1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THOÁI HÓA ĐẤT DỐC Ở VIỆT NAM

29 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 489,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống.trong sản xuất nông nghiệp đất vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu sản xuất không thể thay thế được. Cuộc sống của con người phụ thuộc rất nhiều vào lớp đất trồng trọt để sản xuất ra lương thực, thực phẩm và các nguyên liệu sản xuất công nghiệp phục vụ cho cuộc sống của mình. Tuy nhiên lớp đất có khả năng tự canh tác luôn chịu tác động mạnh mẽ của tự nhiên và các hoạt động canh tác do con người.

Trang 1

THOÁI HÓA ĐẤT DỐC Ở VIỆT NAM

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống.trong sản xuất nông nghiệp đất vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu sản xuất không thể thay thế được Cuộc sống của con người phụ thuộc rất nhiều vào lớp đất trồng trọt để sản xuất ra lương thực, thực phẩm và các nguyên liệu sản xuất công nghiệp phục vụ cho cuộc sống của mình Tuy nhiên lớp đất có khả năng tự canh tác luôn chịu tác động mạnh

mẽ của tự nhiên và các hoạt động canh tác do con người

Việt Nam là nước có ¾ diện tích là đồi núi, có độ dốc cao Phần lớn diện tích đất dốc phân bố ở vùng trung du và miền núi nước ta Đó là tính chung trong cả nước, ở nhiều vùng miền núi tỷ lệ đất dốc còn cao hơn nhiều,

có những xã đến hơn 90% tổng diện tích tự nhiên của địa phương là đồi núi, còn đất ruộng bằng phẳng phân bố manh mún dọc theo các khe, suối

Ngoài ra, nước ta có lượng mưa lớn lại tập trung theo mùa, nên mỗi trận mưa do hạt mưa rơi từ trên cao xuống, nếu mặt đất không có gì che phủ thì hạt mưa sẽ gõ rất mạnh vào mặt đất làm tan dã và phá vỡ kết cấu của hạt đất.Khi mặt đất trơ trọi đất lại dốc thì mỗi trận mưa lớn sẽ dồn xuống rất nhanh tạo ra

Trang 2

các trận lũ quét, lở đất vùng núi và lụt lội ở vùng đồng bằng gây ra nhiều tai họa không chỉ về người mà thiệt hại về nhiều mặt.

Đặc biệt là khu vực miền núi với diện tích đất dốc tương đối lớn với độ dốc lớn Địa hình dốc là nguyên nhân dẫn đến xói mòn, sạt lở đất trên vùng cao.Độ dốc là yếu tố đầu tiên tạo nên xói mòn do nước của đất.Cùng với hoạt động sản xuất đất dốc không hợp lý đâ làm cho đất dốc bị thoái hóa nghiêm trọng.Thoái hóa đất dốc không chỉ làm giảm năng suất cây trồng, giảm hiệu quả sản xuất của đất Không những thế nó còn gây ra các hiện tượng như lũ ống, lũ quét ở đầu nguồn gây thiệt hại không chỉ về kinh tế, môi trường mà cả tính mạng con người

Chính vì tính cấp thiết của vấn đề này mà nhóm chúng tôi thực hiện đề tài: “ Thoái hóa đất dốc ở Việt Nam”

II NỘI DUNG

2.1 Một số khái niệm liên quan :

- Đất dốc : Đất dốc là đất có bề mặt nằm nghiêng thường ghồ ghề hoặc

lượn sóng, phần nằm nghiêng là mặt dốc hoặc sườn dốc, góc tạo bởi sườn dốc và mặt phẳng nằm ngang là độ dốc của địa hình

Trang 3

- Thoái hóa đất đai có thể được xem là sự mất khả năng sản xuất hiện tạo hoặc tiềm tàng của đất do tác động của các nhân tự nhiên hoặc con người,

đó là sự giảm chất lượng hoặc giảm khả năng sản xuất của nó

2.2 Điều kiện tự nhiên ở Việt Nam

2.2.1 Địa hình

- Đồi núi là bộ phận quan trọng nhất của địa hình Việt Nam, Đa dạng nhiều loại, trong đó đồi núi chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ chủ yếu là đồi núi thấp, Dãy núi cao nhất nước ta là Hoàng Liên Sơn với đỉnh Fanxifăng cao 3143 mét,Được coi là mái nhà của Ðông Dương Miên núi nước ta còn có một số núi cao hơn 2000 mét như Tây Côn Lĩnh 2427 mét, Ngọc Linh cao 2598 mét, Bidup 2286 mét

- Địa hình chịu tác động mạnh mẽ của con người Địa hình là nơi diễn ra mọi hoạt động sản xuất của xã hội, làm cho địa hình ngày càng thay đổi, làm mất

đi vẻ nguyên sinh, hình thành nên dạng địa hình mới là dạng nhân sinh, phần lớn địa hình VN ngày nay là dạng địa hình nhân sinh

2.2.2 Khí Hậu

- Việt Nam hoàn toàn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với các đặc điểm khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều và mưa theo mùa Quá trình phong hóa diễn ra mạnh mẽ

- Lượng mưa trung bình từ 1500-2000 mm/năm có nơi rất cao từ

2000-3000mm/năm (Sapa, Tan Đảo, Móng Cái, )

- Độ ẩm không khí tương đối cao

Trang 4

2.3 Hiện trạng.

- Trên thế giới: theo tài liệu của FAO (2000) thì trên thế giới có khoảng 1 tỷ

476 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó đất dốc vùng đồi núi chiếm 65,9% các vùng đồi núi có đất dốc trên 100 chiếm 50 – 60% diện tích đất nông nghiệp

Bảng: Diện tích đồi núi ở 1 số quốc gia

Phía nam Trung Quốc, đất vàng và đất đỏ Á nhiệt đới có tới 218 triệu

ha, trong đó 90% nằm ở địa hình đồi núi Trong vùng này, xói mòn diễn ra diện tích khoảng 615.300 km2 (changli và ctv,1992) Nêpan có diên tích

147.500 km2 (14,75 triệu ha), trong đó 2/3 là đất đồi núi, nơi đó chủ yếu là dân tộc thiểu số sinh sống Ở trung du miền trung Nêpan tập trung nhiều đất dốc nhất trên cả nước, chiếm 42.800 km2 Trong tổng diện tích đất nông

nghiệp, đất dốc là 709.400 ha, đất bằng 954.000 ha, (Joshy và cvt, 1992) Philipin có tổng diện tích 30 triệu ha, trong đó có hơn 60% là đất dốc, xói mòn, tầng mỏng, rất khó khăn cho trồng trọt (Atienza và ctv,1992)

Trang 5

hơn 10 triệu người (1/4/2008)  việc khai thác và sử dụng đất đồi núi ngày càng ra tăng

Trong phạm vi toàn quốc, đất dốc gồm các khu vực gò đồi, cao nguyên, núi thấp và núi cao phân bố ở cả 8 vùng sinh thái trong toàn quốc với diện tích khoảng 24,862 triệu ha Tuy nhiên ở 2 vùng Đồng bằng sông hồng và Đồng bằng sông cửu long đất dốc chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, nên tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc, Tây trung bộ và Tây nguyên

Trong cả 8 vùng sinh thái, nhóm đất đỏ vàng chiếm diện tích lớn nhất, sau đó là nhóm đất vàng đỏ trên núi và cuối cùng là nhóm đất xám bạc màu Trong tổng số 24.863 triệu ha đất dốc

Bảng: Phân độ phì nhiêu của đất dốc

Độ phì nhiêu của đất dốc Diện tích

(ha)

Tỉ lệ(%)

Trang 6

sau đó trồng sắn và bỏ hóa Những vùng đất có độ dốc thấp, do sức ép của chăn thả tự do cây cối ko thể tái sinh, các loài cỏ cho trâu bò cũng không thể phát triển, ngoại trừ cỏ may, cỏ đắng, cỏ tranh, đã trở thành vùng đất chống, đồi núi trọc với độ thoái hóa đến mức khó có thể phục hồi nếu như không đầu

tư cao và kịp thời, các loài cỏ dại không có giá trị kinh tế lại phát triển mạnh

và cạnh tranh gay gắt với cây trồng Kết quả là rừng bị mất đất bị thoái hóa, năng suất cây trồng thấp , thu nhập từ chăn nuôi cũng giảm nên cuộc sống người nông dân miền đất dốc rất khó khăn và luẩn quẩn trong vòng đói nghèo

Trang 7

2.4.1 Nguyên nhân tự nhiên

- Do xói mòn ,rửa trôi:trong các nguy cơ gây thoái hòa đất dốc ở Việt Nam thì xói mòn rửa trôi là nguy cơ phổ biến nhất

S:Độ dốc

A: hệ số mũ(a=1,35)

- Khi xói mòn rửa trôi là nguyên nhân cơ bản làm cho độ chua tăng lên

vì khi sói mòn và rửa trôi các cation kiềm và kiềm thổ cũng bị rửa trôi theo

và có quá trình giải phóng ion H+ và Al3+vào dung dịch Các ion này sẽ đi vào phức hê hấp phụ của keo đất ngày càng nhiều để chiếm chỗ trống do bị kiềm

Trang 8

rửa trôi.Như vậy ,keo đất ngày càng bão hòa các cation H+, ,Al3+ trở nên chua hơn.

Vào mùa mưa thời gian và cường độ sói mò và rửa trôi là lớn nhất thì sự suy giãm chất hữu cơ ,mùn và chất dinh dưỡng là lớn nhất.Chất hữu cơ và mùn bị suy giảm dẫn đến hàng loạt các tính chất khác của đất bị thay đổi theo chiều bất lợi và đất bị thoái hóa nhanh chóng

Diện tích đất dốc cũng khá tương đồng với tỉ lệ đất thoái hóa do sói mòn

và rửa trôi.Vùng Tây Ngyên có cấp độ dốc ít nhất nhưng cũng có thoái hóa do sói mòn đến 60% Vùng có độ dốc cao nhất là ở miền núi và trung du Bắc Bộ diện tích đất thoái hóa do sói mòn nhiều nhất ,chiếm 80% trong tổng diện tích 9,8 triệu ha

- Thay đổi thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu: Biến đổi khí hậu gây dối loạn chế độ mưa ,nắng ,nhiệt độ thời tiết gây ra các hiên tượng bão lũ ,hạn hán kéo dài,do vậy biến đổi khí hậu là yếu tố gây bất lợi cho sự hình thành đất.vùng đất dộc là những khu vực rất nhạy cảm,dễ biến động khi có sự biến đổi khí hậu ,điều kiện sinh thái ,đặc biệt là thảm thực vật.Do đó ,tài

nguyên đất ở các vùng đất nãy có nguy cơ tiếp tục bị suy thoái trầm trọng làm biến đổi các tính chất đất và mất đất không còn tính năng sản suất

2.4.2 Nguyên nhân thoái hóa nhân tạo

*nguyên nhân trực tiếp:

- Sự phá rừng:Là nguyên nhân chủ yếu của sói mòn do nước ,đặc biêt trên các đất dốc của vùng khí hậu ẩm ướt.Nó là một nguyên nhân góp phần cho sói mòn do gió ,sự suy giảm độ phì nhiêu của đất

Trang 9

- Sự đốn cắt quá mức thảm thực vật:Đất dốc hiện nay còn lại tầng Ao và A1 rất mỏng người nông dân thường đốn cắt rừng tự nhiên lấy gỗ hoặc đốn củi ,lớp thảm mục không còn có tác dụng bảo vệ tầng mặt làm lớp đất mặt bị rửa trôi

- Luân canh cây trông không có thời gian bỏ hoang thích hợp :Điều nài

đẫ làm thoái hóa tinh chất vật lý của đất Đất dốc bị cày xới ,rửa trôi và mất chất hữu cơ ,mất kết cấu sẽ làm cho độ xốp giảm xuống,dung trọng và độ chắt tăng lến

Hoạt động canh tác nương rẫy,chặt phá rừng ,đốt nương làm rãy làm cho đất trở nên nghèo kiệt cho năng suất thấp tạo điều kiên cho sói mòn đất diễn

ra mạnh hơn

- Không thực hiện các biện pháp quản lý đất hợp lý bảo vệ đất

- Do sức ép của sự gia tăng dân số đã dẫn đến mở rộng đất canh tác mà đặc biêt là trên đất dốc –loại đất có khả năng thoái hóa tự nhiên(hoặc thoái hóa tiềm năng) cao

*nguyên nhân gián tiếp:

- Thiếu đất đai:đất đai là một tài nguyên hạn chế nên dễ nhận thấy sự thiếu đất đai,hiên nay sự gia tăng dân số ở các vùng có đất dốc khiên cho việc

sử dụng đất dốc không hợp lý diễn ra,Để dáp ứng được nhu cầu về kinh tế trước mắt con người đẫ tận dụng hết năng suất của đất mà không có các biện pháp trả lại chất dinh dương cho đất làm đât bị thoái hóa nghiêm trọng

Trang 10

- Sự nghèo nàn:Nhiều nước đang phát triển có tiến bộ rất lớn trong phát triển kinh tế ,đạt được sự tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội tính theo đầu người Vấn đề là những cải thiện đó có tương ứng với phúc lợi xã hộ thực tế của lớp dân nghèo nông thôn Phần lớn những người nông dân vẫn ở mức nghèo hoặc gần nghèo.Sự nghèo đói dẫn đến sự thoái hóa đất đai Một thực tế hầu như chắc chắn rằng những nông dân khá giả hơn duy trì đất của họ tốt hơn những nông dân nghèo.

Sự tăng dân số; cùng với sự thiếu về đất đai ,nguyên nhân cơ bản của sự thoái hóa đất dốc nói riêng và đất đai nói chung là sự gia tăng dân số

2.5 Hậu quả

- Đất bị thoái hóa: là những loại đất do những nguyên nhân tác động

nhất định theo thời gian đã và đang mất đi những đặc tính và tính chất vốn có ban đầu trở thành các loại đất mang đặc tính và tính chất không có lợi cho sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng nông lâm nghiệp

- Một loại đất bị thoái hóa nghĩa là bị suy giảm hoặc mất đi:

+ Độ phì đất: các chất dinh dưỡng; cấu trúc đất; màu sắc ban đầu của đất; tầng dày đất, thay đổi pH đất…

+ Khả năng sản xuất: các loại cây trồng, các loại vật nuôi, các loại cây lâm nghiệp

+ Cảnh quan sinh thái: Rừng tự nhiên , rừng trồng, hệ thống cây trồng

+ Hệ sinh vật: cây - con

+ Môi trường sống của con người: cây xanh, nguồn nước, không khí trong lành, nhiệt độ ôn hòa, ổn định…

- Tác hại do xói mòn:

+ Rửa trôi nước:

Đất bị mất lớp che phủ, xói mòn đất làm giảm và mất dần khả năng giữ nước của đất, nước rửa trôi mạnh, dễ bị hạn hán, khô cằn.Xói mòn gây nên

Trang 11

mất nước nghiêm trọng ở nhiều nước nhiệt đới ẩm, mưa nhiều, nước trôi tới 50-60% lượng mưa hàng năm.

Ở những nơi đất xói mòn, đất có độ phì nhiêu kém, tầng che phủ cạn kiệt hoặc canh tác không hợp lý thì tỷ lệ này lớn hơn

Ở nơi có lượng mưa thấp thì tỷ lệ này cùng thấp hơn

Ở những nơi đất có độ phì nhiêu khá, tầng đất dày, độ che phủ tốt, có các biện pháp chống xói mòn tốt thì tỷ lệ này thấp hơn do nước được giữ lại bởi tầng che phủ, bởi các hệ thống biện pháp chống xói mòn (băng cây xanh,

hố vảy cá, mương bờ ), bởi thấm xuống các tầng dưới, giữ lại bởi đất và hệ

rễ cây trồng

+ Rửa trôi đất:

Xói mòn gây mất đất nghiêm trọng Mất đất do xói mòn có thể chỉ một vài tấn cho đến hàng trăm tấn đất trên diện tích 1 ha tuỳ thuộc: Lượng và cường độ mưa, tần số mưa, tính thấm nước của đất, độ bền của cấu trúc đất độ dốc, độ dốc và dài dốc, các biện pháp bảo vệ đất, các biện pháp canh tác Ở nhiều vùng đất dốc mà con người khai thác đất không hợp lý, rừng bị chặt phá, canh tác không có biện pháp bảo vệ, mất dần lớp che phủ trên điều kiện

độ dốc lớn, cường độ mưa lớn đất đã bị bào mòn dần lớp màu mỡ bề mặt, đất mất dần sức sản xuất

Lượng đất mất do xói mòn là rất lớn phụ thuộc vào độ dốc, chiều dài sườn dốc, thực trạng lớp phủ trên mặt đất, dao động từ 100 đến 500 tấn

đất/ha/năm

Theo nghiên cứu về lượng xói mòn trên đất canh tác rẫy ở Tây Bắc của hội Khoa Học Đất Việt Nam:

Trang 12

Bảng: Lượng đất hằng năm bị mất do xói mòn

119,2134,0115,5

+ Mất chất dinh dưỡng của đất:

Gắn liền với mất đất do xói mòn là mất chất dinh dưỡng Tuỳ thuộc vào

độ dốc, tổng lượng và cường độ mưa và các phương pháp bảo vệ đất, mức độ xói mòn mà lượng chất dinh dưỡng mất có thể thay đổi: 250 kg chất hữu cơ,

13 kg N, 20 kg P2O5, 20 kg K2O cho đến 4800 kg chất hữu cơ, 200 kg N 300

kg P2O5 và 300 kg K2O Đất độc canh cây lương thực như trồng sắn, lúa

nương mất dinh dưỡng nhiều, đất canh tác nông lâm nghiệp áp dụng đầy đủ các biện pháp chống xói mòn mất ít Nếu mưa to vào dịp mới trồng, cây chưa khép tán thì mất dinh dưỡng nhiều hơn Cùng tổng lượng mưa trong năm, nhưng nếu có nhiều trận mưa to, mưa bão thì mất đất mất dinh dưỡng nhiều hơn Sự suy giảm hàm lượng chất hữu cơ là nguyên nhân gây thoái hoá đất Chất hữu cơ cải thiện tình trạng vật lý đất làm đất chống xói mòn tốt hơn Có tương quan giữa hàm lượng chất hữu cơ và sức chứa ẩm cực đại Chất hữu cơ làm giảm độc sắt nhôm, làm tăng lân dễ tiêu, hạn chế rửa trôi của các kim loại kiềm, kiềm thổ

Theo số liệu của bộ nông nghiệp, đất đòi núi miền Bắc nước ta hằng năm mất khoảng 1cm tầng đất mặt (100m3/ha), trong đó có khoảng 6 tấn mùn (tương đương khoảng 100 tấn phân chuồng) và 300kg N (tương đương

khoảng 1,5 tấn sunphat amon) Đặc biệt có nơi như Tây Bắc mất đi khoảng 3cm đất mặt, tương đương 150 - 300 tấn/ha Mỗi năm cuốn ra biển khoảng

Trang 13

250 triệu tấn phù sa màu mỡ, riêng sông Hồng mất đi khoảng 80 triệu m3/năm Làm thay đổi tính chất vật lí của đất, số liệu thể hiện ở bảng sau:

Chỉ tiêu quan sát Số lượng bị trôi (%)Cấp hạt lớ hơn 1mm 21,00

( Nguồn: “Thổ Nhưỡng học”, Nhà Xuất Bản Nông Nghiệp, 1979)

Theo Trần Đức Toàn và cộng sự (1998) sau khi đo kết quả xói mòn trên các hệ thống canh tác tại huyện Tam Dương (cũ) - Vĩnh Phúc Trong điều kiện lượng mưa/năm thay đổi từ 800 - 1890mm thì lượng đất mất và lượng dinh dưỡng mất trên đất đồi trọc khoảng 599,2kg chất hữu cơ, 52kg đạm, 26,2kg lân và 34,6kg kali trong 1 năm Còn trên đất trồng sắn thì mất 295kg hữu cơ, 28,3kg đạm, 21,3kg lân và 22,4kg kali trong 1 năm

Cụ thể được thể hiện trong bảng sau:

Hệ thống canh tác Dòng chảy

mặt (m3/ha/năm)

Đất mất (tấn/ha/năm)

Dinh dưỡng mất (kg/ha/năm)

Trang 14

Làm tổn hại tới môi trường sống của sinh vật, động thực vật đất, nên hạn chế khả năng phân giải của chúng, do đó độ phì của đất giảm.

+ Tác hại đến sản xuất:

Năng suất cây trồng giảm nhanh, có khi không thu hoạch Như ở Nông trường Mộc Châu, Tây Bắc năm 1959 mới khai phá, năng suất lúa 25 tạ/ha, đến năm 1960 chỉ còn 18 tạ/ha, năm 1961 còn 5 tạ/ha và năm 1962 gieo ngô cũng không thu hoạch được

Tăng chi phí sản xuất để phục hồi đất, thu nhập của người dân thấp, đời sống của người dân gặp khó khăn:

• Tác hại đến sản xuất nông nghiệp: đất bị bào mòn, đất trở nên

nghèo, xấu, mất hết chất hữu cơ độ phì trong đất Xói mòn đất gây nhiều thiệt hại to lớn trong nông nghiệp, đã lôi cuốn phần lớn các hạt đất có kích thước nhỏ có chứa chất phì làm đất trở nên nghèo nàn Làm giảm năng suất cây trồng

• Tác hại đến sản xuất công nghiệp: Do xói mòn đất, nương rẫy chỉ làm vài ba vụ rồi bỏ hóa, chế độ canh tác bừa bãi theo kiểu đốt nương làm rẫy

đã làm cho nông sản giảm đi rất nhiều Rừng bị chặt phá sẽ kèm theo hạn hán,

lũ lụt

• Tác hại đến thủy lợi: Mức độ xói mòn ở nước ta thuộc loại cao, phù sa các sông lớn cuốn từ thượng nguồn về bồi đắp các con sông ở hạ lưu làm nâng mực nước sông dẫn đến lụt lội Ngoài ra, sa bồi làm cho các công trình thủy lợi như hồ chứa nước, kênh mương bị thu hẹp diện tích, hiệu suất

sử dụng bị hạn chế, công tác tưới tiêu gặp nhiều trở ngại

+ Ô nhiễm do xói mòn gây ra:

Đồng thời với việc lấy đi đất và chất dinh dưỡng từ đất, xói mòn còn gây ô nhiễm nước lưu vực, suối, sông, hồ nước Thêm vào tác hại do xói mòn, các chất dinh dưỡng bào mòn từ đất gây ô nhiễm các dòng chảy bằng các cặn lắng Các dòng chảy chứa các chất lắng đọng làm suy yếu dòng chảy bởi lấp

Ngày đăng: 11/09/2014, 11:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w