1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phép biện chứng duy tâm của hêghen – những giá trị và hạn chế

23 743 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phép biện chứng duy tâm của Hêghen – Những giá trị và hạn chế
Tác giả Trần Thanh Xuân
Người hướng dẫn TS. Bùi Xuân Thanh
Trường học Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học Mác-Lênin
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 562,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống triết học mới của ông dựa trên bốn luận điểm nền tảng sau đây: Một là, thừa nhận tồn tại ý niệm tuyệt đối.. Ý niệm tuyệt đối là sự hợp nhất giữa thực thể – giới tự nhiên Xpinôda

Trang 1

BỘ GIÁ O DỤ C VÀ ĐÀ O TẠ O TRƯỜN G ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ M INH

KHOA ĐÀO TẠO SA U ĐẠ I HỌC

GVHD : TS Bùi Xuâ n T hanh

Sinh viê n : Trần Tha nh Xuân

TP HỒ CHÍ MINH TH ÁNG 03/2011

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Khi tìm hiểu nền triết học cổ điển Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX có một tên tuổi mà ta không thể không nhắc đó chính là Hêghen – nhà triết học lớn nhất thời bấy giờ Với tri thức bách khoa, kiến thức uyên bác và thiên tài của mình, ông đã xây dựng một hệ thống triết học tương đối hoàn chỉnh Học thuyết của ông khép lại một giai đoạn phát triển triết học đầy sôi động, đồng thời mở ra một giai đoạn cách mạng mới trong lịch s ử triết học - giai đoạn gắn tư tưởng triết học với thực tiễn cách mạng

Xét một cách thật chặt chẽ thì học thuyết Hêgen hiện nay không phải là một trào lưu tư tưởng triết học đáng kể Mặc dù vậy, s ự quan tâm tới triết học Hêgen đặc biệt là s ố lượng các công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học của ông không những không hề giảm bớt mà trái lại còn tăng lên liên tục Hơn thế nữa, có một điều khá đặc biệt là các nhà nghiên cứu về di sản triết học của Hêgen thường lại không phải là những người theo trường phái Hêgen Một điều nổi bật khác ở đây là cả các nhà duy tâm lẫn các nhà duy vật, cả những người bảo vệ chủ nghĩa duy lý lẫn những người ủng hộ chủ nghĩa ph i duy lý đều tích cực nghiên cứu triết học Hêgen Trong

số các nhà triết học duy tâm lý giải triết học Hêgen và cố gắng đồng hoá các tư tưởng của ông thì chúng ta lại bắt gặp những người cố gắng bảo vệ các khuynh hướng triết học hết sức xa lạ với học thuyết Hêgen chẳng hạn chủ nghĩa hiện s inh, chủ nghĩa nhân cách triết học phân tích thần học biện chứng…

Vậy th ì điều gì ở trong học thuyết Hêgen đã và đang có s ức cuốn hút các nhà

tư tưởng vốn theo đuổi những định hướng triết học rất khác nhau đó đến như vậy? Chính vì thếđđể trả lời cho câu hỏi đó em đã chọn đề tài tìm hiểu: Phép biện chứng duy tâm của Hêghen – Những giá trị và hạn chế ”

I TRIẾT H ỌC HÊGH EN:

Trang 3

Hêghen (Friedrich Hégel, 1770 -1831) s inh ra trong một gia đình quan chức

cao cấp ở thành phố Stuttgart Do chịu ảnh hưởng bởi Senlinh mà Hêghen say s ưa nghiên cứu triết học và ông đã trở thành nhà triết học - bác học v ĩ đại nhất, người hoàn chỉnh nền triết học duy tâm biện chứng cổ điển Đức, bậc tiền bối của triết học Mác Hêghen đã để lại cho nhân loại một di sản triết học đồ sộ và rất có giá trị Các tác phẩm chính của ông là Hiện tượng luận tinh thần, Bách khoa toàn thư các khoa học triết học

1 “Hiện tượng luận tinh thần” – Định hướng triết học Hêghen:

Vớ i tác phẩm này, Hêghen đã thật s ự thoát ra khỏi sự ràng buộc bởi tư tưởng Senlinh để xây dựng một hệ thống triết học của riêng mình Hệ thống triết học mới của ông dựa trên bốn luận điểm nền tảng sau đây:

Một là, thừa nhận tồn tại ý niệm tuyệt đối Theo Hêghen, ý niệm tuy ệt đối

chứ không phải cái tuyệt đối (Senlinh) là nền tảng của hiện th ực Ý niệm tuyệt đối là

sự hợp nhất giữa thực thể – giới tự nhiên (Xpinôda) và cái tôi tuyệt đối (Phíchtơ), là

sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và vật chất, là đấng tối cao s áng tạo

Trang 4

quá trình vận động phát triển tự thân của ý niệm tuyệt đối Hoạt động nhận th ức và cải tạo thế giới của con người, tức lịch s ử nhân loại chỉ là giai đoạn phát triển cao của

ý niệm tuyệt đối, là công cụ để nó nhận thức chính bản thân mình và quay trở về với chính mình Theo Hêghen, tư duy lôgích chứ không phải trực giác nghệ thuật (Senlinh) là hình thức thể hiện cao nhất của ý niệm tuyệt đối

Hai là, thừa nh ận sự phát triển của ý niệm tuyệt đối Sự phát triển được

Hêghen hiểu như một chuỗi các hành động phủ định biện chứng Trong đó, cái mới liên tục thay thế cái cũ, nhưng đồng thời kế thừa những yếu tố hợp lý của cái cũ Quá trình phát triển của ý niệm tuyệt đối diễn ra theo tam đoạn thức “chính đề - phản đề - hợp đề” Đó cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn giữa cái vật chất và cái tinh thần, giữa khách thể và chủ thể trong bản thân ý niệm tuyệt đối

Ba là, thừa nhận ý thức con người là sản phẩm của lịch sử Hêghen coi lịch

sử là hiện thân của ý niệm tuy ệt đối, là đỉnh cao của sự phát triển ý niệm tuy ệt đối trên trần gian Lịch sử nhân loại có được nhờ vào hoạt động có ý thức của những cá nhân cụ thể, nhưng nó lại là nền tảng quy định ý thức của mỗi cá nhân Ý thức cá nhân chỉ là s ự khái quát, s ự “đi tắt” toàn bộ lịch sử mà ý thức nhân loại đã trải qua Ý thức nhân loại là s ự tái hiện lại toàn bộ tiến trình của lịch sử nhân loại, là s ản phẩm của lịch s ử, là hiện thân của ý niệm tuyệt đối

Bốn là, triết học là học thuyết về ý niệm tuyệt đối Hêghen thừa nhận có ba

hình thức thể hiện ý niệm tuyệt đối trên trần gian là nghệ thuật, tôn giáo và triết học Trong đó, triết học là hình thức thể hiện cao nhất, trọn vẹn và đầy đủ nhất ý niệm tuyệt đối Theo Hêghen, triết học là khoa học của mọi khoa học, là khoa học vạn năng đóng vai trò nền tảng cho toàn bộ thế giới quan và tư tưởng con người Nhưng mỗi thời đại lại có một học thuyết triết học của riêng mình Học thuyết này là tinh hoa tinh thần của thời đại đó - thời đại được thể hiện dưới dạng tư tưởng Mỗi hệ thống triết học của một thời đại nào đó đều là s ự chắt lọc, kết tinh, khái quát lại toàn bộ lịch sử

tư tưởng trước đó, đặc biệt là tư tưởng triết học Triết học và lịch sử triết học thống nhất với nhau như là sự thống nhất giữa cái lôgích và cái lịch sử; vì vậy, triết học phải bao trùm toàn bộ lịch sử phát triển của ý niệm tuyệt đối Theo quan điểm này thì triết học Hêghen, khoa học về ý niệm tuyệt đối, được chia thành ba bộ phận là khoa học

Trang 5

lôgích, triết học tự nhiên, triết học tinh thần; ứng với ba giai đoạn phát triển của ý niệm tuyệt đối là ý niệm tuyệt đối trong chính nó, ý niệm tuyệt đối trong s ự tồn tại khác của nó (tự tha hóa), ý niệm tuyệt đối khắc phục s ự tự tha hóa quay về với nó

Như vậy, trong “Hiện tượng luận tinh thần”, Hêghen đã thoát ra khỏi hệ thống triết học Senlinh và định hướng cho một hệ thống triết học mới của riêng mình Hệ thống triết học mới này được ông trình bày chi tiết trong bộ “Bách khoa toàn thư các khoa học triết học” bao gồm ba quyển là Khoa học lôgích, Triết học tự nhiên và Triết học tinh thần

2 “Bách khoa toàn thư các khoa học triết học”- Hệ thốn g triết học Hêghen:

a “Khoa học lôgích ” – nghiên cứu ý niệm tuyệt đối trong giai đoạn sơ kh ai (trong chính nó):

Trang 6

Là tác phẩm quan trọng nhất của hệ thống triết học Hêghen, “Khoa học lôgích” nghiên cứu ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn s ơ khai, nhưng lại là xuất phát điểm của hệ thống Khi vạch ra những hạn chế của lôgích học cũ là: chỉ nghiên cứu tư duy chủ quan trong phạm vi ý thức cá nhân mà không chỉ ra được ranh giới giữa lôgích học v ới các ngành khoa học khác cùng nghiên cứu tư duy, chỉ dựa trên những phạm trù bất động, tách rời hình thức ra khỏi nội dung của nó Hêghen khởi thảo một lôgích học mới giúp vạch ra bản chất đích thực của tư duy và đóng vai trò như một phương pháp luận triết học làm cơ sở cho mọi khoa học

Lôgí ch học là gì?

Hêghen coi lôgích học là khoa học về những phạm trù và quy luật của tư duy,

nhưng tư duy mà lôgích học nghiên cứu là tư duy thuần tú y, tức ý niệm tuyệt đối

trong chính nó hay Thượng đế Theo Hêghen, lôgích học g iúp thể hiện Thượng đế trong bản chất vĩnh hằng của Ngài trước khi sáng tạo ra giới tự nhiên và các tinh thần hữu hạn khác, trong đó có tư duy con người Tư duy con người chỉ là một giai đoạn phát triển cao của ý niệm tuyệt đối, qua đó ý niệm tuyệt đối có khả năng ý thức được bản thân mình Khi xác định bản tính khách quan như thế của tư duy, Hêghen co i giới

tự nhiên chỉ là tư duy khách quan vô thức, tư duy thể hiện dưới dạng các s ự vật, để phân biệt với tư duy con người là tư duy khách quan có ý thức

Tóm lại, theo Hêghen, trong tư duy mọi cái đối lập (vật chất - tinh thần, khách thể - chủ thể, tư tưởng - hiện thực ) đều thống nhất Lôgích học nghiên cứu tư duy

như thế phải là một hệ thống siêu hình học Lôgích học - Siêu hình học của Hêghen

được xây dựng dựa trên luận điểm C ái gì hợp lý thì hiện thực và cái gì hiện thực

thì hợp lý

Trên bình diện triết học, luận điểm này tiếp tục khẳng định sự tồn tại ý niệm tuyệt đối, khẳng định các phạm trù lôgích không chỉ là hình thức chủ quan mà còn thể hiện cả bản chất, nội dung khách q uan và triết lý không phải là điều hoang tưởng Đồng thời, nó cũng khẳng định sự thống nhất giữa tư tưởng và hiện thực, tư duy và tồn tại là một quá trình phát triển biện chứng

Hiện thực ở đây là tồn tại trong tính tất yếu, phù hợp với quy luật phát triển, chứ không phải là hiện thực sơ cứng, không phải là tồn tại nói chung Khi tư duy là

Trang 7

một quá trình biện chứng như thế, thì mọi phạm trù, quy luật của nó cũng sinh động, uyển chuyển, liên hệ, chuyển hóa, vận động, phát triển theo các quy luật biện chứng

Vậy, phép biện chứng phải là một linh hồn uyển chuyển của lôgích học; và

lôgích học phải là một cơ thể s ống động, chứ không phải là tổng những phạm trù sơ cứng Do là một cơ thể sống động nên lôgích học luôn đào thải những phạm trù không thể hiện bản chất s ống động của tư duy, đồng thời trang bị cho con người một phong cách tư duy biện chứng để khám phá ra chân lý, để đi đến tự do

Những nguyên tắc để xây dựng lôgí ch học – nghị ch lý về s ự ph át triển

Tư tưởng xuyên suốt để xây dựng lôgích học là nghịch lý về sự phát triển Nghịch lý này nói rằng, phát triển là quá trình vận động tiến lên phía trước, nhưng nó cũng chính là s ự quay trở về điểm khởi đầu Tư tưởng đồng nhất cái khởi đầu và cái cuối cùng của h ệ thống phát triển được Hêghen hiểu: cái khởi đầu là cái cuối cùng (của hệ thống phát triển) dưới dạng tiềm tàng Cái cuối cùng ch ính là cái khởi đầu (của hệ thống phát triển) đã được khai triển đầy đủ Vì vậy, việc xác định cái khởi đầu

là có ý nghĩa rất quan trọng Do nhận thức rõ điều này mà cái khởi đầu đã được

Hêghen xác định dựa trên một loạt các nguyên tắc s au đây:

Một là, nguyên tắc về tính kh ách quan đòi hỏi cái khởi đầu phải là cái khách

quan, nghĩa là nó được xác định không dựa vào s ự ưa thích của nhà nghiên cứu

Hai là, nguyên tắc đi từ trừu tượn g đến cụ thể trong tư duy, từ đơn giản đến phức tạp đòi hỏi cái khởi đầu phải là cái đơn giản nhất, trừu tượng nhất, để phù hợp

với xu thế phát triển tiến lên của quá trình nhận thức

Ba là, nguyên tắc mâu thuẫn đòi hỏi cái khởi đầu phải ch ứa đựng mâu thuẫn

cơ bản của toàn bộ hệ thống Bởi vì, nếu không chứa mâu thuẫn cơ bản thì cái khởi đầu không thể phát triển thành hệ thống và cái cuối cùng không phải là cái khởi đầu được khai triển đầy đủ

Bốn là, ngu yên tắc thống nh ất tính lôgích với tính lịch sử đòi hỏi cái khởi

đầu vừa là cái lịch s ử đầu tiên vừa là cái lôgích tất yếu; b ởi vì, phát triển không chỉ xảy ra theo trình tự thời gian mà còn là quá trình kế thừa, vượt bỏ những cái ngẫu nhiên để liên tục tiến lên

Trang 8

Kết cấu của “Khoa học lôgích” - Phép biện chứn g du y tâm

Tác phẩm “Khoa học lôgích” được Hêghen xây dựng dựa trên các nguyên tắc trên Qua tác phẩm này Hêghen cố vạch rõ linh hồn uyển chuyển của lôgích học - phép biện chứng Khoa học lôgích của ông bao gồm ba phần, mỗi phần nghiên cứu một trong ba giai đoạn tương ứng của tư duy thuần túy trong chính nó Đó là học thuyết về tồn tại, học thuyết về bản chất và học thuyết về khái niệm

Trong h ọc thuyết về tồn tại, Hêghen vạch ra tính quy định lẫn nhau giữa

lượng và chất Những thay đổi liên tục về lượng sẽ dẫn đến những biến đổi gián đoạn

về chất và ngược lại Sự quy định này nói lên cách thức tồn tại của s ự vật (khái niệm) Theo Hêghen, tồn tại xuất phát không phải là tồn tại hiện hữu mà là tồn tại thuần túy, nghĩa là tồn tại ở một phương diện nhất định và được đồng nhất với hư vô, tồn tại dẫn đến sinh thành Quá trình chuyển từ tồn tại thuần túy s ang sinh thành là s ự thống nhất giữa chất, lượng trong độ Chất là tính quy định bên trong của s ự vật Lượng là tính quy định bên ngoài của nó Độ là sự thống nhất của chất và lượng với nhau trong sự vật để sự vật là nó Khi lượng của s ự vật thay đổi vượt quá độ, tức qua điểm nút thì chất này chuyển thành chất khác, tức bước nhảy xảy ra

Trong học thuyết về bản chất, Hêghen bàn về bản chất - hiện tượng - hiện

thực, nghĩa là bàn về s ự tự vận động phát triển của các phạm trù: đồng nhất - khác biệt, đối lập – mâu thuẫn, bản chất – hiện tượng, nội dung – hình thức, nguyên nhân – kết quả, khả năng – hiện thực Ông vạch ra sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của mọi s ự vận động, phát triển của s ự vật (khái niệm) Khi nghiên cứu quá trình vận động, phát triển của khái niệm, ông cho rằng, trong bản thân khái niệm vốn có sẵn cái khác biệt được sinh ra từ cái đồng nhất Lúc đầu là khác biệt nhỏ, do tích lũy dần dẫn đến khác biệt cơ bản (đối lập); từ đây mâu thuẫn hình thành và phát triển dẫn đến chuyển hóa

Trong học thuyết về khái niệm, Hêghen bàn về sự tự vận động phát triển của

ý niệm tuyệt đối thông qua các h ình thức tồn tại chủ quan của nó như khái niệm – phán đoán – suy luận, bàn về thực tiễn, về chân lý hay ý niệm – sự thống nhất giữa khái niệm và thực tiễn Ông vạch ra con đường phát triển của khái niệm theo xu

Trang 9

hướng phủ định của p hủ định, nghĩa là khái niệm phát triển theo đường xoắn ốc Hêghen cho rằng khái niệm không bất động mà nó phải trải qua các giai đoạn khác nhau của quá trình nhận thức Đó là giai đoạn trực quan cảm tính với cảm giác, tri giác, biểu tượng và giai đoạn lý tính với khái niệm, phán đoán, suy lý Do khái niệm luôn luôn biến đổi mà phán đoán được xây dựng trên khái niệm ngày càng sâu sắc hơn và suy lý được xây dựng trên phán đoán ngày càng sáng tạo, năng động hơn

Như vậy, toàn bộ “Khoa học lôgích” thể hiện quá trình tự thân vận động phát

triển của ý niệm tuyệt đối trong chính nó và cho nó Đầu tiên, ý niệm tuyệt đối tự tha hóa chính mình trong tồn tại của mình để tự đem đến cho mình một nội dung Sự vận động tiếp theo cho phép ý niệm tuyệt đối khám phá thấy mình trong bản chất, và sau cùng nó quay về với chính mình trong ý niệm, nghĩa là trở về cái ban đầu

Vận động trở về cái khởi đầu cũng là tiến lên phía trướ c là tư tưởng chỉ

đạo xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống Hêghen Luận điểm này không chỉ nói lên bản chất duy tâm mà còn vạch rõ linh hồn biện chứng của toàn bộ triết học Hêghen

Qua các học thuyết về tồn tại, bản chất và kh ái niệm, Hêghen đã trình bày

một cách xúc tích, nhưng đầy đủ và rõ ràng các luận điểm cơ bản của p hép biện

chứng Phép biện chứng – linh hồn của lôgích học Hêghen là phép biện chứng của

khái niệm , nó khẳng định những luận điểm tổng quát s au:

Một là, m ỗi khái niệm đều nằm trong m ối quan hệ, liên hệ với những khái niệm khác và làm “ trung giới” cho nhau

Hai là, m ỗi khái niệm đều có m ối liên hệ nội tại, đều chứa đựng mâu thuẫn nội tại, chúng thâm nhập lẫn nhau

Ba là, mỗi khái niệm đều phải trải qua m ột quá trình không ngừng vận động, phát tr iển và chuyển hóa qua lại lẫn nhau

Như vậy, mọi nội dung cốt lõi của phép biện chứng đã được Hêghen bao quát

hết trong Khoa học lôgích của mình Xét về bản chất, phép biện chứng khái niệm của Hêghen là phép biện chứng duy tâm Do bản tính duy tâm nên phép biện chứng này

đầy tính tư biện, không triệt để và chứa nhiều yếu tố thần bí Hêghen bắt nó phải dừng lại trong hệ thống của mình và trong khuôn khổ Nhà nước Phổ…

Trang 10

Tư duy biện chứng

Hêghen hiểu sự phát triển của lôgích học nói chung, tư duy - đối tượng của nó nói riêng, là một quá trình biện chứng Tương ứng với việc phân chia lịch s ử phát triển của lôgích học – cũng chính là triết học ra làm ba thời kỳ: thời kỳ trước Căntơ, thời kỳ Căntơ – Phíchtơ, thời kỳ hiện tại (Hêghen) là ba giai đoạn phát triển của tư duy: giác tính, lý tính biện chứng, lý tính tư biện

Giác tính là kiểu tư duy thông thường, mang nặng tính trực quan cảm tính,

được s ử dụng nhờ vào các phạm trù bất động, sơ cứng, dựa trên việc khẳng định tính tĩnh tại của thế giới

Lý tính biện ch ứng là kiểu tư duy dựa trên cơ s ở phát triển của khái niệm,

được s ử dụng nhờ vào các khái niệm phạm trù uyển chuyển, thay đổi, dựa trên việc khẳng định mọi sự vật (cái hiện hữu) đều phải đứng trước “tòa án” của s ự thay đổi

Lý tính tư bi ện là kiểu tư duy dựa trên cơ s ở thống nhất giác tính với lý tính

biện chứng, được s ử dụng nhờ vào việc xe m xét s ự vật trong sự thống nhất và đấu tranh của những cái đối lập; nó là kiểu tư duy biện chứng chín mùi

b “Triết học tự nhiên” – nghiên cứu giai đoạn tha hóa của ý niệm tuyệt đối dưới dạn g các sự vật vật chất”:

Đây là học thuyết về giới tự nhiên với tính cách là một dạng tồn tại khác của ý niệm tuyệt đối dưới dạng các sự vật vật chất Hêghen không giải thích ý niệm tuyệt đối chuyển từ chính nó sang giới tự nhiên như thế nào và khi nào, mà chỉ nói rằng ý niệm tuyệt đối tồn tại bên ngoài thời gian và giới tự nhiên cũng không có khởi đầu trong thời gian Hêghen cho rằng, quá trình hình thành giới tự nhiên từ ý niệm tuyệt đối đồng thời cũng là quá trình ý niệm tuyệt đối ngày càng biểu hiện ra thành giới tự nhiên diễn ra liên tục Thế giới đã được tạo ra, hiện đang được tạo ra và sẽ vĩnh viễn được tạo ra

Những hình thức chủ yếu của ý niệm tuyệt đối tồn tại dưới dạng giới tự nhiên

là cơ học, vật lý học, s inh thể học Khi luận về cơ học, Hêghen trình bày những vấn

đề về không gian, thời gian, vật chất, vận động, lực h ấp dẫn vũ trụ… theo tinh thần duy tâm, thậm chí còn mang màu sắc siêu hình Khi bàn về vật lý học, Hêghen trình

Trang 11

bày các vấn đề về thiên thể, ánh sáng, nhiệt Và khi nói đến sinh thể học, Hêghen trình bày các vấn đề về địa chất học, thực vật học, động vật học

Hêghen cố gắng trình bày giới tự nhiên như một chỉnh thể thống nhất mà trong

nó, mọi vật có liên hệ hữu cơ với nhau Tuy nhiên, do coi giới tự nhiên là s ự tha hóa của ý niệm tuyệt đối, mà ông cho rằng, bản thân giới tự nhiên thụ động, không tự vận động, không biến đổi, không phát triển theo thời gian mà chỉ vận động trong không gian Ở đây, nhiều chỗ nhà biện chứng lại tỏ ra tư biện và bất chấp khoa học; vì vậy, Triết học tự nhiên là bộ phận yếu nhất trong toàn bộ hệ thống triết học của ông

c “Triết học tinh thần” – nghiên cứu giai đoạn khắc phục sự tha hóa củ a ý niệm tuyệt đối:

Đây là phần thứ ba trong hệ thống Hêghen Tại đây, ông xem xét ý niệm tuy ệt đối ở giai đoạn cuối cùng trên con đường diễu hành nơi trần gian, từ bỏ giới tự nhiên, khắc phục s ự tha hóa, quay về lại chính mình như thế nào Triết học tinh thần bao gồm học thuyết về tinh thần chủ quan, học thuyết về tinh thần khách quan và học thuyết về tinh thần tuyệt đối

Tinh thần chủ quan thể hiện s ự tồn tại của mình trước hết trong linh hồn con

người (nhân loại học) Sau đó, nó thể hiện trong ý thức (hiện tượng học) để phân biệt với cơ thể và sau cùng, nó thể hiện trong tri thức (tâm lý học) - cái tinh thần bắt thế giới bên ngoài phục tùng nó

Tinh thần khách quan là s ự phủ định biện chứng tinh thần chủ quan Nó thể

hiện tính tự do của ý niệm tuyệt đối trước h ết trong pháp quyền Nó lấy tự do ý chí làm nền tảng, lấy ý niệm pháp quyền và việc thực hiện pháp quyền làm đối tượng Khi cá nhân pháp lý trở thành chủ thể đạo đức thì tinh thần khách quan tự phát triển vào lĩnh vực đạo đức Đạo đức là pháp quyền của hành vi, nó lấy sự hòa hợp hành vi của các chủ thể làm cơ sở Tinh thần khách quan hoàn thành quá trình tự phát triển trong phong hóa Phong hóa là s ự thể hiện bản tính tự do của ý niệm tuyệt đối trong các hình thức thể hiện là gia đình, xã hội công dân và nhà nước, trong đó, nhà nước là hình thức cao nhất

Tinh thần tuyệt đối là s ự thống nhất của tinh thần chủ quan và tinh thần khách

Ngày đăng: 30/08/2014, 03:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w