Ở bất kỳ quốc gia nào thì vai trò của ngân hàng trung ương đều rất quan trọng trong việc đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát và giữ sự an toàn của hệ thống ngân hàng. Thông qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, chúng ta đã thấy được vai trò của ngân hàng trung ương đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Nhờ có ngân hàng trung ương với quyền hạn và chức năng đặc biệt của mình trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ mà các ngân hàng thương mại có thể được giải cứu khỏi tình trạng phá sản hay để các ngân hàng thương mại phá sản nếu hoạt động của nó không còn hiệu quả nữa, nhằm duy trì được tính thanh khoản cho toàn bộ hệ thống tài chính. Do đó, việc nghiên cứu về ngân hàng trung ương ở các nước, đưa ra các điểm giống và khác nhau để có thể đưa ra những nhận định về hệ thống ngân hàng trung ương thế giới, cách thức hoạt động của các ngân hàng trung ương.
Trang 1PHÂN TÍCH VAI TRÒ, MỤC TIÊU, CẤU TRÚC TỔ CHỨC CỦA CÁC NGÂN
HÀNG TRUNG ƯƠNG: FED, BOC, BOJ
Tóm tắt
Ngân hàng trung ương có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh tế của các nước trên thế giới Hoạt động của Ngân hàng trung ương ảnh hưởng tới lãi suất, các khoản tín dụng và việc cung cấp tiền tệ, tất cả không chỉ tác động trực tiếp đến thị trường tài chính mà còn tác động đến tổng sản lượng quốc gia, lạm phát Trong bài tiểu luận của nhóm, nhóm sẽ phân tích vai trò, mục tiêu, chức năng và cấu trúc tổ chức của ba ngân hàng là: ngân hàng trung ương của Mỹ (FED), ngân hàng trung ương Canada (BOC), ngân hàng trung ương Nhật Bản (BOJ) Kết hợp với việc phân tích mỗi ngân hàng, nhóm sẽ so sánh để đưa ra kết luận về sự cần thiết của ngân hàng trung ương
Mục đích nghiên cứu
Ở bất kỳ quốc gia nào thì vai trò của ngân hàng trung ương đều rất quan trọng trong việc đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát và giữ sự an toàn của hệ thống ngân hàng Thông qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, chúng ta đã thấy được vai trò của ngân hàng trung ương đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới Nhờ có ngân hàng trung ương với quyền hạn và chức năng đặc biệt của mình trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ mà các ngân hàng thương mại có thể được giải cứu khỏi tình trạng phá sản hay để các ngân hàng thương mại phá sản nếu hoạt động của nó không còn hiệu quả nữa, nhằm duy trì được tính thanh khoản cho toàn bộ hệ thống tài chính Do đó, việc nghiên cứu về ngân hàng trung ương ở các nước, đưa ra các điểm giống và khác nhau để có thể đưa ra những nhận định
về hệ thống ngân hàng trung ương thế giới, cách thức hoạt động của các ngân hàng trung ương
Câu hỏi nghiên cứu
- Vai trò của FED, BOC, BOJ là gì đối với nền kinh tế của mỗi nước?
- Mục tiêu, chức năng của FED, BOC, BOJ là gì?
- Để hiểu về vai trò, mục tiêu, chức năng của các ngân hàng trung ương trong hệ thống tài chính và toàn bộ nền kinh tế thì cần phải hiểu về cấu trúc hoạt động của nó Ai là người kiểm soát và quyết định hoạt động của FED, BOC, BOJ? Ai là người thực hiện các hoạt động của các ngân hàng trung ương?
Trang 2Phương pháp nghiên cứu
Phân tích và so sánh sau đó rút ra kết luận
1 Lý thuyết
1.1 Ngân hàng trung ương (NHTW) và vai trò của nó
Ngân hàng trung ương là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia/chính sách tiền tệ Mục đích hoạt động của ngân hàng trung ương là ổn định giá trị của tiền tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lãi suất, cứu các ngân hàng thương mại có nguy
cơ đổ vỡ Hầu hết các ngân hàng trung ương thuộc sở hữu của Nhà nước, nhưng vẫn có một mức độ độc lập nhất định đối với Chính phủ
Ngân hàng trung ương có thể đóng vai trò là:
- Ngân hàng độc quyền phát hành tiền,
- Ngân hàng của các ngân hàng trung gian,
- Ngân hàng, đại lý và cố vấn cho chính phủ,
- Ngân hàng trực tiếp quản lý dự trữ ngoại hối quốc gia,
- Điều tiết kinh tế vĩ mô
1.2 Mục tiêu và chức năng của NHTW
Ngân hàng trung ương có thể theo đuổi một số mục tiêu Các NHTW khác nhau lại có thể có những mục tiêu với thứ tự ưu tiên khác nhau Tuy nhiên, tựu trung lại, mục tiêu cuối cùng của các NHTW thường rơi vào năm nhóm sau: (1) ổn định giá cả, (2) ổn định tỷ giá, (3) tăng trưởng, (4) việc làm, và (5) ổn định hệ thống tài chính; trong đó bốn nhóm đầu tiên liên quan đến ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng, và nhóm cuối cùng liên quan đến giảm rủi ro hệ thống của khu vực tài chính
Tùy thuộc vào sự lựa chọn mục tiêu, NHTW có thể thực hiện toàn bộ hoặc một
số chức năng sau đây:
- Điều hành chính sách tiền tệ,
- Điều hành chính sách tỷ giá,
- Quản lý dự trữ ngoại hối,
- Giám sát hệ thống tài chính,
- Làm ngân hàng cho các ngân hàng thương mại,
- Thống kê và phân tích tình hình kinh tế, tài chính, tiền tệ,
- Chức năng phát triển,
Trang 3- Một số chức năng khác: NHTW còn chịu trách nhiệm in và phát hành đồng tiền quốc gia, cung cấp dịch vụ thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng thương mại, cung cấp dịch vụ thanh toán cho Chính phủ
1.3 Cấu trúc tổ chức của NHTW
1.3.1 Mô hình tổ chức của NHTW
- Khi nói tới mô hình tổ chức của NHTW ở các quốc gia thì cần phải vị trí pháp
lý của tổ chức này trong bộ máy công quyền Tùy theo điều kiện kinh tế- xã hội mỗi nước
mà NHTW sẽ tổ chức theo những mô hình khác nhau, có vị trí khác nhau trong bộ máy nhà nước, có mối quan hệ khác nhau trong Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền khác
- Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại ba mô hình NHTW: NHTW độc lập với Chính phủ, NHTW trực thuộc Chính phủ, NHTW trực thuộc Bộ tài chính Nếu xét theo nguồn vốn thì có các NHTW: NHTW do tư nhân làm chủ không có vốn nhà nước, NHTW trong đó có cả vốn của nhà nước và tư nhân, NHTW thuộc sở hữu của nhà nước 100%
1.3.2 Hoạt động của NHTW
- Dù NHTW thuộc mô hình tổ chức nào thì hoạt động của chúng đều có điểm
giống nhau đó là quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng và hoạt động nhằm ổn định giá, đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng và tăng trưởng kinh tế thông qua các hoạt động: phát hành tiền, xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, giám sát hoạt động của các ngân hàng thương mại Các hoạt động này đều có vai trò quan trọng quyết định với sự ổn định và an toàn của hệ thống ngân hàng trong một quốc gia
- Mức độ độc lập trong hoạt động của NHTW được xác định tùy thuộc vào mô hình tổ chức của NHTW và trình độ phát triển nền kinh tế thị trường ở mỗi quốc gia
-Mức độ độc lập được phân thành bốn cấp độ:
+ Cấp độ 1: độc lập, tự chủ trong việc thiết lập mục tiêu hoạt động + Cấp độ 2: độc lập, tự chủ trong việc xác lập các chỉ tiêu hoạt động + Cấp độ 3: độc lập, tự chủ trong việc chọn lựa công cụ điều hành + Cấp độ 4: độc lập tự chủ hạn chế
- Tính độc lập sẽ thể hiện ở ba khía cạnh:
+ Độc lập về nhân sự: thể hiện qua quyền hạn của Thống đốc NHTW trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến nhân sự bên trong tổ chức của mình
Trang 4+ Độc lập về chính sách: độc lập về mục tiêu trung gian và công cụ chính sách của NHTW
+ Độc lập về tài chính.: NHTW có quyền tự chủ trong việc quyết định phạm vi và mức độ tài trợ chi tiêu cho Chính phủ? NHTW có đủ nguồn tài chính lớn để không phụ thuộc và sự cấp phát tài chính của Chính phủ? Thống đốc có quyền quyết định hầu hết các khoản chi tiêu của tổ chức này trong khuôn khổ dự toán ngân sách đã được phê duyệt?
2 FED, BOJ, BOC sự tương đồng và khác biệt
2.1 Hoàn cảnh ra đời và vai trò
FED
Trước thế kỷ 20, nước Mỹ trải qua cuộc nội chiến Bắc - Nam về vấn đề chủ nghĩa
nô lệ và giai đoạn phục hưng sau khi kết thúc cuộc chiến Miền Bắc và miền Tây phát triển nhanh chóng và thịnh vượng, trong khi miền Nam vẫn bần cùng cho đến nửa sau thế
kỷ 20 Một đặc điểm chính của nền chính trị Mỹ là nỗi sợ hãi quyền lực tập trung; sự thù địch của công chúng Mỹ, sự bất mãn của giới trung lưu đối với các vấn đề như tham nhũng, thiếu hiệu quả của hệ thống chính trị tạo ra một cản trở lớn đối với việc thành lập một ngân hàng trung ương duy nhất Ngân hàng BUS của Hamilton đã đóng cửa năm
1811 và thể chế thay thế sau đó cũng đóng cửa năm 1836 Người Mỹ cho rằng các Ngân hàng có thể tự quản lý bản thân Tuy nhiên, quan điểm này chấm dứt khi cuộc khủng hoảng 1907 nổ ra
Nền kinh tế Mỹ bắt đầu giảm tốc vào năm 1907, khiến giá của một số hàng hóa lao dốc Cuộc khủng hoảng do cặp đôi Heinze – Morse tạo ra dẫn đến một sự khủng hoảng dây chuyền Người Mỹ không tin tưởng vào hệ thống Ngân hàng và bắt đầu tháo chạy, rút tiền ra khỏi Ngân hàng và giữ tiền mặt ngay tại nhà Cảm nhận được viễn cảnh sụp
đổ, nhiều Ngân hàng tuyên bố nghỉ khẩn cấp, những ngân hàng còn hoạt động thì hạn chế rút tiền Lãi suất tăng vọt lên tới 125%
Nước Mỹ thành lập một hội đồng có tên Ủy ban tiền tệ quốc gia (NMC) có nhiệm
vụ thảo luận về cách vận hành thị trường tiền tệ Mỹ Sau 4 năm kiểm nghiệm các bằng chứng từ khắp thế giới để tìm ra cách tái định hình thị trường tiền tệ tối ưu nhất NMC đưa ra kết luận ngân hàng đóng vai trò là người cho vay cuối cùng là điều cần thiết Kết quả là năm 1913, FED ra đời
BOJ
Trang 5Nhật Bản thời kỳ Tokugawa mặc dù là một nước nông nghiệp song lại có nền kinh
tế hàng hóa phát triển tương đối rộng khắp Thay vì một nền nông nghiệp để sống thuần túy, việc sản xuất cho thị truờng đã dần dần trở thành tiêu chuẩn cho dân chúng làm nông nghiệp Các thuơng nhân không chỉ buôn bán mà còn tiến hành các dịch vụ tài chính như tín dụng và các hoạt động đầu tư sản xuất Sự tích lũy tư bản tăng lên nhanh chóng, hoạt động tiền tệ, tín dụng phát triển mạnh Những hình thức sơ khai của Ngân hàng đã ra đời Năm 1868, sau chiến tranh Boshin, Thiên Hoàng Minh Trị tiến hành cuộc Minh Trị Duy Tân, mở ra kỷ nguyên hiện đại hóa đất nước Cuộc khôi phục hoàng quyền vào thời Minh Trị là một cuộc thay đổi chính trị rất lớn trong lịch sử Nhật Bản; đưa đất nước từ hình thái bế quan tỏa cảng thời Mạc phủ Togukawa tiếp cận với những tư tuởng tiến bộ của phương Tây Chính phủ coi công nghiệp là một trong những trụ cột của một quốc gia hiện đại và vì vậy đã đề ra nhiều chính sách phát triển công nghiệp Năm 1882 Ngân hàng Trung ương Nhật Bản được thành lập theo mô hình của Ngân hàng quốc gia Bỉ là một công ty cổ phần mà vốn nhà nước ban đầu chỉ là 55 triệu yên Với vai trò phát hành tiền và kiểm soát tiền tệ
BOC
Năm 1817, Ngân hàng Montreal được thành lập, trở thành Ngân hàng đầu tiên của Canada Đến năm 1867, có 28 Ngân hàng hoạt động ở Canada Hiến pháp năm 1867 (hiến pháp năm 1867 tuyên bố Canada là một nước tự trị) đã đưa Chính phủ tự trị mới có được mức kiểm soát cao hơn đối với ngân hàng và tiền tệ Hơn thế nữa, việc thành lập Hiệp hội Ngân hàng Canada vào năm 1891 đã tạo ra một cơ cấu chính thức cho các Ngân hàng trong việc thiết lập mối quan hệ với chính phủ tự trị Canada Năm 1900, đạo luật Ngân hàng ra đời áp dụng cho tất cả các thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Canada phải tuân thủ
Trong những năm 1800, một sự kết hợp của nhiều yếu tố đã dẫn đến việc thành lập một Ngân hàng trung ương ở Canada là không cần thiết Có rất ít Ngân hàng hoạt động ở Canada lúc bấy giờ cũng như là mối quan hệ mật thiết giữa các hình thái kinh doanh với các quan chức trong thuợng viện và hạ viện Canada gây ra khó khăn trong việc thiết lập một điều lệ Ngân hàng Bên cạnh đó, dân số ít và nền kinh tế theo mua dựa vào nông nghiệp và thủy sản khiến cho ở Canada không có nhiều sự xuất hiện của các Ngân hàng lớn như Montreal Điều này cũng có nghĩa là Chính phủ không cần thiết lập một Ngân hàng trung ương để xử lý các hoạt động tài chính
Trang 6Năm 1931, Thủ tướng Chính phủ RB Bennett (thủ tướng chính phủ đầu tiên của Chính phủ tự trị Canada) nhận ra những ưu điểm của một hệ thống Ngân hàng trung ương; ông đưa ra bài phát biểu rằng Canada cần trực tiếp kiểm soát chính sách tiền tệ Bên cạnh đó, cuộc đại khủng hoảng năm 1930 đã tạo nên làn sóng chỉ trích trong hoạt động của Ngân hàng Hành động của Ngân hàng trong thời kỳ này đã tạo ra một tình trạng giảm phát có hại cho nền kinh tế Điều này tạo động lực cho một Ngân hàng trung ương được thành lập ở Canada Năm 1933 Chính phủ bổ nhiệm Ủy ban đứng đầu là Macmillan để kiểm tra các ưu nhược điểm của việc thiết lập một hệ thống Ngân hàng trung ương Tháng 2 năm 1934 Chính phủ giới thiệu đạo luật cho việc thành lập Ngân hàng trung ương; tháng 7 năm 1934 đạo luật Ngân hàng của Canada được thông qua và tháng 3 năm 1935, Ngân hàng trung ương Canada được thành lập với vai trò thúc đẩy kinh tế và tài chính của Canada
2.2 Mục tiêu, chức năng và chính sách tiền tệ
Mục tiêu và chức năng
Federal Reserve System (FED) có một lịch sử lâu dài với các hoạt động, sự kiện đi kèm với nó Tương thích với tình hình kinh tế qua từng thời kỳ, hoạch định chính sách của FED dường như chỉ định ít nhất một thứ hạng ngầm cho các mục tiêu Theo Đạo luật
dự trữ liên bang Mỹ; FED có nhiệm vụ thực thi chính sách tiền tệ quốc gia để duy trì mức việc làm, giá cả ổn định và lãi suất trung bình; giám sát và quản lý các thể chế ngân hàng
để đảm bảo đó là những nơi an toàn để gởi tiền và để bảo vệ quyền lợi tín dụng của nguời dân; duy trì sự ổn định của nền kinh tế và kiềm chế các rủi ro hệ thống có thể phát sinh trên thị trường tài chính; cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức quản lý tài sản có giá trị, các tổ chức chính thức nước ngoài và chính phủ Hoa Kỳ, đóng vai trò chủ chốt trong vận hành hệ thống chi trả quốc gia
Đối với BOJ, mục tiêu chính của nó đầu tiên là để duy trì ổn định giá cả trong hành
vi của chính sách tiền tệ; thứ hai là để đảm bảo cho hoạt động của hệ thống Ngân hàng diễn ra trơn tru, ổn định và giải quyết thông qua các biện pháp như là người cho vay cuối cùng Từ các mục tiêu đó, luật BOJ quy định về nhiệm vụ và hoạt động mà Ngân hàng cần phải tiến hành: Đảm bảo và quản lý tiền tệ; Quản lý chính sách tiền tệ; Cung cấp các dịch vụ thanh toán và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính; Đảm bảo các hoạt động cho Chính phủ và kho bạc; Lập dữ liệu, nghiên cứu và phân tích các hoạt động kinh tế
Trang 7Về phía BOC, nhiệm vụ của Ngân hàng Canada được xác định trong Luật Ngân hàng với nội dung: Mong muốn thiết lập một Ngân hàng trung ương ở Canada để điều chỉnh tín dụng, tiền tệ nhằm đem đến lợi ích tốt nhất cho đời sống kinh tế của đất nước;
để kiểm soát và bảo vệ giá trị đồng tiền, để giảm thiểu sự tác động của nó đến sản xuất, giá cả và việc làm; để thúc đẩy phúc lợi về kinh tế tài chính của Canada Dựa trên những tuyên bố đó; BOC tập trung thực hiện mục tiêu duy trì một tỷ lệ lạm phát thấp, ổn định và
dự đoán được; ổn định tỉ giá và một hệ thống tài chính ổn định hiệu quả
FED, BOJ, BOC tuy theo đuổi những mục tiêu với thứ tự ưu tiên khác nhau nhưng tựu chung lại, những mục tiêu trên đều hướng đến một điều là mang lại sự ổn định trong giá cả và đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính
Chính sách tiền tệ qua các giai đoạn
FED
Trước khi diễn ra đại suy thoái; mùa hè năm 1927 FED thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng mà cụ thể là FED đã mua vào 80 triệu đô la trái phiếu Mỹ trong vòng 8 tháng; cục dự trữ liên bang Mỹ hạ lãi suất chiết khấu từ 4 xuống 3,5%, cho các Ngân hàng thành viên vay 58 tỷ đô la Thị trường cổ phiếu New York tạo điều kiện cho nhà đầu tư mua cổ phiếu bằng 1% vốn, nếu cần có thể vay thêm Ngân hàng Các Ngân hàng được vay từ Cục dự trữ liên bang với lãi suất thấp rồi cho các nhà đầu tư vay lại với lãi suất 12% Thị trường cổ phiếu New York phát triển một cách nhanh chóng; người Mỹ đầu cơ vào cổ phiếu một cách điên cuống Ngày 9 tháng 8 năm 1929, cục dự trữ liên bang Mỹ bất ngờ nâng lãi suất cho vay lên 6% Ngân hàng cục dữ trữ liên bang tại New York tăng lãi suất cho vay đầu tư chứng khoán từ 5% lên 20% Lãi suất tăng chóng mặt khiến các nhà đầu
tư rút chạy và cuộc khủng hoảng bắt đầu Người dân đổ xô đi rút tiền từ các Ngân hàng khiến các Ngân hàng vỡ nợ nhanh chóng trong khi FED không đáp ứng đựoc vai trò là người cho vay cuối cùng Hậu quả hàng loạt các Ngân hàng phá sản và dẫn đến giai đoạn kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sử
BOJ
Trong thập kỷ 1990, trước thực tế nền kinh tế trì trệ triền miên, một số biện pháp kích cầu đã được thực hiện nhằm vực dậy nền kinh tế Nhật Bản song nền kinh tế vẫn tiếp tục trì trệ Các chuyên gia kinh tế phê phán BOJ đã không thực hiện chính sách tiền tệ hợp lý và đó là một trong những nguyên nhân gây ra thập kỷ mất mát của nước này BOJ
đã chậm trễ trong việc nới lỏng chính sách tiền tệ (giảm lãi suất) Đến khi quyết định
Trang 8giảm lãi suất thì lại không đủ mức; thậm chí còn vội vàng nâng lãi suất khi nền kinh tế có dấu hiệu hồi phục vào cuối năm 1993 Đến mùa hè và thu năm 1995, lãi suất ngắn hạn từ mức trên 2% xuống còn 0,4~0,5% Khi kinh tế Nhật Bản lại rơi vào suy thoái từ đầu năm
1997, Ngân hàng Nhật Bản đã không còn khả năng giảm lãi suất Từ năm 1998, nền kinh
tế chính thức rơi vào trạng thái giảm phát Đầu tư và tiêu dùng tư nhân bắt đầu giảm càng làm cho khoảng cách giữa tổng cầu và tổng cung càng tăng Giảm phát càng nghiêm trọng hơn, và đây chính là "bẫy giảm phát" mà Nhật Bản mắc phải Cung tiền ở Nhật Bản lên cao xuống thấp rất bất thường, nhưng lãi suất ngắn hạn thì có xu hướng bị cố định Chính sách tiền tệ như vậy của Ngân hàng Nhật Bản là "chính sách tiền tệ đơn điệu", chỉ biết làm cho cung tiền bằng cầu tiền để giữ tỷ lệ lạm phát khỏi tăng, chứ không chịu quan tâm đến những mục tiêu tổng quát hơn như là mức tăng trưởng GDP (theo Iwata)
BOC
Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 gây ra đại suy thoái, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp gia tăng đáng kể tại Canada.Năm 2013, phần lớn kinh tế Canada đã ổn định, song quốc gia vẫn gặp khó khăn do tăng trưởng thấp, tính nhạy cảm với cuộc khủng hoảng Eurozone và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn bình thường Thống đốc Ngân hàng trung ương Canada cho biết việc duy trì một mức lãi suất thấp là cần thiết để giúp ngăn chặn nguy cơ giảm phát, nhân tố có thể gây ra một hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế Canada Thống đốc BOC Stephen Poloz cho hay chính sách tiền tệ hiện nay của ngân hàng này là nhằm mục đích chống lại nguy cơ lạm phát giảm hơn nữa so với mục tiêu Theo ông Poloz, tình trạng giảm phát có thể sẽ tiếp tục kéo dài trong vài năm nữa, trước khi quay trở lại mục tiêu 2% do BOC đặt ra và một chính sách tiền tệ phù hợp là rất cần thiết Trong đánh giá chính sách tiền tệ mới nhất của BOC, ngân hàng này dự báo nền kinh tế của Canada sẽ đạt mức tăng trưởng 2,3% trong năm nay (2014) và 2,6% trong năm 2015 Lạm phát có thể sẽ được kiểm soát và quay trở lại với mục tiêu 2% vào cuối năm 2015 Qua cách phản ứng của Ngân hàng trung ương các nước đối với các giai đoạn ta có thể nhận thấy vai trò rất quan trọng trong việc điều hành kinh tế của nó Nếu NHTW thực hiện các chính sách nhằm thực hiện các mục tiêu cá nhân (khủng hoảng 1930 nổ ra ở Mỹ) hay các chính sách không hiệu quả (Thập kỷ mất mát ở Nhật Bản) sẽ đưa nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng Mặt khác, nếu có được chính sách hợp lý, thận trọng (chính sách tiền tệ của Canada) sẽ giúp cho nền kinh tế dẫn phục hồi và lấy lại mục tiêu tăng trưởng
Trang 92.3 Cấu trúc tổ chức
Mô hình hoạt động của FED, BOC, BOJ
FED
Hình 1: Mô hình hoạt động của FED
BOC
Hội đồng quản trị
1 Thống đốc 1 Phó thống đốc 12 giám đốc độc lập
Phát triển kinh tế Canada
Ủy ban chính sách
tiền tệ
Bốn bộ phận kinh tế của BOC Phát triển kinh tếquốc tế
Ổn định tài chính
Thị trường tài chính
Hình 2: Mô hình hoạt động của BOC
BOJ
Trang 10Hình 3: Mô hình hoạt động của BOJ
So sánh cấu trúc hoạt động của FED, BOC, BOJ
Những
người
đứng
đầu ngân
hàng
trung
ương
- Tại FED là Hội đồng
thống đốc bao gồm 7
thành viên do Tổng
thống bổ nhiệm và
Thương viện phê
chuẩn
- Tại BOC là hội đồng quản trị gồm 14 thành viên và được sự chấp thuận bởi Chính phủ
Tuy nhiên Bộ trưởng
bộ tài chính không có quyền bỏ phiếu cho các thành viên trong hội đồng
- Tại BOJ là Hội đồng chính sách bao gồm 9 thành viên được bổ nhiệm nội các, phụ thuộc vào sự chấp nhận của Thượng viện và Hạ viện
Nhiệm
kỳ của
hội đồng
- Mỗi thành viên có
nhiệm kỳ cố định 14
năm-dài gấp đôi so với
nhiệm kỳ tối đa 8 năm
của Tổng thống Mỹ- và
trên thực tế là không
được gia hạn
- Nhiệm kỳ của Thống đốc và phó Thống đốc
là 7 năm
- Các giám đốc được
bổ nhiệm bởi bộ trường
bộ tài chính với sự chấp thuận của nội các,
- Các thành viên hội đồng
sẽ có nhiệm kỳ là 5 năm