1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN TRIẾT PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM CỦA HÊGHEN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC

16 839 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 78,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN TRIẾT PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM CỦA HÊGHEN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC Sự ra đời của triết học Mác là tổng hợp biện chứng của toàn bộ quá trình phát triển của tư tưởng triết học của nhân loại. Nó là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật và của phép biện chứng. Tiền đề lý luận trực tiếp cho sự ra đời của triết học Mác là triết học cổ điển Đức mà tiêu biểu là triết học Hêghen và triết học Phoiơbắc.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Đề tài số 10:

PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM CỦA HÊGHEN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC

Học viên TH : NGUYỄN T HỒNG MINH

TP.HCM, tháng 12 năm 2012

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Sự ra đời của triết học Mác là tổng hợp biện chứng của toàn bộ quá trình phát triển của tư tưởng triết học của nhân loại Nó là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật và của phép biện chứng Tiền đề lý luận trực tiếp cho sự ra đời của triết học Mác là triết học cổ điển Đức mà tiêu biểu là triết học Hêghen và triết học Phoiơbắc

Khi xây dựng hệ thống triết học duy tâm khách quan, Hêghen đã trình bày đầy đủ và chặt chẽ hệ thống các tư tưởng biện chứng theo tinh thần duy tâm Xuất phát từ quá trình tự vận động phát triển của “ý niệm tuyệt đối”, Hêghen đã triển khai những quy luật và các phạm trù của phép biện chứng C.Mác và Ph.Ăngghen đã triệt để phê phán tính chất duy tâm, thần bí trong triết học Hêghen nhưng đồng thời cũng đánh giá cao tư tưởng biện chứng của ông “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng

nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó” Bằng thiên tài của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cải tạo triệt để phép biện chứng duy tâm thành phép biện chứng duy vật để nó đóng vai trò công cụ tinh thần nhận thức các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy con người

Trong quá trình thực hiện bài tiểu luận : “Phép biện chứng duy tâm của Hêghen

và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác”, do giới hạn nhận thức nên

không tránh khỏi các thiếu sót Mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy và các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Nguyễn Thị Hồng Minh

Trang 3

CHƯƠNG I: BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC HÊ – GHEN

1 Điều kiện lịch sử ra đời, phát triển triết học phương Tây thời cận đại:

Thế kỷ XVII – XVIII (thời cận đại), phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triển mạnh mẽ dẫn đến sự xuất hiện và phát triển nhiều mâu thuẫn trong khác các lĩnh vực đời sống xã hội Sự phân hóa và xung đột trong lĩnh vực kinh tế kéo theo sự phân hóa và xung đột trong lĩnh vực xã hội đã làm nảy sinh những xung đột và mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị và tinh thần Những xung đột và mâu thuẫn này đã làm nổ ra các cuộc cách mạng tư sản trên khắp các nước Tây Âu như ở Hà Lan (1560 – 1570), ở Anh (1642 – 1648) , đặc biệt là ở Pháp (1789 – 1794) – một cuộc cách mạng khá toàn diện và rất triệt để đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ phong kiến, xác lập chế độ cộng hòa tư sản Các cuộc cách mạng đã đưa giai cấp tư sản lên vũ đài quyền lực chính trị, tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho sự thống trị của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Để phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thống trị một cách vững chắc, nền thống trị tư sản không thể không cần đến sự phát triển của khoa học mới – khoa học giúp khám phá,làm chủ và khai thác giới tự nhiên

Lúc bấy giờ, các nước phương Tây đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ về khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên Các thành tựu này đã tạo tiền đề cho sự xem xét thế giới một cách biện chứng

2 Triết học cổ điển Đức:

Triết học Tây Âu thời kỳ này là một cuộc đấu tranh của các trào lưu, khuynh hướng, trường phái triết học khác nhau trong bối cảnh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời và tự khẳng định mình, trong sự hiện thực hóa vai trò thống trị của giai cấp tư sản Thế giới quan duy vật máy móc, nhân sinh quan nhân đạo tư sản và phương pháp luận siêu hình thể hiện rất rõ trong quan điểm của các trào lưu, khuynh hướng, trường phái triết học xung đột nhau lúc bấy giờ Cuối thời cận đại, khi tiếp tục đào sâu nhân sinh quan nhân đạo tư sản, khắc phục thế giới quan duy vật máy

Trang 4

móc và phương pháp luận siêu hình của các trường phái triết học đầu thời cận đại đã xuất hiện Triết học cổ điển Đức – giai đoạn bản lề của triết học phương Tây nối thời kỳ cận đại với thời kỳ hiện đại

Triết học cổ điển Đức đã tiếp tục phát huy truyền thống duy lý của phương Tây, khôi phục lại quan niệm coi triết học là khoa học của mọi khoa học Các triết gia ra sức xây dựng hệ thống triết học vạn năng, bao trùm mọi lĩnh vực hoạt động của con người để làm cơ sở cho những hoạt động đó Đối với Hêghen, triết học thật sự phải

là lôgích học, còn đối với Phoiơbắc, đó là nhân bản học Tuy nhiên, do cố khắc phục những hạn chế siêu hình và máy móc trong nền triết học duy vật thế kỷ XVII – XVIII mà triết học cổ điển Đức lại rơi vào chủ nghĩa duy tâm, thần bí Họ cho rằng tính biện chứng sống động chỉ là bản tính của cái tinh thần, còn bản thân giới tự nhiên thì phi biện chứng Dù vậy họ vẫn biết tiếp thu những tư tưởng biện chứng quý báu trong di sản triết học truyền thống của nhân loại, phát triển thêm và xây dựng được phép biện chứng như một học thuyết triết học về mối liên hệ phổ biến và

về sự phát triển xảy ra trong thế giới Triết học cổ điển Đức đề cao vai trò tích cực của con người với tính cách là chủ thể của mọi hoạt động cải tạo thế giới – khách thể; và khảo sát khách thể gắn liền với hoạt động thực tiễn của chủ thể – con người Song, do quan điểm duy tâm chi phối mà nhiều triết gia của nền triết học này hiểu thực tiễn chỉ là hoạt động sáng tạo của ý thức, đồng thời tuyệt đối hóa ý thức, biến ý thức thành một lực lượng siêu nhiên có năng lực sáng tạo kỳ vĩ Vì vậy, triết học của

họ mang tính duy tâm – thần bí Triết học cổ điển Đức là cơ sở thế giới quan, là nền tảng ý thức hệ của giai cấp tư sản Đức cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX vốn yếu

về kinh tế, nhược về chính trị, nhưng có đời sống văn hóa tinh thần khá phong phú, sống trong một xã hội mà tàn tích phong kiến còn quá nặng nề

Trào lưu triết học thống trị trong giai đoạn này là chủ nghĩa duy vật siêu hình – máy móc Tuy nhiên, sau đó chủ nghĩa duy vật siêu hình – máy móc lại bộc lộ những

Trang 5

nhược điểm yếu kém của mình trong quá trình phát triển tư duy lý luận Vì vậy, phép biện chứng duy tâm đã ra đời thay thế

3 Triết học Hêghen:

Friedrich Hégel (1770 – 1831) sinh ra trong một gia đình quan chức cao cấp ở thành phố Stuttgart Do chịu ảnh hưởng bởi Senlinh mà Hêghen say sưa nghiên cứu triết học, và ông đã trở thành nhà triết học – bác học vĩ đại nhất, người hoàn chỉnh nền triết học duy tâm biện chứng cổ điển Đức, bậc tiền bối của triết học Mác Hêghen đã

để lại cho nhân loại một di sản triết học đồ sộ và rất có giá trị Các tác phẩm chính

của ông là Hiện tượng luận tinh thần, Bách khoa toàn thư các khoa học triết học (gồm 3 quyển : Khoa học lôgích, Triết học tự nhiên và Triết học tinh thần)

Các tác phẩm của Hêghen là sách giáo khoa được mọi người thừa nhận và được nâng lên địa vị triết học nhà nước của vương quốc Phổ Hêghen có một luận điểm nổi tiếng “Tất cả cái gì là hiện thực, đều là hợp lý, và tất cả cái gì là hợp lý, đều là hiện thực” Tuy nhiên, theo Hêghen thì tuyệt nhiên không phải tất cả những gì hiện đang tồn tại cũng đều là hiện thực mà thuộc tính hiện thực chỉ thuộc về những gì đồng thời là tất yếu: “Tính hiện thực, trong sự phát triển của nó, tự biểu lộ ra như là tính tất yếu”

Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan

hệ giữa tư duy với tồn tại, xem cái nào có trước, tinh thần hay tự nhiên? Cách giải đáp vấn đề ấy đã chia các nhà triết học thành hai phe lớn Hêghen và những người thuộc phe chủ nghĩa duy tâm quả quyết rằng tinh thần có trước tự nhiên, thừa nhận rằng thế giới được sáng tạo ra bằng cách nào đó Còn những người cho rằng tự nhiên

là cái có trước thì thuộc các học phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật

Song vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại còn có một mặt khác: những suy nghĩ của chúng ta về thế giới xung quanh ta có quan hệ như thế nào với bản thân thế giới ấy? Tư duy của chúng ta có thể nhận thức được thế giới hiện thực không? Trong các

Trang 6

quan niệm và các khái niệm của chúng ta về thế giới hiện thực, chúng ta có thể phản ánh được một hình ảnh đúng đắn của hiện thực không? Theo ngôn ngữ triết học, vấn

đề đó được gọi là vấn đề tính đồng nhất giữa tư duy và tồn tại Tuyệt đại đa số các nhà triết học trả lời vấn đề đó một cách khẳng định Ở Hêghen, sự khẳng định đó tự

nó đã rõ ràng: trong thế giới hiện thực, cái mà chúng ta nhận thức được chính là nội dung mang tính chất ý thức, chính là những gì mà nhờ đó thế giới thành ra sự thực hiện dần dần ý niệm tuyệt đối, ý niệm tuyệt đối này đã tồn tại ở đâu đó, vĩnh viễn từ trước tới nay, độc lập đối với thế giới và có trước thế giới Nhưng hoàn toàn rõ ràng

là tư duy có thể nhận thức được một nội dung mà ngay từ trước đã là nội dung của

tư tưởng Hêghen rút ra chứng minh của ông về tính đồng nhất giữa tư duy và tồn tại Vì có tính đồng nhất giữa tư duy và tồn tại nên loài người hoàn toàn có khả năng cải tạo toàn bộ thế giới theo những nguyên lý của Hêghen

CHƯƠNG II: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM CỦA HÊGHEN

Hêghen là một nhà biện chứng lỗi lạc Phép biện chứng của ông là một tiền đề lý luận quan trọng của triết học Mácxit Triết học của ông có ảnh hưởng rất mạnh đến

tư tưởng của nước Đức và cả châu Âu đương thời, triết học của ông gọi là “tinh thần Phổ” Hêghen xây dựng nên phép biện chứng một cách có hệ thống trên lập trường duy tâm khách quan

Hêghen đã có công lao trong việc phê phán tư duy siêu hình và ông là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, nghĩa là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng Ông khẳng định phép biện chứng là nguyên tắc của mọi vận động, mọi sự sống và mọi hoạt động trong phạm vi hiện thực; cái biện chứng là linh hồn của mọi nhận thức khoa học Như vậy, theo Hêghen, hiện thực không phải là tồn tại nói chung, mà là tồn tại trong tính tất yếu của nó, đó là hiện thực trong sự phát triển

1 Nội dung phép biện chứng duy tâm của Hêghen:

Trang 7

Hệ thống triết học của Hêghen được trình bày chính trong 2 tác phẩm là Hiện tượng

luận tinh thần và Bách khoa toàn thư các khoa học triết học Trong Hiện tượng luận tinh thần, ông nêu lên những nền tảng của một triết học mới Còn trong Bách khoa toàn thư các khoa học triết học, ông trình bày một cách chi tiết toàn bộ nội dung Hệ

thống triết học mới của mình

Trong Hiện tượng luận tinh thần , Hêghen nêu bốn nền tảng của triết học mới: thừa

nhận tồn tại ý niệm tuyệt đối; thừa nhận sự phát triển của ý niệm tuyệt đối; thừa nhận ý thức của con người là sản phẩm của lịch sử; và quan điểm triết học là học thuyết về ý niệm tuyệt đối Hêghen thừa nhận có ba hình thức thể hiện ý niệm tuyệt đối trên trần gian là nghệ thuật, tôn giáo và triết học Trong đó, triết học là hình thức thể hiện cao nhất, trọn vẹn và đầy đủ nhất ý niệm tuyệt đối Triết học và lịch sử triết học thống nhất với nhau như là sự thống nhất giữa cái lôgích và cái lịch sử Vì vậy triết học phải bao trùm toàn bộ lịch sử phát triển của ý niệm tuyệt đối Theo quan điểm này thì triết học Hêghen – khoa học về ý niệm tuyệt đối – được chia thành ba

bộ phận là : khoa học lôgích, triết học tự nhiên, triết học tinh thần Ba bộ phận này ứng với ba giai đoạn phát triển của ý niệm tuyệt đối là : ý niệm tuyệt đối trong chính nó; ý niệm tuyệt đối trong sự tồn tại khác của nó (tự tha hóa); ý niệm tuyệt đối khắc phục sự tự tha hóa quay về với nó

Những luận điểm về phép biện chứng của triết học Hêghen được thể hiện rõ nhất và sâu sắc nhất trong lôgích học

a / Khoa học lôgích là bộ môn khoa học nghiên cứu về tư duy Hêghen phê phán

lôgích cũ chỉ nghiên cứu tư duy trong trạng thái bất biến, cô lập, không sinh thành, không biến đổi và không phát triển Hêghen khởi thảo một lôgích học mới giúp vạch

ra bản chất đích thực của tư duy và đóng vai trò như một phương pháp luận triết học làm cơ sở cho mọi khoa học Luận điểm xuyên suốt toàn bộ lôgích học là “cái gì hợp

lý thì hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp lý” Luận điểm này của Hêghen khái quát nguyên lý xuất phát điểm và nền tảng của toàn bộ hệ thống triết học, khẳng định tinh

Trang 8

thần và vật chất, chủ thể và khách thể trên cơ sở duy tâm, nó khẳng định sự thống nhất tư duy – tồn tại, tư tưởng và hiện thực là cả một quá trình biện chứng Theo Hêghen, trong tư duy mọi cái đối lập (vật chất – tinh thần, khách thể – chủ thể, tư tưởng – hiện thực ) đều thống nhất Khi tư duy là một quá trình biện chứng thì mọi phạm trù, quy luật của nó cũng sinh động, uyển chuyển , liên hệ, chuyển hóa, vận động, phát triển theo các quy luật biện chứng

Phép biện chứng phải là một linh hồn uyển chuyển của lôgích học và lôgích học phải là một cơ thể sống động, chứ không phải là tổng những phạm trù xơ cứng Những nguyên lý cơ bản xác định điểm khởi đầu khoa học lôgích bao gồm: tính khách quan (không được coi xuất phát điểm một cách tùy tiện theo ý muốn chủ quan của mình mà phải tuân theo tính khách quan tùy thuộc vào từng đối tượng nghiên cứu một cách cụ thể); nguyên tắc đi từ trừu tượng đến cụ thể trong tư duy, từ đơn giản đến phức tạp; điểm khởi đầu phải là điểm xuất phát có khả năng phát triển thành toàn bộ hệ thống (chứa đựng mâu thuẫn giữa tinh thần và vật chất); sự thống nhất giữa tính lịch sử và tính lôgích trong việc xác định điểm khởi đầu (cái khởi đầu vừa là cái lịch sử đầu tiên vừa là cái lôgích tất yếu)

Kết cấu của lôgích học và phép biện chứng duy tâm:

Hêghen vạch rõ linh hồn uyển chuyển của lôgích học là phép biện chứng Tư duy biện chứng trong lôgích học bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

-Trong học thuyết về tồn tại, Hêghen vạch ra tính quy định lẫn nhau giữa lượng và chất Những chuyển hoá về lượng sẽ dẫn tới những biến đổi về chất và ngược lại; -Trong học thuyết về bản chất, Hêghen bàn về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập với tư cách là nguồn gốc và động lực của sự phát triển Khi nghiên cứu các nguyên tắc này, Hêghen đã giải quyết một cách biện chứng mối liên hệ chuyển hoá giữa bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực, nguyên nhân và kết quả -Trong học thuyết về khái niệm, Hêghen vạch ra con đường phát triển của khái niệm

Trang 9

theo xu hướng phủ định của phủ định với tính cách là sự phát triển diễn ra theo hình thức xoáy ốc Khi lý giải nguyên tắc này, Hêghen đã giải quyết một cách biện chứng mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa lôgích và lịch sử

Như vậy, toàn bộ khoa học lôgích thể hiện quá trình tự thân vận động của ý niệm tuyệt đối trong chính nó và cho nó Vận động để trở về cái khởi đầu cũng là tiến lên phía trước là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống Hêghen Luận điểm này nói lên bản chất duy tâm và vạch rõ linh hồn biện chứng của toàn bộ triết học Hêghen

Luận điểm cơ bản của phép biện chứng khái niệm:

Mỗi khái niệm đều nằm trong mối quan hệ, liên hệ với những khái niệm khác và làm

“trung giới” cho nhau Mỗi khái niệm đều có mối liên hệ nội tại, đều chứa đựng mâu thuẫn nội tại, chúng thâm nhập lẫn nhau Mỗi khái niệm đều phải trải qua một quá trình không ngừng vận động, phát triển và chuyển hóa qua lại lẫn nhau

Về bản chất, phép biện chứng khái niệm của Hêghen là phép biện chứng duy tâm

Do bản tính duy tâm nên phép biện chứng này đầy tính tư biện, không triệt để và chứa nhiều yếu tố thần bí Do đứng trên lập trường duy tâm khách quan, Hêghen cho rằng đời sống xã hội và lịch sử diễn ra là sự tha hoá của ý niệm tuyệt đối Và một khi giới tự nhiên và lịch sử nhân loại đã đạt tới sự hoàn thiện, hoàn mỹ nhất thì khi

đó giới tự nhiên không vận động và phát triển về mặt thời gian mà chỉ vận động về mặt không gian Đến đây, những tư tưởng biện chứng của ông lại bị giới hạn bởi quan điểm siêu hình vì ông cho rằng sự phát triển có tận cùng

b/ Triết học tự nhiên, là sự nghiên cứu lý luận giới tự nhiên được hiểu như tồn tại

khách quan của tinh thần hay sự tồn tại của tinh thần dưới dạng các sự vật vật chất, thế giới là một chỉnh thể thống nhất trong đó mọi sự vật đều có mối liên hệ hữu cơ với nhau, không ngừng vận động và phát triển, tuy nhiên, Hêghen chỉ xem xét thế

Trang 10

giới tự nhiên trên quan điểm duy tâm và đây là bộ phận yếu nhất trong toàn bộ hệ thống triết học của ông Hêghen chia triết học tự nhiên thành ba phần: thế giới cơ học (nghiên cứu các phạm trù không gian, thời gian, vật chất, vận động ); thế giới vật lý học (nghiên cứu vật thể của vũ trụ, về ánh sáng, về nhiệt, về các quá trình hóa học…); thế giới các cơ thể sinh học, địa chất học, động vật học…

c/ Triết học tinh thần: Hêghen xem xét ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn cuối cùng trên

con đường diễu hành nơi trần gian, từ bỏ giới tự nhiên, khắc phục sự tha hóa, quay

về lại chính mình như thế nào Triết học tinh thần bao gồm ba phần: tinh thần chủ quan; tinh thần khách quan và tinh thần tuyệt đối là sự thống nhất của tinh thần chủ quan và tinh thần khách quan

Tư tưởng về mối liên hệ phổ biến – mọi cái đều liên hệ lẫn nhau và tư tưởng về sự phát triển – quá trình phủ định biện chứng là mạch suối ngầm thấm chảy qua toàn bộ

hệ thống triết học Hêghen Hêghen đã trình bày nhiều vấn đề quan trọng của phép biện chứng, đặc biệt là về mâu thuẫn Ông coi mâu thuẫn là phổ biến, là nguồn gốc

và cơ sở của vận động, là nguyên lý của sự phát triển Ông khẳng định: “Tất cả mọi vật đều có tính chất mâu thuẫn trong bản thân nó Mâu thuẫn là nguồn gốc của tất

cả mọi vận động và của tất cả mọi sức sống, chỉ trong chừng mực một vật chứa đựng trong bản thân nó một mâu thuẫn, thì nó mới vận động, phải có xung lực và hoạt động”

Phát triển được Hêghen hiểu như một chuỗi các hành động phủ định biện chứng, trong đó, cái mới liên tục thay thế cái cũ, nhưng đồng thời kế thừa những yếu tố hợp

lý của cái cũ, là quá trình thay đổi thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp, chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, bằng cách chuyển qua lại giữa Lượng và Chất, do sự giải quyết những mâu thuẫn trong các hình thức cụ thể của ý niệm tuyệt đối tạo nên

Từ việc phân tích quá trình tự vận động của ý niệm tuyệt đối, Hêghen đã trình bày một cách xúc tích, nhưng đầy đủ và rõ ràng các luận điểm cơ bản của phép biện chứng Phép biện chứng là một linh hồn uyển chuyển của lôgích học; và lôgích học

Ngày đăng: 18/11/2014, 13:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w