1.2. Sơ lược về triết học Hêghen Georg Wilhelm Friedrich Hegel, sinh ngày 27 tháng 8 năm 1770, mất năm 1831. Hêghen sinh tại Stuttgart vào ngày 2781770, là con trai của Georg Ludwig Hêghen, một nhân viên hải quan thuộc lãnh địa công tước của Wurttemburg. Là anh cả trong số ba đứa con (em trai ông, Georg Ludwig, sớm qua đời lúc là một sĩ quan trong quân đội Napoleon trong chiến dịch Nga), ông được nuôi dưỡng trong một môi trường Tin Lành ngoan đạo. Mẹ ông dạy ông tiếng Latinh trước khi ông tới trường, nhưng bà đã mất khi ông lên 11. Ông rất gắn bó với chị mình, Christiane, sau này bà thường gây nên những ghen tỵ thất thường trong vợ của ông khi ông kết hôn vào độ tuổi 40 và đã tự vẫn ba tháng sau cái chết của ông. Hêghen phải bận tâm rất nhiều đến chứng rối loạn thần kinh của chị ông và phát triển những ý tưởng về tâm thần học dựa trên những khái niệm biện chứng.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
Học phần Triết học Mác- Lênin - Khóa QH- 2017- X
Hà Nội 07/2017
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
1 Tư tưởng triết học Hêghen 3
1.1 Điều kiện lịch sử 3
1.2 Sơ lược về triết học Hêghen 4
1.2.1 Hệ thống triết học duy tâm của Hêghen 7
1.2.2 Triết học tự nhiên 10
1.2.3 Quan điểm về xã hội của Hêghen 10
2 Những giá trị và hạn chế của phép biện chứng duy tâm Hêghen 13
2.1 Những giá trị của phép biện chứng duy tâm Hêghen 13
2.2 Những hạn chế của phép biện chứng duy tâm Hêghen 17
3 Ý nghĩa của phép biện chứng duy tâm 18
KẾT LUẬN 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 3Đề tài tiểu luận này mục đích để nhận thức đúng những nét đặc thù đồng thời cũng là để đánh giá chính xác hơn ý nghĩa của triết học Hêghen đối với sự phát triển của tư tưởng triết học nói chung, một khi chúng ta tính đến kinh nghiệm lịch
sử từ lúc xuất hiện triết học đó cho đến nay Đương nhiên khi xem xét các quan điểm của những nhà triết học nổi tiếng qua các thời đại trước đây, chúng ta tuyệt nhiên không được tô vẽ, không được hiện đại hóa quan điểm của họ Đồng thời chúng ta cũng không được ca ngợi, không được biện hộ một chiều các quan điểm
đã lỗi thời hoặc bị hạn chế bởi những điều kiện của lịch sử Một mặt, khi xem xét
di sản của một nhà triết học thì không bỏ qua những hạn chế lịch sử những khiếm khuyết sai lầm của nhà tư tưởng đó, phải đặt nó trong điều kiện lịch sử cụ thể để cóđược những đánh giá khách quan và chính xác nhất Làm tốt được điều trên đối với hệ thống triết học Hêghen không phải dễ dàng, bởi vì triết học Hêghen không những quá đồ sộ và uyên bác về nhiều mặt mà còn chứa đựng trong chính nó không ít những mâu thuẫn, những xu hướng khác nhau, và đó là lý do em chọn đề tài tiểu luận này
1 Tư tưởng triết học của Hêghen
1.1 Điều kiện lịch sử
Trang 4Nước Đức ở nửa cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, được mở đầu từ hệ thống triết học của I.Cantơ, trải qua Phíchtơ, Senlinh đến triết học duy tâm khách quan của Hêghen và triết học duy vật nhân bản của Phoiơbắc Chỉ trong một thời kỳ lịch sử khoảng một thế kỷ, triết học cổ điển Đức đã tạo những tiền
đề lý luận hết sức quan trọng cho sự ra đời của triết học Mác vào giữa thế kỷ XIX
Triết học cổ điển Đức ra đời trong một điều kiện lich sử hết sức đặc biệt Nước Đức vào cuối XVIII đầu XIX vẫn còn là một quốc gia phong kiến điển hình với 360 quốc gia tự lập trong Liên bang Đức hết sức lạc hậu về kinh tế và chính trị Trong khi đó, ở nước Anh cuộc cách mạng công nghiệp,ở nước Pháp cuộc cách mạng tư sản đã nổ ra làm rung chuyển Châu Âu, đưa châu Âu bước vào nền văn minh công nghiệp
Chính thực tại đau buồn của nước Đức và tấm gương của các nước Tây Âu
đã thức tỉnh tinh thần phản kháng của giai cấp tư sản Đức Nhưng giai cấp này sống rải rác ở hững vương quốc nhỏ tách rời nhau, nhỏ bé về số lượng, yếu kém
về kinh tế và chính trị, nên họ vừa muốn làm cách mạng, lại vừa muốn thoả hiệp với tầng lớp phong kiến qúy tộc Phổ đang thống trị thời đó, giữ lập trường của mình trong việc giải quyết những vấn đề phát triển của đất nước.Chính điềunày đã quy định nét đặc thù của triết học cổ điển Đức: nội dung cách mạng dướimột hình thức duy tâm, bảo thủ,đề cao vai trò tích cực của tư duy con người, coicon người là một thực thể hoạt động, là nền tảng và điểm xuất phát của mọi vấn
đề triết học
Trên một ý nghĩa nhất định, triết học cổ điển Đức không chỉ là sự phản ánh những điều kiện kinh tế - chính trị và xã hội nước Đức mà còn của cả các nước Châu Âu lúc đó (1)
1.2 Sơ lược về triết học Hêghen
Trang 5Georg Wilhelm Friedrich Hegel, sinh ngày 27 tháng 8 năm 1770, mất năm 1831 Hêghen sinh tại Stuttgart vào ngày 27/8/1770, là con trai của Georg Ludwig Hêghen, một nhân viên hải quan thuộc lãnh địa công tước của Wurttemburg Là anh cả trong số ba đứa con (em trai ông, Georg Ludwig, sớm qua đời lúc là một sĩ quan trong quân đội Napoleon trong chiến dịch Nga), ông được nuôi dưỡng trong một môi trường Tin Lành ngoan đạo
Mẹ ông dạy ông tiếng Latinh trước khi ông tới trường, nhưng bà đã mất khi ông lên 11 Ông rất gắn bó với chị mình, Christiane, sau này bà thường gây nên những ghen tỵ thất thường trong vợ của ông khi ông kết hôn vào độ tuổi 40 và
đã tự vẫn ba tháng sau cái chết của ông Hêghen phải bận tâm rất nhiều đến chứng rối loạn thần kinh của chị ông và phát triển những ý tưởng về tâm thần học dựa trên những khái niệm biện chứng
Hêghen đã sớm thông thuộc các học giả kinh điển Hy lạp và La Mã cổ đại khi đang còn học tại trường trung học Stuttgart và nắm rất rõ văn học và khoa học Đức Cha ông cổ vũ ông trở thành một giáo sĩ, và Hêghen đã vào trường dòng tại Đại học Tubingen năm 1788 Ở đó ông đã phát triển tình bạn với nhà thơ Friedrich Holderlin và nhà triết học Friedrich Wilhelm Joseph von
Schelling Đặc biệt là do ảnh hưởng từ Holderlin, Hêghen đã phát triển một niềm say mê sâu sắc đối với văn học và triết học Hy Lạp Từ rất sớm và xuyên suốt cả cuộc đời, Hêghen đã ghi lại và nhớ tất cả những gì ông đọc – và số lượng ông đọc thì nhiều vô kể! Ông khâm phục Goethe và tự luôn đặt mình thấp hơn những thiên tài đương thời ông, Holderlin và Schelling (6)
Nước Đức thời Hêghen cực kì lạc hậu về kinh tế, là một liên hợp do rất nhiều quốc gia nhỏ và lạc hậu hợp lại, tương đối cách ly với những biến động sôi nổi của châu Âu Hêghen rất say mê đọc Schiller và Rousseau Năm Hêghen
18 cũng là lúc nhà ngục Bastille bị đánh chiếm và Nền cộng hòa ra công khai ở Pháp, Hêghen đã nhiệt tình ủng hộ cho cuộc cách mạng, và là thành viên trong
Trang 6một nhóm ủng hộ được thành lập ở Tubingen Hêghen hoàn thành tác phẩm vĩ đại đầu tiên của mình, Hiện tượng học tinh thần vào ngay trước ngày xảy ra cuộc chiến quyết định Jena, trong đó Napoleon đã phá tan quân đội Phổ và chia cắt Vương quốc đó ra Binh lính Pháp ập vào và đốt nhà của Hêghen ngay sau khi ông kịp nhét nốt trang bản thảo cuối cùng của Hiện tượng học vào trong túi
và ẩn náu vào nhà một viên công chức cao trong thị trấn Trong Hiện tượng họcông cố gắng để hiểu được nỗi kinh hoàng cách mạng của những người Gia-cô-banh thông qua những lời phát biểu của họ về Tự do Hêghen ăn mừng ngày chiếm ngục Bastille trong suốt cuộc đời mình
Sau khi hoàn thành khóa học về triết học và thần học và quyết định không vàođoàn mục sư, Hêghen đã trở thành một gia sư tư ở Berne, Switzerland Vào khoảng năm 1794, theo đề xuất của bạn ông Holderlin, Hêghen bắt đầu nghiên cứu về Immanuel Kant và Johann Fichte nhưng những trước tác đầu tiên của ông trong thời kì này lại là Cuộc đời Jesus và Sự xác thực của đạo Cơ-Đốc.Năm 1796, Hêghen viết Cương lĩnh đầu tiên cho một hệ thống duy tâm chủ nghĩa Đức cùng với Schelling Trong tác phẩm này có đoạn: “… quốc gia là mộtcái gì đó hoàn toàn máy móc – và không có ý niệm (phi vật chất) về một cái máy Chỉ cái gì là khách thể của tự do mới có thể gọi là “Ý niệm” Do đó chúng
ta cần phải vượt quá quốc gia! Mọi quốc gia cần đối xử với những người tự do như những cái răng trong một cái máy Và đây chính là điều không nên xảy ra;
do đó quốc gia phải bị lụi tàn” Năm 1797, Holderlin tìm được cho Hêghen một địa điểm ở Frankfurt, nhưng hai năm sau đó cha ông mất, giải thoát cho ông khỏi nghề gia sư
Triết học Hêghen là biểu hiện của sự phát triển đầy đủ nhất và rực rỡ nhất củachủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức Hêghen là nhà tư tưởng của giai cấp tư sản Đức,người thể hiện chính sách thoả hiệp về chính trị của giai cấp tư sản với giai cấp phong kiến quý tộc Phổ Quan điểm triết học của ông là hệ thống duy tâm cổ điển cuối cùng, là trình độ cao nhất của sự phát triển phép biện chứng duy tâm.Hêghen là nhà duy tâm khách quan Ông coi tinh thần thế giới là cái có trước, vật chất với tính cách dường như là sự thể hiện, sự biểu hiện cụ thể của tinh thầnthế giới, là cái có sau; tinh thần là đấng sáng tạo ra vật chất Tinh thần thế giới – ý niệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn và chứa đựng dưới dạng tiềm năng tất
Trang 7cả mọi hiện tượng của tự nhiên và xã hội Nó là nguồn gốc và động lực của mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội Tinh thần thế giới hay ý niêm tuyệt đối trong quátrình tự phát triển của nó diễn ra qua các giai đoạn khác nhau, ngày càng thể hiện đầy đủ nội dung bên trong của nó Đầu tiên nó phát triển trong bản thân nó, sau đó nó thể hiện dưới hình thức tự nhiên – thế giới vô cơ, hưu cơ và con
người, tiếp nữa là thể hiện dứoi hình thức nhà nước, nghệ thuật, tôn giáo và triết học Theo hệ thống của Hêghen, toàn bộ thế giới muôn màu, muôn vẻ là sản phẩm của sự phát triển tự nhiên của ý niệm với tính cách là lực lượng sáng tạo,
là tổng hoà của mọi hình thức khác nhau của sự biểu hiện của ý niệm Bởi
vậy, học thuyết của Hêghen coi tính thứ nhất là tinh thần, tính thứ hai là vạt chất Đó cũng chính là sự thể hiện riêng về mặt triết học những lời khẳng định của tôn giáo rằng Thượng đế sáng tạo ra thế giới
Có thể nói, trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, Hêghen chỉ lặp lại những điều mà các nhà duy tâm trước đó đã nói Song, cái mới trong học thuyết của ông, chính là chỗ ông xem xét tinh thần thế giới, ý niệm tuyệt đối là một quá trình tự phát triển không ngừng, và ông là một nhà triết học hoàn chỉnhphép biện chứng duy tâm, phép biện chứng của ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới với tính cách là cơ sở đầu tiên và nguồn gốc của mọi tồn tại Hêghen đã phê phán phép siêu hình thống trị lúc đó và ông đã lấy phép biện chứng đem đốilập với nó Các yếu tố biện chứng duy tâm có trong các tác phẩm triết học duy tâm trước Hêghen, nhưng phép biện chứng duy tâm với tính cách là phương pháp ít nhiều hoàn chỉnh thì do Hêghen lập ra
Công lao của Hêghen so với những người tiền bối của ông là ở chỗ đã phân tích một cách tổng hợp và biện chứng tất cả các phạm trù quan trọng nhất của triết học và hình thành trên cơ sở duy tâm ba quy luật cơ bản của tư duy: quy luật chuyển hoá từ lượng thành chất, quy luật thâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập và quy luật phủ định của phủ định (6)
1.2.1 Hệ thống triết học duy tâm của Hêghen
a Chủ nghĩa duy tâm khách quan
Theo Hêghen, cơ sở cho sự tồn tại của thế giới không phải là vật chất mà là
“Ý niệm tuyệt đối” hay là “Tinh thần tuyệt đối” Đó là một thực thể tinh thần có
Trang 8trước giới tự nhiên, nó tự thiết định bản thân nó và tự phân biệt với bản thân Ýniệm tuyệt đối được hiểu như một đấng sáng tạo tối cao sản sinh ra toàn bộ giới tự nhiên và con người; tất cả các sự vật, hiện tượng, từ những sự vật tự nhiên cho đến các sản phẩm hoạt động của con người, đều được coi là hiện thâncủa ý niệm tuyệt đối.
Ý niệm tuyệt đối là một thực thể biện chứng, luôn luôn vận động và phát triển tự thân Hêghen là người đầu tiên nhìn nhận toàn bộ giới tự nhiên, xã hội
và tư duy là một quá trình phát triển thống nhất, nhưng theo tinh thần duy tâm - coi sự phát triển của ý niệm là nền tảng cho sự phát triển của tự nhiên và con người Sự phát triển của “Ý niệm tuyệt đối” được diễn đạt theo mô hình Tam đoạn thức là: Chính đề - phản đề - hợp đề (theo quy luật phủ định của phủ định), trong đó các yếu tố có mối liên hệ hữu cơ và chuyển hóa lẫn nhau Sự phát triển của ý niệm tuyệt đối được coi là hiện thân của quá trình phát triển lịch sử của nhân loại (chủ yếu là phát triển của đời sống tinh thần mà biểu hiện cao nhất là tư tưởng), tuy được Hêghen phân ra thành tám phần khác nhau nhưng theo C Mác nó chỉ bao gồm qua ba giai đoạn chính là: tinh thần thuần túy (tư duy), tinh thần khách quan (tự nhiên và xã hội), tinh thần tuyệt đối (hoạt đông nhận thức và cải tạo thế giới của con người)
+ Tinh thần thuần túy là giai đoạn ý niệm tuyệt đối tồn tại và phát triển trongmình Theo Hêghen, trong sự vận động biện chứng ý niệm tuyệt đối đã đạt tới
sự phát triển đầy đủ từ trước khi giới tự nhiên xuất hiện Nó mang trong mình đầy đủ những tính quy định sau này, giống như cái mầm cây mang sẵn trong mình toàn bộ bản chất của cái cây như mùi, vị, hình dáng quả… Sự phát triển của tinh thần thần túy là phi không gian và phi thời gian
+ Sự phát triển của tinh thần thuần túy, khi đạt đến đầy đủ thì “tha hóa” ra thành giới tự nhiên - tức “Tinh thần khách quan” Như vậy giới tự nhiên chỉ là một giai đoạn trong quá trình phát triển của ý niệm tuyệt đối, là sự “tha hóa” của ý niệm, là “Hình thức tồn tại khác” của ý niệm Hêghen giải thích: sở dĩ ý niệm tuyệt đối tha hóa thành giới tự nhiên vì nó là một thực thể tinh thần, bản tính của nó là ham hiểu biết, để hiểu biết về mình thì nó phải tha hóa ra thành một cái khác mình nhưng vẫn là chính mình
Trang 9+ Con người được coi là sản phẩm, là giai đoạn phát triển cao nhất của ý niệm tuyệt đối Thông qua hoạt động nhận thức và thực tiễn cải tạo thế giới của con người để ý niệm tuyệt đối tự nhận thức chính mình Như vậy quá trình nhậnthức của con người chẳng qua chỉ là quá trình tự nhận thức mình của ý niệm tuyệt đối Theo Hêghen, nhận thức khái niệm là dạng nhận thức cao nhất của con người Khái niệm được coi là bản chất tinh thần, là linh hồn của các sự vật:
“Nếu như gọi tri thức là khái niệm, còn bản chất hay chân lý - là tồn tại, tức sự vật, thì vấn đề là xác định liệu khái niệm có phù hợp với sự vật hay không (giải thích: khái niệm với tính cách là kết quả nhận thức?) Nếu chúng ta gọi bản chất(hay tồn tại - tự nó) của sự vật là khái niệm và … sự vật là khái niệm như một
sự vật (giải thích: khái niệm có trước sự vật với tính cách là bản chất của sự vật)
… thì vấn đề là xác định liệu sự vật có phù hợp với khái niệm của mình không Hiển nhiên là hai cách hiểu trên đây là như nhau Khi nào con người nhận thức đầy đủ giới tự nhiên thì khi đó ý niệm tuyệt đối sẽ quay trở về với chính nó, đó chính tà tinh thần tuyệt đối Như vậy, điểm khởi đầu của sự phát triển là tinh thần, nhưng đó là “Tinh thần thế giới” (phi cá nhân) và điểm kết thúc của sự phát triển cũng là tinh thần, nhưng đó là “tinh thần tuyệt đối” tồn tại ở mỗi các nhân con người Nó biểu hiện dưới các hình thức nhận thức tôn giáo, nghệ thuật
và triết học của con người, trong đó triết học là hình thức cao nhất Như vậy hệ thống triết học của Hêghen là duy tâm khách quan và siêu hình Duy tâm khách quan ở chỗ nó thừa nhận tinh thần là có trước và quyết định; siêu hình ở chỗ nó thừa nhận sự kết thúc của quá trình phát triển, cho rằng khi con người nhận thứchết về giới tự nhiên thì nó không vận động, phát triển về thời gian mà chỉ vận động trong không gian Tương ứng với ba giai đoạn phát triển của ý niệm tuyệt đối hệ thống triết học của Hêghen được phân ra thành ba học thuyết: Khoa học lôgích - triết học tự nhiên - triết học tinh thần
b Quan niệm về bản chất của triết học và lịch sử triết học
Coi tinh thần tuyệt đối là thực thể và bản chất của toàn bộ thế giới, trong đó con người và xã hội là giai đoạn phát triển cao nhất, Hêghen cho rằng có ba hình thức thể hiện nó, đó là: nghệ thuật, tôn giáo và triết học Trong đó triết học
là hình thức biểu hiện cao nhất của tinh thần tuyệt đối
Theo Ông, triết học là học thuyết về tinh thần tuyệt đối mà lịch sử nhân loại (chủ yếu là lịch sử tư tưởng) là giai đoạn cao nhất của nó Cho nên mỗi học
Trang 10thuyết triết học là một giai đoạn phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại, thể hiện tinh hoa tinh thần của thời đại, là thời đại thể hiện dưới dạng tư tưởng Ôngcoi triết học là “Khoa học của mọi khoa học”, cho nên nó đóng vai trò là nền tảng của toàn bộ thế giới quan con người.
Lịch sử triết học cho chúng ta một bức tranh khái quát về toàn bộ tiến trình phát triển của tư tưởng nhân loại Đó không phải là sự sưu tầm các học thuyết triết học, mà là là lịch sử phát triển của bản thân triết học theo những quy luật tất yếu: “Lịch sử triết học chỉ ra, thứ nhất, tất cả các học thuyết triết học tưởng như khác nhau đều thực chất chỉ là một triết học trên các giai đoạn phát triển khác nhau của nó; thứ hai, những nguyên lý đặc thù, mà mỗi chúng là nền tảng của một hệ thống nào đó, thực chất chỉ là những chi nhánh của cùng một chỉnh thể Học thuyết triết học cuối cùng, và do vậy cần phải chứa đựng các nguyên lýcủa tất cả chúng, cho nên nó là học thuyết triết học phát triển nhất, cụ thể nhất”.Như vậy, đối tượng của lịch sử triết học cũng chính là đối tượng của bản thân triết học; sự thống nhất giữa chúng là sự thống nhất giữa lịch sử và lôgic (2)
1.2.2 Triết học tự nhiên
Triết học tự nhiên là sự nghiên cứu lý luận về giới tự nhiên Giới tự nhiên được Hêghen hiểu là một hình thức tồn tại khác của ý niệm tuyệt đối, nó nằm trong quá trình phát triển thống nhất của ý niệm tuyệt đối cho nên không ngừng vận động và phát triển
Tiếp thu những thành tựu khoa học tự nhiên ông khẳng định sự tồn tại nhiều cấp độ khác nhau của vật chất như cơ học, vật lý, hóa học, sự sống… với nhữngđặc điểm khác nhau về bản chất và vận động Tuy triết học tự nhiên là
điểm yếu nhất trong hệ thống của Hêghen, nhưng ông cũng đã nêu được nhiều tư tưởng biện chứng sâu sắc về nó, thấy được sự thống nhất giữa vật chất với vận động, không gian với thời gian…
Trong triết học tự nhiên, hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng của Hegel là
tư tưởng về sự thống nhất giữa vật chất với vận động, dự đoán không gian, thời gian và vận động có mâu thuẫn bên trong, ở đó thể hiện tính thống nhất giữa tính gián đoạn và tính liên tục; là tư tưởng cho rằng sự khác biệt hóa học về chất bị phụ thuộc vào những thay đổi về lượng, là sự biện chứng của quá trình
Trang 11hóa học; là mối liên hệ hữu cơ giữa hóa học và vật lý, quá trình hóa học là khâu chuẩn bị cuối cùng cho đời sống hữu cơ.
1.2.3 Quan điểm về xã hội của Hêghen
Hêghen đã xác định xã hội công dân như là sự tổng hợp những điều kiện vậtchất của đời sống xã hội, là hệ thống những nhu cầu dựa trên chế độ tư hữu, là những quan hệ tài sản, pháp luật và đẳng cấp Về điều này, C.Mác cho rằng, theo cách của người Anh và người Pháp thế kỷ XVIII, Hêghen đã gộp toàn bộ những điều kiện sinh hoạt vật chất lại và gọi chung là xã hội công dân Hêghen nói, “xã hội công dân là mối liên hệ giữa các thành viên với tư cách là cái riêng độc lập trong tính chung hình thức, là mối liên hệ thông qua nhu cầu của các thành viên đó, thông qua các thiết chế pháp luật là phương tiện bảo vệ cá nhân
và sở hữu” Đồng thời, ông coi xã hội công dân là lĩnh vực những điều kiện sinh hoạt vật chất, là sản phẩm có tính chất tự nhiên, trong đó các cá nhân ràng buộc với nhau thông qua những lợi ích vật chất ích kỷ
Với quan niệm như vậy, Hêghen rút ra hai đặc điểm cơ bản của xã hội công dân:
Thứ nhất, trong xã hội công dân từng cá nhân cụ thể là mục đích của chính
mình, nghĩa là hoạt động của nó nhằm vào việc đáp ứng những nhu cầu riêng tư
Thứ hai, từng cá nhân cụ thể chỉ có thể đáp ứng được mục đích của mình
thông qua quan hệ với những cá nhân khác
Như vậy, trong xã hội công dân, những người khác chỉ là phương tiện để từng cá nhân cụ thể đạt được mục đích riêng của mình Hêghen cho rằng,
“Trong xã hội công dân, mỗi người đều là mục đích đối với mình, mọi người khác thực chất là hư vô đối với nó Nhưng nó không thể đạt được tổng số các mục đích của mình nếu thiếu quan hệ với người khác Do vậy, những người nàythực chất chỉ là phương tiện cho mục đích riêng Nhưng mục đích riêng cũng đem lại cho nó hình thức của cái chung và tự đáp ứng thông qua quan hệ với những mục đích khác, nhờ đó mà nó cũng đồng thời đáp ứng những lợi ích của người khác”
Trang 12Như vậy, xã hội công dân là lĩnh vực để thực hiện những mục đích riêng củacác cá nhân, còn những người khác chỉ có ý nghĩa như là phương tiện để cá nhân đạt được mục đích đó Theo đó, mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng được thiết lập và xuyên suốt toàn bộ đời sống của xã hội công dân Trong hoạt động của mỗi cá nhân riêng biệt, khi đáp ứng mục đích của mình, thì đồng thời
nó cũng đáp ứng mục đích của những người khác và bằng cách đó, những cá nhân này cũng góp phần thực hiện lợi ích chung Ngoài ra, Hêghen còn xác định những mối quan hệ khác giữa các thành viên của xã hội công dân Trong
xã hội công dân, mục đích riêng của cá nhân và mục đích chung của mọi người
có sự độc lập với nhau, nhưng giữa chúng vẫn có mối liên hệ hữu cơ Một mặt, Hêghen coi xã hội công dân như là kết quả của “sự mở rộng” các gia đình; mặt
khác, ông nhấn mạnh tư tưởng cho rằng sự phát triển của xã hội công dân muộn
hơn so với sự phát triển của nhà nước Theo ông, các yếu tố và đặc điểm của xã hội công dân cũng chính là của xã hội tư sản dựa trên sở hữu tư nhân tư bản chủnghĩa về tư liệu sản xuất và sự cạnh tranh tự do, “xã hội công dân chỉ được tạo
ra trong thế giới hiện đại” Hơn nữa, Hêghen coi sở hữu tư nhân là điều kiện cần thiết cho sự ra đời và phát triển của xã hội công dân cũng như của tự do cá nhân Ở đây, ông đã thần bí hoá và coi quy luật giá trị của xã hội tư sản là “ánh hào quang của lý tính”, là sự thể hiện của “thực thể đạo đức” trong xã hội công dân
Dưới góc độ triết học xã hội, Hêghen đã nêu lên được những mối quan hệ kinh tế tư sản, cũng như sự hình thành và bảo đảm chúng bằng pháp luật trong
xã hội công dân Khi xây dựng hệ thống triết học của mình trên cơ sở duy tâm khách quan, Hêghen đã mô tả xã hội công dân theo sơ đồ tam đoạn thức Cụ thể
là nó được tạo ra bởi 3 yếu tố sau:
Thứ nhất, hệ thống những nhu cầu được hiểu như là tính gián tiếp của nhu
cầu và sự thoả mãn nhu cầu của cá nhân thông qua hoạt động của nó Chính nhờ
đó mà nó cũng thoả mãn nhu cầu của những người khác nữa
Thứ hai, hệ thống pháp luật nhằm bảo hộ cho tự do và quyền sở hữu cá
nhân
Thứ ba, cảnh sát và các tổ chức đoàn thể không chỉ giải quyết nhiệm vụ
pháp luật, mà còn thực hiện ở những phương diện khác nữa
Trang 13Tuy coi lịch sử nhân loại là lịch sử phát triển của đời sống tinh thần, là hiện thân của ý niệm tuyệt đối theo tinh thần duy tâm, nhưng Hêghen đã nêu những
tư tưởng biện chứng sâu sắc về sự phát triển xã hội
Hêghen giải thích nguồn gốc nhà nước không phải từ khế ước xã hội, mà từ mâu thuẫn xã hội Ông không cho rằng con người sinh ra vốn đã bình đẳng, mà ngược lại là bất bình đẳng Do đó trong xã hội luôn có sự khác biệt về đẳng cấp,của cải… vì vậy cần có nhà nước để điều hoà mâu thuẫn Ông cho rằng nhà nước tồn tại vĩnh viễn, ở mọi thời kỳ lịch sử Nó là hiện thân của ý niệm tuyệt đối, nhờ nó mà gia đình và xã hội công dân mới tồn tại được xét về bản chất, nhà nước không chỉ là cơ quan hành pháp, mà còn bao gồm tổng thể các quy chế, kỷ cương, chuẩn mực và mọi lĩnh vực đạo đức, pháp quyền, chính trị, văn hóa… Ông coi Nhà nước Quân chủ Phổ là đỉnh cao của sự phát triển xã hội, là
“Nhà nước quân chủ chân chính”, trong đó tất cả mọi người đều được tự do.Ông đề cao vai trò của chiến tranh, cho rằng nó tồn tại vĩnh viễn mà nhờ nó các dân tộc mới “Tránh khỏi sự thối nát” Ông theo chủ nghĩa Sôvanh, đề cao dân tộc Đức
Hêghen coi lịch sử là sự thống nhất giữa tính khách quan và tính chủ quan Một mặt, lịch sử là quá trình tất yếu, vận động theo quy luật khách quan, theo
xu thế thời đại Nhưng mặt khác, lịch sử phải do các cá nhân, các dân tộc thực hiện Tuy nhiên, hoạt động của con người phải tuân thủ tính tất yếu, phải phù hợp với xu thế của thời đại; vĩ nhân phải suy nghĩ và hành động theo những gì
2 Những giá trị và hạn chế của phép biện chứng duy tâm Hêghen
2.1 Những giá trị của phép biện chứng duy tâm Hêghen
Hêghen là người đầu tiên xây dựng nên một phép biện chứng tự giác, có hệ thống và tương đối toàn diện mà cốt lõi của nó là học thuyết về sự phát triển (3)
Trang 14Là người có công phê phán tư duy siêu hình và là người đầu tiên trình bày toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, trong sự liên hệ, vận động, biến đổi và phát triển không ngừng (5).
Ông là người đã trình bày một cách có hệ thống tư tưởng hệ thống duy tâm,
đã triển khai các phạm trù và quy luật của phép biện chứng xuất phát từ “ý niệmtuyệt đối”(5)
Tạo tiền đề cho triết học Mác – Lênin
Tuy nhiên phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm, là phépbiện chứng “lộn đầu xuống đất” Các tư tưởng biện chứng được Hêghen trình bày trong cả ba phần, nhưng tập trung nhất là trong “Khoa học lôgic”
a Đối tượng và nhiệm vụ của khoa học lôgic
Nghiên cứu các học thuyết lôgic học trước đó Hêghen chỉ ra hạn chế của chúng là: thứ nhất, tư duy với tính cách là đối tượng của lôgích học, mới chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là tư duy chủ quan trong phạm vi ý thức cá nhân Thứ hai, việc xác định ranh giới giữa lôgích học với các khoa học khác về tư duy như tâm lý học, nhân bản học là chưa rõ ràng Thứ ba, lôgích học trước đâychỉ dựa trên những phạm trù bất động, không có sự liên hệ và chuyển hóa với nhau
Hêghen cho rằng phải xây dựng một lôgic học mới Tuy vẫn xác định lôgic học là khoa học về tư duy, nhưng cần phải hiểu một cách biện chứng về tư duy
Tư duy ở đây không phải là ý thức cá nhân, mà là tinh thần thuần túy (dưới khíacạnh tôn giáo thì đó là Chúa) Như vậy, Hêghen phân biệt hai loại tư duy là: thứnhất, tư duy tự nó - tức ý niệm tuyệt đối, là nền tảng và bản chất của mọi tồn tại; và tư duy cho nó - tức tư duy cá nhân con người Tư duy con người là giai đoạn cao nhất, trong đó ý niệm tuyệt đối có thể tự ý thức về mình, nên tư duy con người phải hoạt động theo những quy luật khách quan chung của tư duy.Giới tự nhiên cũng chỉ là hình thức biểu hiện khác của tư duy, là tư duy khách quan vô thức Chúng đồng nhất về nội dung, chỉ khác nhau về hình thức Như vậy, đối tượng của lôgích học là tư duy lôgic, nó là sự thống nhất giữa tư tưởng và hiện thực, giữa tinh thần và vật chất, giữa chủ quan và khách quan