i LỜI CẢM ƠN Trong thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp về đề tài: "Đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp tại xã Liên Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế
1.1.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của hoạt động kinh tế Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng
Về hiệu quả sản xuất nông nghiệp đã được nhiều tác giả bàn đến như Farrell (1957),Schultz (1964), Rizzo (1979), Ellis (1993), Các học giả trên đều đưa ra quan điểm chung đó là cần phân biệt ba khái niệm cơ bản về hiệu quả:
Là lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vào trong điều kiện cụ thể kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp
Là hiệu quả được phản ánh bằng giá trị sản phẩm thu thêm trên 1 đồng chi phí chi thêm Thực chất hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá đầu vào và giá đầu ra ( hiệu quả giá)
Là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất
Hiệu quả kinh tế được xác định trong mối quan hệ so sánh giữa giá trị sản phẩm thu được cao hơn so với chi phí đầu vào thấp hơn Nếu đạt được một trong hai yếu tố là hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả phân bổ mới là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để đạt hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả hai chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó
2 việc sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế thể hiện mục đích của người sản xuất đó là làm cho lợi nhuận tối đa
1.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh tế
Bản chất của hiệu quả kinh tế là sự tương quan so sánh về mặt tuyệt đối và tương đối giữa lượng kết quả thu được và lượng chi phí bỏ ra
Do đó bản chất của hiệu quả kinh tế trong quá trình SX kinh doanh phản nguyên vật liệu, ) để đạt được mục tiêu đề ra Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế trong SX kinh doanh cần phân biệt hai khái niệm
"hiệu quả" - "kết quả" và mối quan hệ giữa chúng
Kết quả hoạt động SX kinh doanh là những gì đạt được sau một qua trình
SX kinh doanh nhất định, kết quả đạt được chính là mục tiêu cần thiết của đơn vị sản xuất, có thể là những đại lượng cân, đo, đong, đếm được như số sản phẩm mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, Do mâu thuẫn giữa khả năng hữu hạn về tài nguyên với nhu cầu không ngừng tăng lên của con người nên yêu cầu người ta phải xem xet kết quả được tạo ra như thế nào, chi phí bỏ ra là bao nhiêu Bởi vậy, khi đánh giá hoạt động SX kinh doanh cần xem xát kết quả (đầu ra) và chi phí bỏ ra (đầu vào) để đánh giá hiệu quả kinh tế
Trên phạm vi toàn xã hội,, chi phí bỏ ra để thu được kết quả là chi phí lao động xã hội Vì vậy, có thể đưa ra kết luận: Thước đo hiệu quả là sự tiết kiệm hao phí lao động xã hội còn tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hóa hiệu quả, tối thiểu hóa chi phí trong điều kiện nguồn lực nhất định
1.1.3 Nội dung của hiệu quả kinh tế
Trong mỗi hoạt động SX người ta đều hướng tới mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế Đối với các doanh nghiệp mục tiêu của họ là tìm kiếm cơ hội đầu tư để có thêm lợi nhuận Còn đối với các hộ nông dân trong nông nghiệp họ thực hiện
SX để có công ăn việc làm, có thu nhập đảm bảo cuộc sống sinh hoạt hằng ngày sau đó mới tính đến lợi nhuận và tích lũy Với một quốc gia thì hiệ quả còn thể hiện trên nhiều mặt kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng, Điều đó có
3 nghĩa là hiệu quả mang tính chất không gian và thời gian, nó thể hiện ở chỗ một hoạt động kinh tế của một đơn vị SX có thể đạt hiệu quả cao, nhưng so với một quốc gia trong một thời điểm khác thì điều đó chưa hẳn đã xảy ra Do đó, để nâng cao hiệu quả kinh tế không chỉ là nhiệm vụ của một cá nhân, một đơn vị kinh tế mà là nhiệm vụ của các ngành các cấp và của mỗi quốc gia
Những nội dung chủ yếu của việc xác định và nâng cao hiệu quả kinh tế trong SX kinh doanh là:
- Mọi quá trình SX liên quan mật thiết đến hai yếu tố là chi phí SX và kết quả SX thu về Đây là nội dung quan trọng cơ bản nhất phản ánh hiệu quả trong
- Nâng cao hiệu quả kinh tế trong SX, xuất phát từ nhu cầu phát triển SX và tái SX mở rộng, là quy luật cơ bản của quá trình SX xã hội
- Mức độ hiệu quả được phản ánh trình độ được phát triển của lực lượng SX xã hội
Cơ sở thực tiễn về hiệu quả kinh tế
1.2.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp trên thế giới
Kinh tế - xã hội nước ta năm 2017 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đà phục hồi, các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh Châu Âu đạt mức tăng trưởng khả quan Hoạt động đầu tư, thương mại toàn cầu có xu hướng cải thiện rõ rệt cùng với niềm tin của người tiêu dùng tăng lên là các yếu tố tác động tích cực đến sản xuất trong nước Tuy nhiên, xu hướng gia tăng của chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo hộ sản xuất, bảo hộ mậu dịch cùng những thay đổi về địa chính trị, chính sách thương mại của một số nước lớn đang là những thách thức đối với kinh tế nước ta Ở trong nước, bên cạnh các vấn đề tồn tại của nền kinh tế như chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh thấp, sự sụt giảm của ngành khai khoáng, cùng với giá thịt lợn giảm mạnh, thiên tai, bão, lũ liên tiếp xảy ra tác động tiêu cực tới sản xuất nông nghiệp và thách thức mục tiêu tăng trưởng năm 2017 của cả nước
1.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Năm 2017 được coi là năm thành công bất ngờ của ngành lúa gạo Việt Nam, với việc xuất hiện một số thị trường xuất khẩu mới; giá gạo xuất khẩu tăng; tăng nhập khẩu gạo ở nhiều thị trường truyền thống Sản lượng dự kiến đạt khoảng 6 triệu tấn, vượt xa mục tiêu 5 triệu tấn
Theo Bộ Công Thương, tính tới hết tháng 11, xuất khẩu (XK) gạo đã đạt 5,52 triệu tấn với trị giá 2,49 tỷ USD, tăng hơn 24% về lượng và 24,9% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái Như vậy, XK gạo tính đến cuối tháng 11 đã cao hơn 500 nghìn tấn so với mục tiêu XK 5 triệu tấn gạo trong năm 2017 Đáng chú ý, về giá cả, XK gạo cũng đón nhận những tín hiệu tích cực khi trung bình 11 tháng đầu năm, giá gạo XK đạt 452 USD/tấn, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm ngoái Đầu tháng 10, gạo Việt đã được XK tới 132 thị trường trên thế giới Trong đó, Trung Quốc chiếm 40% tổng khối lượng gạo XK của Việt Nam với khối lượng đạt 2,03 triệu tấn, tăng mạnh 35% so với cùng kỳ năm ngoái Bên cạnh
8 đó, lượng gạo XK sang nhiều thị trường khác như Philippines, Malaysia, Bờ Biển Ngà cũng tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước với các mức tăng lần lượt là 41,3%, 97,3%, 39,7% Đặc biệt, một số thị trường có sự tăng trưởng đột biến như: Iraq tăng hơn 9.000%, Hàn Quốc tăng hơn 470%, Ả rập Xê út tăng hơn 210%, Senegal tăng hơn 17.700% Bên cạnh sự gia tăng NK đột biến kể trên, XK gạo tới một số thị trường như Ghana, Cuba, Hồng Kông, Đông Timor lại ghi nhận sụt giảm với các mức giảm lần lượt là 23,9%, 15,8%, 45,2% và 46,1% so với cùng kỳ năm 2016.
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA XÃ LIÊN SƠN, HUYỆN LƯƠNG SƠN,
Điều kiện tự nhiên
Xã Liên Sơn nằm ở phía Đông Nam của huyện Lương Sơn, có vị trí địalý như sau:
+ Phía Bắc giáp với xã Nhuận Trạch huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình và xã Nam Phương Tiến huyện Chương Mỹ - Tp Hà Nội;
+ Phía Nam giáp xã Tiến Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình;
+ Phía Tây giáp với xã Cư Yên, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình;
+ Phía Đông giáp với xã Hoàng Văn Thụ, huyện Chương Mỹ - Tp Hà Nội và xã Thành Lập huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình
Diện tích xã Liên Sơn hiện nay là 1.401,3ha, chủ yếu là đồi núi Địa hình bị chia cắt làm hai phần rõ rệt, phần phía Bắc có diện tích khoảng 500ha, phần phía Nam khoảng 900ha Diện tích đất trồng lúa hàng năm là 115ha, nằm rải rác tại các khu vực ven chân đồi, núi theo hướng Đông Nam
2.1.2 Đặc điểm địa hình, khí hậu
+ Địa hình:Xã Liên Sơn mang đặc điểm của vùng trung du miền núi, có địa hình khá phức tạp bao gồm các đồi núi kế tiếp nhau, xen kẽ ở giữa là các cánh đồng ruộng bậc thang nhỏ, hẹp Độ cao trung bình so với mực nước biển là 32 m
+ Khí hậu:Xã Liên Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa mưa nắng nóng, mưa nhiều độ ẩm cao bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô lạnh, mưa ít độ ẩm thấp kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng từ 21,8 0 C đến 24,7 0 C, tổng số giờ nắng trong năm từ 1.400 giờ đến 1.900 giờ, lượng mưa trung bình từ 1.800 mm đến 2.200 mm, có hai hướng gió thịnh hành là Đông Bắc và Đông Nam
Bảng 2.1 Cơ cấu sử dụng đất tại xã Liên Sơn năm 2017
STT Chỉ tiêu Diện tích(ha) Cơ cấu(%)
4 Đất ở dân cư nông thôn 76,38 5,45
Tổng diện tích đất tự nhiên 1401,31 100
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của ban thống kê xã)
Tài nguyên đất trên địa bàn xã bao gồm tổng diện tích đất nông nghiệp là 1.090,6ha trong đó có 28ha rừng phòng hộ, 650ha đất rừng sản xuất, có 189,77ha đất trồng lúa và cây hàng năm, 20,1ha đất nuôi trồng thủy sản và 202,73ha đất trồng cây lâu năm khác, toàn xã có 93,67ha là đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng là 140,66ha, đất ở dân cư nông thôn là 76,38 ha
Rừng:Diện tích đất lâm nghiệp toàn xã là 678ha (Đất rừng sản xuất 650 ha; đất rừng phòng hộ 28 ha) Độ che phủ đạt 35%
+ Nguồn nước mặt: Trên địa bàn xã Liên Sơn không có sông, chỉ có một số dòng suối và một số hồ nước có sức chứa nhỏ vì vậy còn gặp khó khăn trong việc cung cấp nước sản xuất cho nông nghiệp và sinh hoạt của người dân Một số dòng suối cung cấp nước sản xuất nông nghiệp như: suối Đá Bạc, suối Vần, suối Đá Cạn Diện tích mặt nước là 33 ha (bao gồm hồ, ao, suối doxã quản lý) + Nguồn nước ngầm: Hiện nay nhân dân trong xã chủ yếu sử dụng nguồn nước ngầm dùng cho sinh hoạt từ các giếng khơi và một số ít giếng khoan của hộ gia đình Độ sâu của nguồn nước thì thay đổi theo điều kiện địa hình, dao động bình quân từ 4m - 20m Chất lượng nguồn nước tương đối tốt
Khoáng sản: Trên địa bàn xã Liên Sơn có tổng diện tích núi đá vôi là khoảng 130ha, đã được cấp phép khai thác ở một số điểm thuộc xóm Vần, Đá Bạc, Điếm Tổng, Nước Lạnh Tuy nhiên do chất lượng đá kém nên hiện nay chỉ còn Công ty TNHH Sản xuất Vật liệu xây dựng Phương Nam đang khai thác tại xóm Nước Lạnh Với lợi thế có dãy đồi Bù chạy dọc theo chiều dài của xã với trữ
11 lượng lớn các loại khoáng sản quý nên hiện nay trên địa bàn xã có nhiều công ty được cấp phép khai thác khoáng sản như Công ty Khai thác Khoảng sản Phúc Thanh, Công ty Khai thác Khoáng sản Kiên Cường hoạt động có hiệu quả.
Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2.1 Về dân số, lao động
Bảng 2.2 Tổng số hộ và khẩu theo các thôn năm 2017
STT Tên thôn Số hộ Số khẩu
(Nguồn: Thống kê xã Liên Sơn)
Năm 2017, tổng số hộ là 979 hộ, tổng số nhân khẩu là 4.445 khẩu, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 1,1% Trong năm, toàn xã có 90 trẻ em được sinh ra, trong đó có 52 cháu nam, 38 cháu nữ, có 10 trường hợp sinh con thứ 3 trở lên
Lao động trong độ tuổi là 2.554 người, trong đó: lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ: 60,2%, lao động công nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ lệ 39,8% trong tổng số lao động của xã
Nhìn chung lao động của xã chủ yếu tham gia sản xuất Nông lâm nghiệp, trong thời gian nông nhàn thường tham gia làm các nghề phụ như: thợ xây, mây tre đan, buôn bán hàng nông sản theo mùa vụ… Trong thời gian tới, cơ cấu lao
12 động sẽ có nhiều thay đổi với xu thế đang chuyển dịch sang làm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ du lịch Đây là lợi thế không nhỏ cho địa phương để chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế vốn vẫn dựa vào nghành nông nghiệp là chính như hiện nay
2.2.2 Văn hóa, giáo d đổi với
Xã Liên Sơn là địa điểm quần cư của người Mường từ lâu đời nên có tính thuần nhất và tinh thần đoàn kết cao Trong những thời kỳ khác nhau, nhân dân xã Liên Sơn đã có nhiều người tham gia vào các cuộc chiến đấu tranh Người dân ở đây định cư thành từng xóm, làng
Trong quá trình tồn tại và phát triển, người Mường Liên Sơn cùng với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi đã tạo nên những giá trị văn hóa đặc sắc Trong sản xuất, từ bao đời nay, người Mường khai thác ruộng nương để trồng trọt và chăn nuôi Người dân biết tận dụng những khu vực có bề ặt tương đối bằng phẳng trong thung lũng và ở các doi đất nhỏ hẹp ven đồi gò thấp để làm ruộng
Sự nghiệp giáo dục được xã quan tâm chỉ đạo, cơ sở vật chất trường, lớp được tu sửa và được xây dựng mới khang trang, xã có 01 trường tiểu học, 01 trường trung học cơ sở, có 01 trường Mầm Non, Trường tiểu học được công nhận trường chuẩn quốc gia mức độ I năm 2009, có 11 nhà văn hoá thôn bản đều được xây dựng đảm bảo phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hoá văn nghệ của nhân dân Xã có trạm y tế nằm ở khu trung tâm của xã với 7 cán bộ y sỹ, bác sỹ
11 y tế thôn bản tại các xóm để đảm bảo việc khám chữa bệnh cho nhân dân, trạm y tế xã thực hiện tốt các chương trình quốc gia về y tế Có khu du lịch tâm linh động Tiên Đá Bạc được Nhà Nước cấp bằng công nhận khu di tích lịch sử văn hóa
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo được giữ vững quy mô và chất lượng Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS hàng năm đều đạt 96% đến 100%, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp đạt 99,7%, trường Mầm non là 100%, công tác phổ cập giáo dục Mầm non, phổ
13 cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS được củng cố vững chắc
+ Xã có 1 trạm y tế có tổng diện tích 642,7 m 2 gồm 1 nhà 2 tầng 10 phòng
Có 01 bác sỹ, 05 y sĩ và 01 điều dưỡng
+ Xã chưa đạt chuẩn về y tế
+ Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế trên 75%
Toàn xã có 05 trạm biến áp Trong đó số trạm đạt yêu cầu là 02, số trạm cần nâng cấp là 03, số trạm cần xây dựng mới là 03 trạm.Có tổng cộng 27,5km đường dây hạ thế Trong đó 20,5km đạt chuẩn, cần nâng cấp, cải tạo và làm mới 7km Toàn xã hiện tại có 953 hộ sử dụng điện, đạt 100% so với tổng số
Về trung tâm văn hoá xã, xóm
Hiện xã vẫn chưa xây dựng được nhà văn hoá xã, trên các địa bàn khu dân cư hiện có 11/11 xóm đã có nhà văn hoá, trong đó có 02 xóm Gò Mè và Đất Đỏ có nhà văn hoá đạt chuẩn; có 09 nhà văn hoá chưa đạt chuẩn Các nhà văn hoá có quy mô diện tích khuôn viên từ 300m 2 - 2.000m 2 Các nhà văn hóa đều là nhà cấp
4 với diện tích xây dựng từ 50m 2 – 150m 2 Hầu hết nhà văn hóa đều đã xuống cấp, cần nâng cấp cải tạo Xây dựng mới nhà văn hóa cho 04 xóm chuyển đến vị trí mới đó là xóm Liên Khuê, xóm Vần, xóm Đá Bạc và xóm Đồn Vận
Về giao thông: Đường liên huyện: Có chiều dài 09 km, đã được rải nhựa với bề rộng mặt là 6m, bề rộng nền 9m.Tổng chiều dài của đường trục xã, trục xóm, liên xóm và đường nội xóm là 23,172km đã cứng hóa đổ bê tông theo tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng được 5,829km đ
+ Đường xã, liên xã: tổng số 17,38km, có 9km được nhựa hóa đạt 52% so với tổng số;
+ Đường trục xóm, liên xóm, nội xóm: tổng số 18,83km, số ki-lô-mét bê tông hóa đạt chuẩn: 5,829km; đạt 31% so với tổng số;
14 Đường trục chính nội đồng: Tổng chiều dài các tuyến đường nội đồng khoảng 8,74 km, bề rộng từ 1,3m - 5m, 100% là đường đất và đường cấp phối
Hệ thống tưới tiêu của xã phục vụ cho sản xuất nông nghiệp còn rất ít, quy mô nhỏ lẻ và xuống cấp, một số xóm còn sử dụng từ hệ thống tưới tiêu của xã lân cận; hệ thống tưới tiêu hiện tại ở một số xóm chưa có hồ chứa, hồ chứa nước còn ít và dung tích nhỏ cần đầu tư xây dựng hệ thống tưới tiêu
- Diện tích được tưới tiêu bằng công trình thuỷ lợi 183 ha
- Số hồ, đập có khả năng cấp nước gồm có: Hồ suối Vần diện tích (01ha) đã được xây cống và kè bờ; Đập Hổ Giang diện tích (1,2 ha) đã được xây cống, kè bờ Toàn xã có 04 đập tràn, bai nhỏ (Bai Đồng Sổ, Bai Gốc Si, Bai Đồng Chóng, Bai Đá
- Số kênh mương hiện có là 22,23km, trong đó đã kiên cố hoá được 5,196km đạt 23,4%, còn 17,034 km cần kiên cố hoá
Về khu thể thao của xã, xóm
Đánh giá thuận lợi và khó khăn
Về thuận lợi Địa hình nằm giáp danh với địa phận của các xã thuộc thành phố Hà Nội thuận lợi trong việc giao lưu văn hóa - xã hội Xã là cầu nối giữa phía Bắc và phía Nam của huyện Lương Sơn, có trục đường liên xã gần với đường mòn Hồ Chí Minh, gần các trung tâm thị trấn thuận lợi cho giao thương
Nhân dân xã Liên Sơn với bản chất cần cù, chịu thương, chịu khó, dám nghĩ dám làm, tích cực mạnh dạn đầu tư phát triển kinh tế, có truyền thống văn hóa lâu đời, tinh thần đoàn kết, giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau tạo tiền đề để xã phát triển bền vững, ổn định
Trong ba năm qua 2015 - 2017 được sự quan tâm của các cấp, xã Liên Sơn đã và đang được đầu tư xây dựng hoàn thiện cơ sở vật chất kinh tế hạ tầng như về: giao thông nông thôn thuận tiện, cơ sở vật chất trường học, trạm y tế, khu trung tâm được hoàn thiện, hệ thống điện lưới được đảm bảo, môi trường cảnh quan được bảo vệ, tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội được giữ vững
Quan trọng nhất là sự đoàn kết giữa Đảng bộ xã và nhân dân lao động xã Liên Sơn
Là một xã có cơ sở hạ tầng còn kém, đời sống kinh tế nhân dân còn nhiều khó khăn do quy mô sản xuất nhỏ lẻ
Vốn đầu tư trong sản xuất nông nghiệp còn hạn chế Đôi khi nhân dân còn phải phụ thuộc vào nguồn vốn vay của ngân hàng nhà nước rất nhiều
Trình độ quản lý của cán bộ xóm chưa đồng bộ, hiệu quả trong quán xuyến, đôn đốc nhân dân sản xuất nông nghiệp,
Phương pháp nghiên cứu của các hộ điều tra
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Kế thừa những báo cáo, tài liệu, chuyên đề, những công trình đã nghiên cứu về vấn đề liên quan đã được công bố.Những vấn đề về điều kiện tự nhiên, nông nghiệp, nông thôn, sản xuất lúa và cây hoa màu được điều tra tham khảo tại phòng Nông nghiệp và PTNT của ủy ban nhân dân xã Liên Sơn
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
* Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu Để công việc đánh giá mang tính khách quan 3/11 số xóm trong toàn xã được lựa chọn để khảo sát Các xóm được chọn sẽ được căn cứ vào diện tích, giống lúa đang trồng Đặc biệt lấy trung tâm xã làm mốc nghiên cứu Các xóm tiến hành nghiên cứu là:
- Thôn Gò Mè: Là xóm sản xuất lúa là chủ yếu, địa hình ruộng của xóm không được bằng phẳng, nên không thuận lợi cho việc quy hoạch vùng lúa theo quy mô lớn, đây là xã nằm bị tách khỏi địa bàn xã bởi một xã khác
- Thôn Đồn Vận: Là vùng sản xuất lúa và trồng cây hoa màu đều nhất trong 3 thôn điều tra Các hộ gia đình tại đây chưa đợc dồn điền đổi thửa và là thôn nằm ở trung tâm xã
- Thôn Đất Đỏ: Là vùng sản xuất nhỏ Các giống lúa sử dụng vẫn chủ yếu là giống lúa truyền thống và chỉ dùng cách gieo cấy không có hộ nào sạ lúa Các mảnh ruộng của xóm chia cắt tương đối mạnh mẽ, sản xuất lúa tại các HGĐ rất manh mún Đây là xóm nằm ở gần cuối xã
Dùng phiếu điều tra và phỏng vấn 90 hộ nông dân của 3 thôn, trong đó có
9 hộ nghèo, có 13 hộ cận nghèo và có 68 hộ khá giàu Có sự chênh lệch nhiều giữa các nhóm hộ này là do trong toàn xã phần nhiều là hộ khá – giàu chiếm tới 75,6%, nhóm hộ cận nghèo chiếm 14,4% và nhóm hộ nghèo chiếm 10 % của tổng số hộ trong xã
2.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
* Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu được ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế và kinh doanh bằng cách rút ra những kết luận dựa trên số liệu và thông tin được thu thập được Trong nghiên cứu này phương pháp thống kê mô tả được sử dụng nhằm mô tả thực trạng sản xuất lúa của hộ nông dân thông qua một số nguồn lực sản xuất
Phương pháp so sánh là phương pháp chủ yếu dùng trong phân tích hoạt động kinh tế, phương pháp này đòi hỏi các chỉ tiêu phải có cùng điều kiện có tính so sánh được để xem xét, đánh giá, rút ra kết luận về hiện tượng, quá trình kinh tế Có các phương pháp so sánh: so sánh số tuyệt đối và so sánh số tương đối Trong bài này tôi thực hiện so sánh hiệu quả kinh tế sản xuất lúa giữa các thôn tức theo vùng sản xuất
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT LÚA TẠI XÃ LIÊN SƠN
Thực trạng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Liên Sơn
3.1.1 Thực trạng sản xuất lúa trên địa bàn xã Liên Sơn
Bảng 3.1 Kết quả sản xuất lúa của xã Liên Sơn qua 3 năm (2015-2017) Chỉ tiêu
Các năm Tốc độ phát triển
1 Diện tích gieo trồng(ha)
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu ban thống kê xã Liên Sơn)
Bảng 3.1 trên cho thấy trong 3 năm qua từ 2015-2017, mỗi năm có phương thức sản xuất khác nhau, mức độ đầu tư kỹ thuật, giống lúa, là khác nhau, còn
20 chưa kể đến sự biến động của thời tiết ( yếu tố khách quan) Do đó,qua bảng số liệu cho thấy diện tích và năng suất SX lúa của mỗi năm đều biến động, với tốc độ phát triển khác nhau Cụ thể, tổng diện tích lúa bình quân chung của năm
2015 là 136 ha cao nhất hơn hai năm kế tiếp lần lượt là 1,25 ha và 2,45 ha, tức diện tích gieo trồng có xu hướng giảm dần Chính vì diện tích gieo trồng cả năm giảm dần nên sản lượng BQC thu được vì thế mà giảm từ năm 2015 là 759,50 tấn xuống lần lượt năm 2016 và 2017 là 1,5 tấn và 85,55 tấn Vì vậy, tốc độ phát triển liên hoàn của 2016/2015 của năng suất và sản lượng lúa cao hơn so với tốc độ phát triển bình quân chung, riêng diện tích gieo trồng BQC là giữ nguyên ở mức 99,1% Về giá cả có sự biến động tăng qua các năm, đặc biệt giá lúa năm
2017 tăng vọt so với năm 2016 từ 6,3 nghìn đồng/kg lên 7,1 nghìn đồng/kg, chêch lệch tới 0,8 nghìn đồng cao hơn nhiều so với năm 2015 và 2016, tăng chỉ 0,3 nghìn đồng/kg lúa Do đó mà giá trị SX lúa có sự tăng trưởng rõ rệt, cụ thể năm 2015 đạt 4557 nghìn đồng/vụ, năm 2016 tăng thêm 218,4 nghìn đồng/vụ và tiếp tục tăng đến năm 2017 tăng nhưng tăng ít 9,65 nghìn đồng/vụ
Vụ xuân năm 2015, diện tích gieo trồng lúa là 115 ha, 100% diện tích được gieo cấy bằng các giống lúa ngắn ngày trong đó giống lúa lai chiếm 40%, giống lúa chất lượng chiếm 35% và giống lúa khác chiếm 25% Các giống lúa cho năng suất cao bao gồm: lúa lai, BC15, ước đạt 60 tạ/ha; nhóm giống lúa khác ước đạt 55 tạ/ha Các giống lúa cấy ở vụ mùa thì giống lúa lai vẫn duy trì được tính ổn định trong khả năng chống chịu với thời tiết và sâu bệnh tốt Giống lúa BC15 là giống lúa mà người dân trên địa bàn xã ưa chuộng và gieo cấy với diện tích ưu thế vì đạt cả về năng suất và chất lượng Sản lượng ước khoảng 60 tạ/ha tương đương với lúa lai
Vụ xuân 2016, diện tích gieo cấy toàn xã là 112,5 ha, giảm 2,5ha so với năm 2015 do có sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất (trong đó 1,1ha diện tích lúa xóm Nước Lạnh chuyển cho công ty Phương Nam và 1,4 ha dân chuyển trồng cỏ cho chăn nuôi, trồng cây màu) Do ảnh hưởng của thời tiết khí hậu, khí hậu trở nên ấm hơn so với mức trung bình nhiều năm nên ảnh hưởng đến giai đoạn phát triển của
21 cây lúa Nhiệt độ vào cuối tháng 2 và đầu tháng 3 ở mức cao, độ ẩm không khí thấp, cây lúa phát triển chậm tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh xâm nhập và gây hại Tuy nhiên, đến giai đoạn trỗ bông phơi màu giữa tháng 5 trở đi nhiệt độ và ánh sáng trong thời điểm lúa trỗ bông tương đối thuận lợi cùng với việc chỉ đạo trừ sâu bệnh hại, nhất là bệnh đạo ôn kịp thời nên đã làm tăng năng suất lúa so với cùng kỳ năm trước Năm
2016 và năm 2017 diện tích và năng suất lúa giảm do một số diện tích chuyển sang trồng màu và gặp hạn hán đầu mùa Ở vụ xuân, về giá lúa, theo như bảng 3.1 cho thấy từ năm 2015 đến năm
2017 giá cả có sự biến động khá rõ ràng nhất là sự chênh lệch giá giữa năm 2016 và năm 2017 Do sản xuất lúa trên địa bàn còn theo phương thức hộ nông dân, không có sự cơ cấu về giống lúa đầu vào và đầu ra nên giá lúa không ổn định, thay đổi qua các mùa vụ và các năm Đỉnh điểm giá lúa tăng cao nhất là 7 nghìn đồng/kg Năm 2015 và 2016 giá lúa ở mức thấp chỉ có 5,9- 6,1 nghìn đồng/kg lúa, nhiều hộ gia đình sản xuất lúa gặp khó khăn Trải qua rất nhiều lần thay đổi giống, thay đổi phương thức sản xuất để năng cao năng suất cũng như hiệu quả sản xuất của cây lúa, hiện nay trên địa bàn xã đang sử dụng các giống phổ biến như: bắc thơm số 7, khang dân 18,thiên ưu, BC 15, 225, nếp 97, nếp Lang Liêu, nếp thơm Tuy nhiên giá lúa của giống BC 15 vẫn có giá bình quân cao hơn giá thường là 1-2 giá so với các giống lúa khác Ưu điểm của loại giống này là năng suất cao, chất lượng tốt cho ra hạt gạo mềm vào dẻo phù hợp với mọi đối tượng sử dụng nên giá thường cao hơn là điều dễ hiểu Từ đó có thể thấy được sự hiệu quả kinh tế thông qua giá cả của sản phẩm và thị trường tiêu thụ
Nguyên nhân giá lúa của vụ xuân tăng do lượng cung cấp lúa gạo giảm, cũng như sự thay đổi giống lúa năng suất cao không đủ để đáp ứng thị trường trên địa bàn xã nên giá cả có xu hướng tăng lên đáng kể
Chuyển sang vụ mùa, tình hình sản xuất có sự biến đổi khác, vẫn xem số liệu tổng hợp ở bảng 3.1 ta thấy được những sự biến động sau:
Diện tích gieo trồng năm 2015 và 2016 không có sự thay đổi ở mức 157ha
( DT lúa đạt do ĐK thời tiết mưa ẩm đủ nước cho gieo cấy cũng như cấy ép một
22 số DT màu) sang đến năm 2017 thì giảm xuống 2,2 ha còn 154,8ha diện tích gieo trồng lúa (Giảm 2,2ha so với cùng kỳ vì chuyển trồng cây màu như trồng cỏ, cây gia vị)
Về năng suất và sản lượng lúa không đổi vì thế mà hai năm 2015 và 2016 không có biến động Xong sự biến động về sự thay đổi của năng suất năm 2017 giảm mạnh so với năm 2016 từ 5,5 tấn xuống còn 4,5 tấn/ha (giảm 1 tấn/ha) Do đó sản lượng năm 2016 và 2017 lần lượt cũng giảm mạnh từ 863,5 tấn xuống còn 696,6 tấn (giảm 166,9 tấn) Nguyên nhân là bởi cây lúa bị bệnh ngộ độc hữu cơ, đốm sọc vi khuẩn, bạc lá gây hại hầu hết trên diện tích lúa toàn xã không thể khắc phục được kịp thời
Vụ mùa năm 2016 có thời tiết tương đối tốt đầu vụ nắng to, nhiệt độ cao, lượng mưa rai rác tạo điều kiện cho việc phân hủy các chất hữu cơ nhanh nên cây lúa hấp thụ được chất dinh dưỡng từ đất Lúa cấy xuống phát triển nhanh rễ bám và ăn sâu vào đất nhánh đẻ tương đối đều, nhưng từ mùng 5 đến mùng 11 tháng 9 có xuất hiện gió mùa đông bắc kềm theo mưa phùn đến sớm nên những diện tích trổ bông phơi màu ở thời điểm này bị ảnh hưởng làm cho tỷ lệ bông lúa lép cao Diện tích lúa giống BC15 được thực hiện gieo cấy Giá lúa ở xã Liên Sơn biến động tăng dần qua 3 năm trở lại đây Giá lúa cao nhất là 7200 đồng/kg đạt mức kỷ lục, cao hơn năm 2015 1100 đồng/kg và cao hơn năm 2016 700 đồng/kg Tốc độ phát triển liên hoàn của năm 2016/2015 và năm 2017/2016 lần lượt tăng là 103,4% và 114,8%
3.1.2 Thực trạng sản xuất cây màu trên địa bàn xã Liên Sơn
Ngoài lúa, cây trồng chiếm diện tích chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp thì xã Liên Sơn còn có các loại cây trồng khác mang lại hiệu quả kinh tế khá cao và có những chuyển đổi mới trong tương lai Đó là những cây trồng gì?
Dưới dây là bảng tổng hợp một số cây trồng đóng góp phần quan trọng trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã
Bảng 3.2 Kết quả sản xuất các loại cây màu trong 3 năm 2015-2017
(Nguồn: Thống kê xã Liên Sơn)
Về cây ngô, năm 2015, diện tích trồng ngô là 85,5/85ha KH, đạt 106% so với kế hoạch, tăng 2,5 ha so với năm 2014 Sản lượng đạt 397,58 tấn tăng 13,48 tấn so với năm 2014 Giá ngô là 6200 đồng/kg tính trung bình các giống ngô; tuy nhiên sang năm 2016 diện tích trồng ngô lại giảm đáng kể chỉ còn 81/80ha
KH do người dân sử dụng giống ngô lai mới đạt năng suất cao hơn 0,07 kg/ha Năm 2017, diện tích trồng ngô tăng trở lại từ 81ha lên 83,2ha (tăng 2,2ha so với năm 2016), tiếp tục trồng các loại giống ngô cho năng suất cao như năm 2016 Cây khoai lang, năm 2015 diện tích trồng là 11,5ha với năng suất là 7,25 tấn/ha, sang đến năm 2016 giảm xuống 3,8 ha còn 7,7ha diện tích trồng với năng suất 7,26 tấn/ha không tăng nhiều so với năm trước đó; nguyên nhân là bởi người nông dân vẫn trồng loại khoai vỏ đỏ cho năng suất không cao Đến năm
Thực trạng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của các hộ điều tra
Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: Trong quá trình thực tập với yêu cầu nghiên cứu về tình hình sản xuất lúa trên địa bàn xã, tôi đã chọn ra ba thôn là thôn Gò Mè, thôn Đồn Vận và thôn Đất Đỏ để tiến hành điều tra Với tổng số mẫu điều tra là 90 mẫu tương ứng với 90 hộ thuộc 3 thôn và mỗi thôn 30 hộ
3.2.2 Thông tin chung về các hộ điều tra
3.2.2.1 Nhân khẩu và lao động
Xã Liên Sơn có khoảng 1537 lao động tham gia và hoạt động sản xuất nông nghiệp
Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các chủ hộ điều tra đều là nam giới, số người trong gia đình tham gia tham gia vào sản xuất nông nghiệp bình quân của các hộ thôn Gò Mè là 2 người chiếm khoảng 25%, thôn Đồn Vận là 3 người chiếm 65% và thôn Đất Đỏ là 2 người chiếm 10%
Bảng 3.3 Nhân khẩu, lao động tham gia sản xuất nông nghiệp của các nông hộ điều tra năm 2017
STT Chỉ tiêu ĐVT Thôn
1 Số hộ điều tra Hộ 30 30 30
2 Số khẩu bình quân Người/hộ 4 5 6
Số lao động tham gia SXNN bình quân
(Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra)
Qua bảng 3.3 ta có thể có đưa ra một số nhận xét như sau:
Số lao động trong một hộ thể hiện lực lượng sản xuất nông nghiệp chính của hộ Lao động bình quân của thôn Đồn Vận là cao nhất, nhóm hộ này có số khẩu khá lớn, số khẩu nằm trong độ tuổi lao động nhiều nhưng lại thiếu vốn và tư liệu sản xuất
Thu nhập bình quân của các thôn cũng khá cao, trong đó cao nhất là thôn Đồn Vận với thu nhập bình quân khoảng 23105,5 nghìn đồng/năm cao hơn thôn
Gò Mè và thôn Đất Đỏ lần lượt là 1,03 lần và 1,04 lần
Ngoài sản xuất nông nghiệp một số bộ phận lao động của các hộ gia đình đang làm ở một số ngành nghề tại địa phương như: sản xuất gạch block, công nhân trồng cỏ tại sân gofl, làm hàng mây tre đan, công nhân may mặc,
3.2.2.2 Trình độ học vấn và kinh nghiệm sản xuất của các hộ điều tra
Nước ta đi lên từ nông nghiệp, nên việc tham gia vào lực lượng sản xuất nông nghiệp chủ yếu là những người có kinh nghiệm được tích lũy từ khi còn trẻ Dưới đây là bảng tổng hợp điều tra về trình độ học vấn và kinh nghiệm sản xuất của các hộ điều tra:
Bảng 3.4 Trình độ học vấn và kinh nghiệm sản xuất của các hộ điều tra Chỉ tiêu
Thôn Gò Mè Thôn Đồn Vận Thôn Đất Đỏ
II Kinh nghiệm sản xuất
(Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra)
Qua bảng 3.4 ta có thể thấy phần đa trình độ học vấn của các chủ hộ chủ yếu là học tới Trung học cơ sở có 53/90 hộ chiếm 58,89%, trong đó người có trình độ học cao nhất là Trung học phổ thông có 20/90 hộ chiếm 22,22% và trình độ học vấn ở cấp Tiểu học là thấp nhất 17/90 hộ chiếm 18,89%
Trình độ học vấn trung bình của các chủ hộ là THCS, trong đó thôn Gò Mè là 19 người sau đó là thôn Đất Đỏ 18 hộ và thấp nhất là thôn Đồn Vận 16 hộ với tỉ lệ lần lượt là 63,33%; 60%; 53,33% tương ứng với tổng số người của mỗi thôn Trình độ học vấn cao nhất là Trung học phổ thông, trong đó cao nhất là xóm Đất Đỏ có 9 hộ chiếm 30 %, thấp hơn là thôn Đồn Vận có 6 hộ chiếm 20% và thấp nhất là thôn Gò Mè có 5 hộ chiếm 16,67% (so với tổng số chủ hộ có trình độ học vấn) Còn lại là số người học đến hết Tiểu học là nghỉ học, không học lên cao nữa bởi vì hoàn cảnh gia đình khó khăn không đủ chi phí để đi học, gia đình thiếu lao động, một số trường hợp là không muốn tiếp tục học, Trong
27 các hộ điều tra là không có người nào học đến trình độ Cao đẳng, Đại học, trình độ cao nhất cũng chỉ tới Trung học phổ thông
Về kinh nghiệm sản xuất:
- Thôn Gò Mè có số hộ nông dân có kinh nghiệm sản xuất NN từ 10-20 năm và 30 - 40 năm đều là 6 hộ chiếm 20% và 20-30 năm là 18 hộ chiếm 60% trên tổng 30 hộ
- Thôn Đồn Vận có số hộ nông dân có kinh nghiệm sản xuất NN từ 20-30 năm chiếm tỉ lệ cao nhất 56,67% (17 hộ), thấp hơn là số năm kinh nghiệm từ 10-
20 năm chiếm 23,33% (7 hộ), thấp nhất là số năm kinh nghiệm sản xuất NN từ
- Thôn Đất Đỏ có số hộ nông dân có kinh nghiệm sản xuất NN từ 20-30 năm là 13 hộ chiếm tỉ lệ cao nhất 43,33%, số hộ có kinh nghiệm từ 10-20 năm và kinh nghiệm từ 30-40 năm chiếm tỉ lệ gần tương đương nhau lần lượt là 30%
Nhìn chung, trong tổng 90 hộ điều tra về kinh nghiệm sản xuất NN của các hộ thì kinh nghiệm sản xuất cao nhất là 20-30 năm, thấp nhất là những người có số năm kinh nghiệm từ 30 - 40 năm trong cả 3 nhóm hộ
Trong những năm gần đây quá trình sản xuất nông nghiệp đã và đang có những chuyển dịch mới đó là sản xuất NN phải gắn liền với khoa học kỹ thuật, nhằm nâng cao chất lượng nông sản, tăng năng suất, tăng hiệu quả sản xuất và cải thiện môi trường của cộng đồng
Qua khảo sát 90 hộ trên địa bàn nghiên cứu, hầu hết các hộ đều áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Cụ thể, về trồng trọt các hộ có sử dụng khoa học kỹ thuật mới như: sử dụng giống mới cho mỗi vụ mùa mới (100% các hộ đều sử dụng giống mới), phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp,
Mô hình sạ hàng đối với cây lúa được các hộ quan tâm rất nhiều vào giai đoạn 2013- 2015, nhưng do việc cây lúa được gieo không đều và phải đi dặm lại nhiều lần, công tác làm cỏ gây mất nhiều công lao động ở giai đoạn lúa làm
28 đòng nên người dân không sử dụng phương thức gieo sạ vào giai đoạn 2015-
Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa tại xã Liên Sơn
Từ những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức mà nông nghiệp xã Liên Sơn nói chung và đối với sản xuất cây lúa nói riêng chúng ta cần tìm ra biện pháp để giải quyết vấn đề khó khăn đồng thời phát huy những điểm thuận lợi mà xã đang có
3.3.1 Biện pháp về kỹ thuật Đối với giống lúa
Khuyến khích các chủ hộ tham gia trồng lúa sử dụng giống lúa F1, giống lúa lai ngắn ngày cho năng xuất cao Hạn chế dùng các giống lúa dùng từ lâu đời đem gieo trồng, năng suất không cao, dễ bị sâu bệnh, thời gian chăm sóc dài hơn, Như vậy sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa toàn vùng cũng như toàn xã Đối với phân bón
Phân bón là yếu tố quan trọng và ảnh hưởng đến năng suất của cây lúa, vậy nếu muốn tăng năng suất người dân cần tăng lượng phân bón cho cây lúa.Đồng thời để đảm bảo duy trì năng suất lúa một cách hiệu quả người dân cần học cách bón phân đúng cách, đúng thời điểm là hết sức quan trọng Đối với bảo vệ thực vật
Qua tổng hợp phiếu điều tra cho thấy hầu hết các hộ đều sử dụng thuốc hóa học và coi như đây là việc làm tất yếu cho một vụ mùa bội thu Việc sử dụng thuốc hóa học cho cây lúa có thể mang lại sản lượng lúa cao hơn bình thường, nhưng thực tế việc sử dụng quá nhiều hay lạm dụng quá sẽ gây ra những hậu quả không lường Việc sử dụng thuốc hóa học không đồng đều trên một cánh đồng là không hiệu quả, bởi có hộ phun thuốc nhưng có hộ không phun thuốc thì sâu bệnh vẫn có thể lan sang và ngược lại, điều này gây lãng phí và không an toàn Xét về mặt dài hạn thuốc hóa học sẽ gây ô nhiễm cho chính nguồn nước mà chúng ta dùng làm nước tưới tiêu, và các chất độc hại đó có thể được cây trồng hấp thụ và chuyển hóa thành các chất không có lợi trong nông phẩm thu được
Xác định thời vụ sản xuất
Thời vụ rất quan trọng vì mỗi địa phương có khí hậu thời tiết khác nhau Nếu xác định được đúng thời điểm gieo trồng thì sẽ tránh được các loại sâu bệnh hại, thiên tai, bão lũ,…
3.3.2 Nâng cao chất lượng lao động
Sản xuất lúa đòi hỏi có sự chăm sóc đúng quy trình và thời vụ, do đó người trồng phải có kiến thức, kinh nghiệm, kỹ thuật chăm sóc, hiểu rõ về chế độ dinh dưỡng, các loại sâu bệnh thường gặp ở cây lúa
Người dân có thể học hỏi qua sách báo, truyền hình, qua các buổi tập huấn địa phương tổ chức, học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước.Người dân cần bỏ các thói quen, tập tục sản xuất lua lạc hậu và thay vào đó áp dụng khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, hiệu quả trong kinh tế
Tăng cường công tác khuyến nông là việc cần thiết đối với nên sản xuất nông nghiệp hiện nay Hằng năm, xã vẫn luôn mở các lớp tập huấn về sản xuất trong nông nghiệp tới mỗi thôn trong xã nhưng hiệu quả chưa cao.Người dân vẫn chưa thực sự hiểu được tầm quan trọng trong việc học hỏi kỹ thuật mới Vì vậy, cần có những buổi tập huấn phối hợp với các buổi họp thôn như vậy việc trao đổi thông tin đến với người dân sẽ dễ dàng hơn, tiết kiệm hơn và được nhận sự phản hồi của họ nhanh hơn để có biện pháp khắc phục
3.3.3 Hiện đại hóa các phương tiện phục vụ cho sản xuất
Phương tiện sản xuất là các công cụ hỗ trợ người nông dân trong sản xuất nông nghiệp rất nhiều, giảm công lao động, giảm thời gian chăm sóc Tuy nhiên trên địa bàn xã còn thiếu nhiều các công cu hỗ trợ đó, chủ yếu vẫn là bình phun thuốc, máy bơm nước chạy bằng điện, tiện lợi hơn thì là máy bơm nước chạy bằng xăng,… Việc chế biến sau khi thu hoạch chưa thực sự được chú trọng, việc phơi phóng lúa chủ yếu là phụ thuộc vào nhiệt năng của mặt trời nên sản phẩm lúa khô không được kiểm soát chặt chẽ
Nhà nước cần tổ chức các buổi tập huấn hay chuyển giao công nghệ tới người dân khắp các vùng, cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa
3.3.4 Cải tạo ruộng đất Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng, là yếu tố không thể thiếu và không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp
Thực tế việc sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã còn chưa hiệu quả Hiện nay có nhiều ruộng bỏ không do thu nhập từ sản xuất lúa không cao, gia đình không có nhân lực để tham gia vào sản xuất nông nghiệp, sản xuất lúa bởi những thế hệ trẻ sau khi học xong họ lên thành phố để làm việc nhiều
Diện tích đất lúa giảm dần theo thời gian, sự chuyển đổi mục đích trong sử dụng đất ngày càng tăng Đồng thời việc sử dụng chất hóa học thường kỳ gây ảnh hưởng đến chất lượng dinh dưỡng tự nhiên có trong đất, các sinh vật có lợi trong đất bị hủy hoại mà thay vào đó là các loại sinh vật có hại cho đất lại dễ dàng phát triển và lây lan
Từ đó, cần khuyến khsich người dân sử dụng các loại phân hữu cơ được sản xuất từ các loại thực vật phân hủy hay vi sinh vật, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật thích hợp, đúng liều lượng, đúng thời điểm Hạn chế các loại thuốc phun trực tiếp xuống đất để tránh ô nhiễm đất
3.3.5 Đầu tư cơ sở hạ tầng
Có hai mảng cơ sở cần đầu tư quan trọng đó là: giao thông nội đồng và hệ thống kênh mương thủy lợi Hiện nay, trên địa bàn xã đã có những mương, suối được xây kiên cố bằng nguyên liệu bê tông, nhưng phần đa là chưa đc kiên cố Hằng năm, người dân đều phải tổ chức các buổi nạo vét mương suối để đảm báo cho nước chảy đến từng cánh đồng, từng thửa ruộng