vừa phù hợp với mục tiêu xã hội Kinh tế phát triển, mức sống dân cư vàchất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao kéo theo nhu cầu ngày càng giatăng về giáo dục, chăm sóc y tế Cho dù, chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực rấtlớn để cải thiện chất lượng và xây dựng cơ chế vận hành cho các lĩnh vực này,nhưng với nguồn ngân sách hạn chế, Nhà nước đã không thể bao cấp hết mọi đốitượng và mọi hoạt động của hai lĩnh vực này Xã hội hóa trong giáo dục và y tế làmột trong những giải pháp được lựa chọn, theo đó việc bao cấp và hỗ trợ từ Nhànước sẽ giảm dần thông qua việc giao trách nhiệm tự chủ tài chính trong các cơ sởgiáo dục và y tế công, và khai thác các nguồn lực khác của toàn xã hội đóng góp cho
sự nghiệp giáo dục và hoạt động y tế
Luật giáo dục năm 2005 khẳng định “Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển
sự nghiệp giáo dục… khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhântham gia phát triển sự nghiệp giáo dục” Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của
Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân trong tìnhhình mới đã nhấn mạnh: “Bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là mộttrong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước Đầu tư cho lĩnhvực này là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta” Nghị quyết 90/
CP cũng đã khẳng định “xã hội hóa không có nghĩa là làm giảm nhẹ trách nhiệm củaNhà nước, giảm bớt phần ngân sách nhà nước” Suy ra rằng, xã hội hóa trong giáodục và y tế có nghĩa là huy động thêm sức mạnh của nhân dân cộng với trách nhiệmngày càng tăng của Nhà nước để phát triển giáo dục và y tế Như vậy, với tổngnguồn lực lớn hơn, xã hội hóa giáo dục, y tế nhất thiết phải thỏa mãn nhu cầu dịch
vụ ngày càng tăng, tăng chất lượng dịch vụ, và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ chotất cả mọi người trong xã hội
1 Xã hội hóa giáo dục và y tế là gì?
Ở các nước phương Tây, cụm từ “xã hội hóa” (tiếng Pháp là socialisation hay tiếng Anh làsocialization) từ trước tới nay, vẫn thường được dùng theo nghĩa “tập thể hóa”, “đặt dướichế độ cộng đồng”, “quản lý hay điều khiển của nhà nước nhân danh xã hội”, “quốc hữuhóa” v.v Trong tiếng Việt trước đây “xã hội hóa” được Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủbiên - 1985) cũng giải thích xã hội hóa là làm cho trở thành của chung của xã hội, với thí dụ
Trang 7Tuy nhiên, khái niệm XHH được dùng hiện tại ở Việt Nam có nghĩa hoàn toàn ngược lại.Các cơ quan báo chí và trong ngôn ngữ thường ngày người ta nói về XHH hoạt động y tế,giáo dục, thể thao, văn hóa1 theo nghĩa là huy động các nguồn lực ngoài nhà nước(nguồn lực của xã hội) vào cung cấp các dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao
Trong các văn bản pháp luật chính thức của nhà nước Việt Nam thì thuật ngữ XHH xuấthiện lần đầu trong Phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996
- 2000 (Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VIII của Đảng năm 1996) Trong báo cáo này thì XHH giáo dục được coi làchủ trương quan trọng để phát triển giáo dục và đào tạo Tuy nhiên các nội dung của XHHchỉ được nêu ra qua Nghị quyết số 90/CP của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam năm
1997 về phương hướng và chủ trương XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa Sau đócác nội dung của XHH tiếp tục được cụ thể hóa ngày 19/8/1999 khi Chính phủ có Nghịđịnh số 73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnhvực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao Theo các văn bản này, XHH được hiểu như sau:
“Xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộngrãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nângcao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hóa và sự phát triển về thể chất và tinh thần củanhân dân”
“XHH là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập
và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục,
y tế, văn hóa”
“XHH và đa đạng hóa các hình thức hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa thể thao có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau Bên cạnh việc củng cố các tổ chức của Nhà nước, cần phát triển rộngrãi các hình thức hoạt động do các tập thể hoặc các cá nhân tiến hành”
“XHH là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lựctrong xã hội Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiệncho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn…” Với người dân thì XHH được hiểu đơn giản là nhân dân đóng góp thêm nguồn lực cho cáchoạt động đó: đóng góp tiền dưới dạng các loại phí, nói nôm na là mua dịch vụ; bỏ tiền,công sức ra cung ứng các dịch vụ đó, như lập trường tư, bệnh viện tư, phòng khám tư,v.v.)
Như vậy, XHH các dịch vụ công có thể được hiểu là:
i) Người sử dụng dịch vụ bỏ (một phần hay toàn bộ) tiền ra mua dịch vụ;
ii) Các cơ sở cung cấp dịch vụ công đưa một phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động củamình vào giá dịch vụ do người sử dụng chi trả (thay vì được nhà nước bao cấptoàn bộ)
iii) Khuyến khích người dân, các thành phần kinh tế tham gia đầu tư cung ứng dịch
vụ
Khi dịch ra tiếng nước ngoài, thông thường XHH được cho là tương đương với tư nhân hóatrong tiếng Anh (privatization) Tuy nhiên xã hội hóa có phạm vi rộng hơn, bao hàm cảviệc các cơ sở công cung cấp dịch vụ một phần hoặc toàn bộ theo cơ chế thị trường
Trong chuyên đề này khi đề cập đến XHH giáo dục và y tế chúng tôi sử dụng các nội dungcủa XHH được miêu tả bởi NQ 90/CP năm 1997 như là cách hiểu chính thức về XHH hiệnnay
1 Và XHH cả sở hữu tài sản (trong trường hợp cổ phần hóa) nhưng vấn đề này sẽ không được bàn đến
Trang 82 Giáo dục Việt Nam và xã hội hóa giáo dục
Ngành Giáo dục Việt Nam hiện đang cung cấp dịch vụ cho 20.304 ngàn họcsinh, sinh viên các cấp từ mầm non đến đại học Trong đó 2.774 ngàn là các cháuthuộc cấp học mầm non, 6.732 ngàn học sinh tiểu học, 5.468 ngàn học sinh trunghọc cơ sở, 2.927 ngàn học sinh trung học phổ thông, 682 ngàn sinh viên trunghọc chuyên nghiệp và học viên của các Trung tâm giáo dục thường xuyên, và1.720 ngàn sinh viên cao đẳng và đại học Quy mô giáo dục đã tăng lên rất nhiềuqua các năm trên góc độ số trường học, và số giáo viên, nhưng giảm dần theoquy mô học sinh ở một số cấp học Tổng số trường học các cấp từ tiểu học đếnphổ thông trung học năm học 2008 – 2009 tăng 38,6% so với tổng số trường họcnăm học 2000 – 2001, về giáo viên tăng 21,9%, nhưng quy mô học sinh lại giảm14,9% trong cùng thời kỳ Ở cấp Cao đẳng và Đại học, quy mô không ngừng giatăng cả về số trường, số sinh viên và giảng viên Nếu so sánh quy mô ở năm
2008 với năm 2000 số trường đại học và cao đẳng tăng gấp 2,2 lần, số sinh viêntăng 1,9 lần, và số giáo viên tăng 1,9 lần Trong khi đó chi từ Ngân sách nhànước cho giáo dục chỉ tăng từ 11,6% trong tổng chi ngân sách nhà nước năm
2000 lên tới 13,5% tổng chi ngân sách nhà nước năm 2007 Rõ ràng là sức ép tàichính từ ngân sách nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục rất lớn, và sự gia tăng chitiêu từ ngân sách nhà nước cho giáo dục như vậy là chưa đáp ứng được sự đòihỏi của thực tế Việc xã hội hóa để giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước là mộtđiều có cơ sở, nếu xét trên góc độ nguồn lực dành cho giáo dục
Sau khoảng hơn 10 năm thực hiện chủ trương xã hội hóa trong giáo dục, y tế,văn hóa, và thể thao theo Nghị quyết 90/CP ngày 21 tháng 8 năm 1997 củaChính phủ, cơ cấu ngành giáo dục có sự chuyển biến mạnh mẽ và đã có nhữngcấp học có các cơ sở xã hội hóa thực hiện nhiệm vụ giáo dục lớn hơn cơ sở công.Chẳng hạn ở cấp học Mầm non, số trường học mầm non ngoài công lập chiếm49,3% nhưng các trường mầm non ngoài công lập đã thu hút tới 51,1% tổng sốcác cháu đến trường ở cấp học này Một số cấp học có tỷ lệ cơ sở xã hội hóa còn
ít như Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung tâm giáo dục thường xuyên Đây làcác cấp học thực hiện các mục tiêu xã hội của Nhà nước nhằm phổ cập giáo dục,hoặc xóa mù chữ, hoặc đào tạo nghề cho người nghèo và con em nông dân mấtđất nông nghiệp Ở cấp Đại học và Cao đẳng, một số trường công lập mở hệngoài ngân sách nhằm thu hút các sinh viên không đủ điều kiện vào hệ ngân sách(và tất nhiên là đóng học phí cao hơn so với sinh viên hệ ngân sách)
Biểu đồ 1: Cơ cấu cấp học và học sinh giữa cơ sở giáo dục công và ngoài công lập năm học 2008 – 2009
Trang 9Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2009
Các trường ngoài công lập chỉ mới hình thành và phát triển nhưng đã có nhữngkết quả đáng ghi nhận Các cơ sở giáo dục xã hội hóa giúp giảm tải cho các cơ sởcông lập, và tăng sự lựa chọn cho người dân Đã có 20,8% số trường trung họcphổ thông ngoài công lập, cung cấp dịch vụ cho 21,2% học sinh thuộc cấp họcnày; 30,4% số trường ngoài công lập ở cấp Trung học chuyên nghiệp được thànhlập và hoạt động, cung cấp dịch vụ giáo dục cho 22,2% tổng số học sinh của cấphọc Đối với cấp Cao đẳng và Đại học, trong ba năm gần đây, số trường Caođẳng và Đại học ngoài công lập thành lập mới nhiều hơn tổng số các trường loạinày từ trước đó cộng lại (37 trường ngoài công lập thành lập mới so với 31trường đã thành lập và hoạt động trước đó) Các trường Cao đẳng và Đại họcngoài công lập hiện chiếm khoảng 18% tổng số trường và đang cung cấp dịch vụgiáo dục cho 11,8% tổng số sinh viên
Có thể thấy rằng chủ trương xã hội hóa trong giáo dục đã tạo ra được sự thay đổi
cơ bản trong nhận thức của xã hội về xã hội hóa trong giáo dục Các cơ sở giáodục ngoài công lập đã được mở rộng về quy mô, đa dạng hóa về loại hình và cácsản phẩm dịch vụ thuộc các loại hình, và cuối cùng làm tăng sự lựa chọn chongười học Các nguồn lực xã hội đã được huy động, tăng tính trách nhiệm củacộng đồng, người dân cho việc phát triển lĩnh vực giáo dục
3 Y tế Việt Nam và xã hội hóa y tế
Hệ thống cơ sở y tế của Việt Nam bao gồm các bệnh viện, phòng khám đa khoa,bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, trạm y tế xã/phường, trạm y tế của
cơ quan xí nghiệp và các cơ sở khác Các cơ sở y tế này hoặc thuộc quyền quản
lý của ngành y tế (bộ y tế và sở y tế) hoặc thuộc các ngành khác quản lý Năm
2008, ngành y tế có 13.460 cơ sở y tế công lập với khoảng 219.800 giường bệnhvới 223,5 ngàn cán bộ y tế các cấp; khoảng 30.000 cơ sở y tế ngoài công lập(chủ yếu là các phòng khám) với 13.180 giường bệnh và có tổng số 93.100 cán
Trang 10bộ y tế Quy mô ngành y tế tăng đều đặn qua hàng năm Cơ sở y tế công lậptăng, nhưng tăng không đáng kể; nếu so sánh giữa năm 2008 và 2000 trong vòngtám năm số cơ sở y tế chỉ tăng 2,6%, số cán bộ y tế tăng 37,4% và số giườngbệnh tăng thêm 14,5% trong cùng thời kỳ Các cơ sở y tế công lập khám chokhoảng 110 triệu lượt người và điều trị nội trú cho hơn 9 triệu lượt người trongnăm 2008 Trong khi các cơ sở ngoài công lập khám và điều trị cho hơn 4 triệungười.
Bảng 1: Quy mô ngành y tế Việt Nam, năm 2008
Công lập Ngoài công lập
30.000*
9330029.607
Số lượt khám chữa bệnh (000) 119.000 4.000
* Số liệu này do Bộ Y tế ước tính năm 2008
** Con số này bao gồm 70% số cán bộ y tế của cơ sở y tế ngoài công lập là cán bộ y tế của các cơ sở y tế công làm việc cho các phòng khám ngoài giờ.
Theo báo cáo của Bộ Y tế, cho tới nay đã có 28 tỉnh, thành phố có bệnh viện tưnhân, trong đó 88 bệnh viện tư nhân có vốn đầu tư trong nước còn 5 bệnh viện cóvốn đầu tư nước ngoài Các bệnh viện tư chiếm khoảng 8,6% so với bệnh viên công.Các bệnh viện tư chủ yếu được thành lập ở các thành phố như Hà Nội, Thành phố
Hồ Chí Minh, Nghệ An, Đà Nẵng… Theo quy hoạch ngành y tế của Chính phủ thựchiện năm 2006, thì đến năm 2010 cả nước có trung bình 2 giường bệnh của bệnhviện tư nhân trên một vạn dân, và đạt 5 giường bệnh/1 vạn dân vào năm 2020.Ngoài ra các bệnh viên công cũng mở các loại hình khám chữa bệnh “dịch vụ” dànhcho những bệnh nhân sẵn sàng trả mức phí cao hơn để có điều kiện khám chữa bệnhnhanh và tốt hơn
Trang 11Trong những năm vừa qua, cùng với hệ thống cơ sở y tế công lập, các cơ sở y tếngoài công lập đã góp phần không nhỏ trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏengười dân Các cơ sở y tế ngoài công lập đã góp phần giảm tải cho các cơ sở y tếcông; đa dạng hóa loại hình, tăng sự lựa chọn cho người bệnh
4 Tính cấp thiết và cần thiết của xã hội hóa ngành giáo dục, y tế
Thực hiện xã hội hoá nhằm hai mục tiêu lớn: thứ nhất là phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục, y tế; thứ hai là tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được thụ hưởng thành quả giáo dục, y tế
ở mức độ ngày càng cao.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện xã hội hoá vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc và tồn tại, hạn chế; đó là: Nhận thức về xã hội hóa ở một bộ phận cán bộ, nhân dân còn chưa đầy đủ, tốc độ xã hội hoá trong các lĩnh vực còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng và chưa huy động được tổng thể các nguồn lực để phát triển các lĩnh vực giáo dục, y tế, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ; công tác chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện công tác xã hội hóa ở một số ngành, đơn vị còn lúng túng; cơ chế chính sách chưa đồng bộ, thiếu và chậm hướng dẫn cụ thể; tỷ trọng cung cấp dịch vụ của các cơ sở ngoài công lập trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, còn thấp; các cơ sở ngoài công lập chưa nhiều, quy mô còn nhỏ bé, cơ sở vật chất còn đơn sơ, đội ngũ cán bộ còn thiếu và yếu, chất lượng và hiệu quả hoạt động chưa cao; còn có lĩnh vực không khai thác hết công suất cơ
sở vật chất đã đầu tư; mức độ phát triển xã hội hoá còn thấp ở khu vực ngoại thành và vùng xa, vùng khó khăn.
Nhu cầu của xã hội về giáo dục, y tế ngày càng cao, trong khi khả năng đáp ứng của ngân sách Nhà nước có hạn, chỉ có thể đáp ứng được các nhu cầu cơ bản, vì vậy tiếp tục đẩy mạnh việc huy động toàn xã hội tham gia vào cung cấp và nâng cao chất lượng dịch vụ trong các lĩnh vực giáo dục, y
tế, là yêu cầu khách quan từ thực tiễn.
Thực tế đó, đòi hỏi phải tiếp tục xây dựng, bổ sung, hoàn thiện và triển khai các nhiệm vụ, giải pháp, cơ chế, chính sách xã hội hóa giáo dục, y tế
để quá trình xã hội hóa bảo đảm phù hợp với định hướng phát triển kinh tế
-xã hội của đất nước, vừa khuyến khích các thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân tham gia, đồng thời đẩy mạnh mở rộng các loại hình dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng yêu cầu của nhân dân.
II Vai trò của chính phủ trong tiến trình xã hội hóa ngành kinh
tế
1 Vai trò định hướng
1.1 Giáo dục
Trang 12- Nhà nước tiếp tục tăng tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục đào tạo Bảo đảm kinh phí cho giáo dục phổ cập; tập trung đầu
-tư cho các nhiệm vụ trọng điểm, các chương trình mục tiêu quốc gia; đào tạo nhân lực cho các ngành, nghề mũi nhọn, trọng điểm, khó huy động nguồn lực từ xã hội; ưu tiên đầu tư cho những vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người Nhà nước có cơ chế, chính sách đào tạo đủ về số lượng và bảo đảm chất lượng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và các nhân viên khác, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; tiếp tục thực hiện các cơ chế chính sách khuyến khích, thu hút học sinh, sinh viên giỏi làm giáo viên, giảng viên, gắn đào tạo với sử dụng.
- Huy động nguồn lực của các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế - xã hội và cá nhân để phát triển giáo dục - đào tạo Tăng cường quan hệ của nhà trường với gia đình và xã hội; huy động trí tuệ, nguồn lực của toàn ngành, toàn xã hội vào việc đổi mới nội dung, chương trình, thực hiện giáo dục toàn diện Ban hành cơ chế chính sách cụ thể khuyến khích và quy định trách nhiệm các ngành, địa phương, các tổ chức kinh tế - xã hội và người sử dụng lao động tham gia xây dựng trường, hỗ trợ kinh phí cho người học, thu hút nhân lực
đã được đào tạo và giám sát các hoạt động giáo dục.
- Đổi mới cơ bản chế độ học phí: ngoài phần hỗ trợ của Nhà nước theo khả năng ngân sách, học phí cần bảo đảm trang trải chi phí cần thiết cho giảng dạy, học tập và có tích luỹ để đầu tư phát triển nhà trường; bước đầu đủ bù đắp chi phí thường xuyên Xoá bỏ mọi khoản thu khác ngoài học phí Nhà nước có chính sách trợ cấp học phí hoặc học bổng cho học sinh giáo dục phổ cập, cho người học là đối tượng chính sách, những người ở vùng khó khăn, những người nghèo và những người học xuất sắc, không phân biệt học ở trường công lập hay ngoài công lập.
- Khuyến khích thành lập các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề ngoài công lập; chuyển một số cơ sở công lập sang loại hình ngoài công lập Hạn chế mở thêm các cơ sở công lập ở những vùng kinh tế phát triển Không duy trì các
cơ sở bán công, các lớp bán công trong trường công.
Khuyến khích việc hợp tác, liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo có chất lượng cao của nước ngoài; khuyến khích mở các các cơ sở giáo dục đào tạo có chất lượng cao, có uy tín bằng 100% vốn đầu tư nước ngoài; khuyến khích các nhà
Trang 13khoa học, giáo dục có trình độ cao ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia giảng dạy tại Việt Nam.
- Củng cố, phát triển và nâng cao chất lượng các cơ sở giáo dục từ xa, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên của mọi người, ở mọi nơi, mọi trình độ và mọi lứa tuổi.
1.2 Y tế
- Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho y tế, trong đó bảo đảm ngân sách cho y tế công cộng, chăm sóc sức khoẻ cơ bản cho các đối tượng chính sách, người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi Ưu tiên đầu tư cho hệ thống y tế dự phòng, y tế cơ sở, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, các bệnh viện nhi, khoa nhi, các chuyên khoa ít có khả năng thu hút đầu tư Triển khai đề án đào tạo bác sĩ, dược sĩ đại học cho vùng núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long ưu tiên đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu dược và sản xuất thuốc trong nước.
- Tăng cường các hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Vận động mọi người tham gia chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho bản thân, gia đình và cộng đồng Khuyến khích các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài hoạt động từ thiện, cung cấp, hỗ trợ các thiết bị y tế và hỗ trợ khám chữa bệnh.
- Đẩy nhanh tiến độ phát triển và nâng cao chất lượng bảo hiểm y tế; củng cố và mở rộng bảo hiểm y tế bắt buộc theo hướng đa dạng hoá các loại hình bảo hiểm y tế đáp ứng nhu cầu của nhân dân; phát triển mạnh bảo hiểm y tế cộng đồng dựa chủ yếu vào sự đóng góp của người tham gia bảo hiểm,
có sự trợ giúp của Nhà nước và các nguồn tài trợ khác; khuyến khích các loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện.
Mở rộng diện các cơ sở y tế đăng ký khám chữa bệnh theo bảo hiểm y tế Từng bước thực hiện người đóng bảo hiểm y tế tự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh phù hợp Nhà nước quy định chế độ thanh toán bảo hiểm y tế, đồng thời
có chính sách ưu đãi đối với các đối tượng chính sách, trẻ
em dưới 6 tuổi, trợ giúp người nghèo, đồng bào dân tộc ít người, vùng khó khăn.
- Đổi mới chế độ viện phí trên cơ sở từng bước tính đúng, tính đủ các chi phí trực tiếp phục vụ bệnh nhân Từng bước chuyển đổi việc cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho các cơ sở khám chữa bệnh sang cấp trực tiếp cho đối tượng
Trang 14thụ hưởng dịch vụ y tế do Nhà nước cung cấp thông qua hình thức bảo hiểm y tế.
- Khuyến khích mở bệnh viện, phòng khám tư nhân, bác sĩ gia đình.
- Ngăn chặn, xoá bỏ độc quyền trong xuất nhập khẩu, sản xuất và cung ứng thuốc chữa bệnh.
2 Quá trình tiến triển của chính sách xã hội hóa trong giáo dục và y
tế của Việt Nam
Hiện nay dù chính sách “xã hội hóa” đã trở thành một chính sách quan trọng trongphát triển giáo dục và y tế nhưng vẫn chưa có nghiên cứu nào cho biết chủ trươngnày này ra đời khi nào Có thể chính sách này bắt nguồn từ chủ trương “nhà nước vànhân dân cùng làm” nhằm đối phó với những khó khăn của việc cung cấp các dịch
vụ y tế và giáo dục đầu thập niên 1980 Tuy nhiên, chủ trương này được thực hiệnkhông thống nhất trên cả nước mà tùy vào từng địa phương Trong “Báo cáo củaBan Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI của Đảng” ngày 15/12/1986 phần về “Phương hướng, mục tiêu chủ yếuphát triển kinh tế, xã hội trong 5 năm 1986-1990” có chỉ rõ:
“Việc đóng góp của các tổ chức kinh tế tập thể và của nhân dân vào việc xây dựng
cơ sở vật chất cho ngành giáo dục theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùnglàm” cần được quy định rõ ràng thành chế độ, vừa để huy động hợp lý sự đóng gópcủa nhân dân, vừa tránh mọi sự lạm dụng”
Nhờ vào chủ trương này cuối những năm 1980 có sự xuất hiện trở lại những trườngdân lập ở Việt Nam (trường PTDL Lương thế Vinh và Đại học dân lập Thăng long).Đại hội Đảng lần thứ 7 năm 1991 tiếp tục khẳng định chủ trương cần huy động cácnguồn lực trong xã hội cho phát triển giáo dục và sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhândân Chủ trương này sau đó được cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 04 - NQ/HNTWHội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) ngày 14 tháng 01năm 1993 Một trong những quan điểm chủ đạo của nghị quyết này là cần thực hiệnphương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” trong giáo dục và y tế
Đối với giáo dục thực hiện đa dạng hóa các hình thức đào tạo, thực hiện công bằng
xã hội trong giáo dục: người đi học phải đóng học phí, người sử dụng lao động quađào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo Nhà nước có chính sách bảo đảm cho ngườinghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học
Đối với y tế nhà nước chủ trương đa dạng hóa các hình thức tổ chức chăm sóc sứckhoẻ (nhà nước, tập thể, nhân dân) trong đó y tế Nhà nước là chủ đạo, tận dụng mọitiềm năng sẵn có trong nước và mở rộng hợp tác quốc tế Đây là nghị quyết mởđường cho việc tư nhân tham gia vào lĩnh vực y tế ở Việt Nam kể từ sau năm 1975 Như đã đề cập ở trên, chính sách XHH giáo dục và y tế chính thức được đề cậptrong “Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VIII của Đảng” năm 1996 phần Phương hướng nhiệm vụ kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996 – 2000: “Các vấn đề chính sách xã hội đềugiải quyết theo tinh thần XHH Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viênmọi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và các tổchức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội”
Trang 15Một năm sau, nghị quyết NQ 90/CP đã cụ thể hóa chính sách này bằng một nghịquyết riêng về vấn đề XHH giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao Đây là văn bản đầu tiênquy định cụ thể và chi tiết nhất về các nội dung trong chính sách XHH giáo dục và y
tế Để thực hiện chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnhvực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao trên thực tế, chính phủ đã ban hành Nghị định số73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ với nhiều ưu đãi dành cho các tổchức và cá nhân tham gia cung cấp dịch vụ giáo dục và y tế
Chính sách XHH tiếp tục được khẳng định như là chủ trương quan trọng để đẩymạnh phát triển giáo dục và chăm sóc sức khỏe người dân qua các nghị quyết củaBan chấp hành trung ương Đảng khóa 8, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trungương tại các đại hội Đảng IX và X Về phía cơ quan hành pháp, Chính phủ đã banhành NQ 05/2005/ NQ-CP về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóathể thao, ban hành nghị định 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hộihóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao,môi trường Ngoài ra còn hàng loạt các văn bản pháp luật khác nhằm cụ thể hóa hay
hỗ trợ thực hiện chính sách XHH giáo dục và y tế (tham khảo phụ lục 4 và 5) Các
bộ ngành có liên quan cũng lần lượt ban hành các quyết định phê duyệt các đề án vềXHH trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền như: Quyết định số 20/2005/QĐ-BGDĐTngày 24/6/2005 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt Đề án Quy hoạchphát triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005 – 2010 ; Quyết định 2194/QĐ-BYTngày 21/6/2005 của Bộ Y tế về phê duyệt Đề án Phát triển xã hội hóa bảo vệ, chămsóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; Quyết định số 1000/2005/ QĐ-BLĐTBXHngày 07/6/2005 của Bộ LĐ-TBXH về việc phê duyệt Đề án Phát triển xã hội hóadạy nghề đến năm 2010; …
Tóm lại XHH là một chủ trương chuyển đổi cơ chế quản lý có nội dung đa dạng vàphức tạp Trong báo cáo này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những tác động củachủ trương XHH giáo dục và y tế tới những người nghèo - những người dễ bị tổnthương nhất trong xã hội Các phân tích khác có liên quan cũng nhằm vào mục tiêunày
3 Các nguồn lực cho XHH giáo dục và y tế
Để thực hiện chủ trương XHH, nghị quyết 05/2005/NQ-CP đã chỉ rõ các nguồn lựcphục vụ cho cung cấp các dịch vụ giáo dục và y tế bao gồm:
• Nhà nước: Trong đó chủ trương Nhà nước tiếp tục tăng tỷ
lệ chi ngân sách cho giáo dục – đào tạo, y tế nhưng tập trung vào một số nhiệm vụ chính
Với giáo dục:
Nhà nước bảo đảm kinh phí cho giáo dục phổ cập, tập trung đầu tư cho các nhiệm
vụ trọng điểm, các chương trình mục tiêu quốc gia; đào tạo nhân lực cho các ngành,nghề mũi nhọn, trọng điểm, khó huy động nguồn lực từ xã hội; ưu tiên đầu tư chonhững vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người
Với y tế:
Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho y tế, trong đó bảo đảm ngân sách cho y tế côngcộng, chăm sóc sức khoẻ cơ bản cho các đối tượng chính sách, người nghèo và trẻ
Trang 16vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, các bệnh viện nhi, khoa nhi, các chuyên khoa ít
có khả năng thu hút đầu tư Triển khai đề án đào tạo bác sĩ, dược sĩ đại học cho vùngnúi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long Ưu tiên đầu
tư phát triển nguồn nguyên liệu dược và sản xuất thuốc trong nước
• Huy động nguồn lực của các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế – xã hội và cá nhân để phát triển giáo dục – đào tạo,
Để tăng trách nhiệm của người học Nhà nước chế độ học phí đã được thực hiện từlâu ở Việt Nam Nhưng do trước đây quy định về học phí thì Nhà nước vẫn bao cấpphần lớn chi phí giáo dục (QĐ 241/1993/QĐ-TTg và QĐ 70/1998/QĐ-TTg của Thủtướng chính phủ) Vì vậy để thực hiện chủ trương XHH, nhà nước sẽ đổi mới cơ bảnchế độ học phí: ngoài phần hỗ trợ của Nhà nước theo khả năng ngân sách, học phícần bảo đảm trang trải chi phí cần thiết cho giảng dạy, học tập và có tích luỹ để đầu
tư phát triển nhà trường; bước đầu đủ bù đắp chi phí thường xuyên Đồng thời Nhànước cũng chủ trương xoá bỏ mọi khoản thu khác ngoài học phí
Nhà nước khuyến khích thành lập các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề ngoàicông lập; chuyển một số cơ sở công lập sang loại hình ngoài công lập Chủ trươnghạn chế mở thêm các cơ sở công lập ở những vùng kinh tế phát triển; không duy trìcác cơ sở bán công, các lớp bán công trong trường công
Nhà nước khuyến khích việc hợp tác, liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo có chấtlượng cao của nước ngoài; khuyến khích mở các các cơ sở giáo dục đào tạo có chấtlượng cao, có uy tín bằng 100% vốn đầu tư nước ngoài
Với y tế:
Nhà nước khuyến khích các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài hoạt động từthiện, cung cấp, hỗ trợ các thiết bị y tế và hỗ trợ khám chữa bệnh
Để giảm gánh nặng bao cấp của Nhà nước thì chính sách XHH y tế chủ trương củng
cố và mở rộng bảo hiểm y tế bắt buộc theo hướng đa dạng hóa các loại hình bảohiểm y tế đáp ứng nhu cầu của nhân dân; phát triển mạnh bảo hiểm y tế cộng đồngdựa chủ yếu vào sự đóng góp của người tham gia bảo hiểm, có sự trợ giúp của Nhànước và các nguồn tài trợ khác; khuyến khích các loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện
Để huy động đóng góp của người dân trong cải thiện dịch vụ y tế Nhà nước chủtrương thu viện phí (bắt đầu từ 1992) Tuy nhiên, do quy định viện phí này vẫnmang tính bao cấp nên nhà nước chủ trương đổi mới chế độ viện phí trên cơ sởtừng bước tính đúng, tính đủ các chi phí trực tiếp phục vụ bệnh nhân Nhà nướccũng chủ trương giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước cho một số lĩnh vực y
tế thông qua việc tăng quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp (Nghị định43/2006/ND-CP)
Chế độ tài chính cho các cơ sở khám chữa bệnh cũng thay đổi từng bước nhằm
Trang 17bệnh sang cấp trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng dịch vụ y tế do Nhà nước cung cấpthông qua hình thức bảo hiểm y tế
Nhà nước khuyến khích mở bệnh viện, phòng khám t¬ư nhân, bác sĩ gia đình, ngănchặn, xóa bỏ độc quyền trong xuất nhập khẩu, sản xuất và cung ứng thuốc chữabệnh
Hiện nay ngoài các bệnh viện tư nhân thì việc huy động các nguồn lực để đầu tưphát triển các cơ sở khám chữa bệnh công lập được thực hiện dưới hai hình thức chủyếu: (i) liên doanh liên kết để đầu tư các trang thiết bị y tế; (ii) phát triển các dịch vụkhám chữa bệnh theo yêu cầu Các hình thức này cũng được Đề án XHH y tế (Bộ y
tế, 2005) nêu trong các giải pháp nhằm huy động nguồn lực cho phát triển các cơ sở
y tế công lập
Tóm lại, thực hiện chính sách XHH nhưng nhà nước không cắt giảm chi tiêu chogiáo dục và y tế nhưng các khoản chi này sẽ được hướng vào những nhiệm vụ cụthể Nhìn chung, người sử dụng dịch vụ giáo dục và y tế sẽ phải đóng góp nhiều hơn
về học phí và viện phí Nhà nước khuyến khích đóng góp của người dân, các tổ chức
xã hội và doanh nghiệp trong cung cấp các dịch vụ giáo dục và y tế
4 Các chính sách bổ trợ để tăng cường hiệu quả và hạn chế mặt trái của chính sách XHH với người nghèo
Theo chủ trương của Nghị quyết 90/CP năm 1997 của Chính phủ, XHH giáo dục và
y tế phải đi liền với đảm bảo công bằng xã hội trong sử dụng các dịch vụ giáo dục
và y tế, đồng thời hạn chế việc lạm dụng chủ trương xã hội hóa Các nội dung này
đã được ghi rõ trong nghị quyết này:
“Việc huy động dân tham gia đóng góp cho giáo dục phải được xem xét một cách kĩlưỡng, căn cứ vào mức sống và khả năng của dân ở từng vùng, từng địa phương trên
cơ sở bảo đảm công bằng xã hội, có chính sách học phí phù hợp, đồng thời có chínhsách trợ cấp xã hội và cho vay vốn để đi học
…Tiếp tục cải tiến chế độ học bổng, trợ cấp xã hội và tín dụng đào tạo để bảo đảmcho người nghèo có điều kiện học Nâng cao mức học bổng dành cho học sinh vàsinh viên giỏi và học bổng cho các ngành học cần khuyến khích…
Tổ chức tốt việc khám và chữa bệnh cho người nghèo Chính phủ tài trợ một phần,đồng thời khuyến khích Hội Chữ thập đỏ, các Hội Từ thiện, tổ chức quần chúng, tổchức kinh tế của Nhà nước và tư nhân đóng góp để xây dựng các quỹ trợ giúp chongười nghèo được khám, chữa bệnh, mua bảo hiểm y tế cho các gia đình có côngvới nước và cho người nghèo”
Chủ trương này được nhắc lại trong nghị quyết 05/2005/NQ-CP (Về đẩy mạnh xãhội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao) Chính phủ ViệtNam chủ trương đổi mới chế độ thu phí đi đôi với việc thực hiện tốt chính sách ưuđãi các đối tượng chính sách và trợ giúp người nghèo
Để đảm bảo chất lượng của các cơ sở thực hiện XHH nghị quyết 05/2005 cũng chỉ
rõ việc Nhà nước tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực hiện luật pháp;đồng thời cần phát huy vai trò của các đoàn thể, tổ chức quần chúng, đặc biệt là cáchội nghề nghiệp trong việc giám sát các hoạt động dịch vụ