TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT NHỮNG GÍA TRỊ VÀ HẠN CHẾ Arixtốt là một nhà triết gia được các nhà trí thức đánh giá là một trong số những con người siêu việt và vĩ đại nhất. Chỉ trong một thời gian ngắn ông đã có những công trình nghiên cứu giá trị để đời như: vật lý học, siêu hình học, đạo đức học, tâm lý học…. Toàn bộ tư tưởng triết học của ông nhằm để giải thích những câu hỏi của cuộc đời như: cuộc đời lý tưởng phải thế nào? Cái gì là mục đích tối thượng của cuộc đời? Đạo đức là gì? Làm thế nào để tìm thấy hạnh phúc?…
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
~~~~~~~~ooo~~~~~~~~
ĐỀ TÀI:
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT
NHỮNG GÍA TRỊ VÀ HẠN CHẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2012
SVTH : Phạm Xuân Hùng Lớp : Đêm 5
Trang 2TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
MỤC LỤC
Trang
Lời Mở Đầu 1
Chương 1: Những Tư Tưởng Triết Học Của Arixtốt 1.1 Thuyết nguyên nhân- Cơ sở của siêu hình học 2
1.2 Vật lý học 3
1.3 Nhận thức luận 4
1.4 Logic học 4
1.5 Nhân bản học 5
1.6 Đạo đức học 5
1.7 Học thuyết chính trị- xã hội 6
1.8 Thẩm mỹ học và những tư tưởng về kinh tế học 7
Chương 2: Những Giá Trị và Hạn Chế Của Tư Tưởng Triết Học Arixtốt 2.1 Những giá trị tư tưởng triết học Arixtốt 8
2.2 Những hạn chế của tư tưởng triết học Arixtốt 11
Kết luận 13
Danh mục tài liệu tham khảo 14
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong lịch sử triết học nhân loại, triết học Tây Phương là một nền triết học được hình thành từ rất sớm tại đất nước Hy Lạp cổ đại Trải qua biết bao nhiêu thế kỷ nhưng nền triết học phương Tây vẫn sừng sững trước mọi sóng gió và giá trị mãi cho đến ngày hôm nay Đây là nền tảng của triết học nhân loại Trong thời vàng son của triết học Hy Lạp cổ đại, Arixtốt là một nhà triết gia nổi tiếng với nhiều công trình nghiên cứu đồ sộ và có nhiều nét nổi bất nhất Arixtốt không hăng hái như Platon cũng không có tư tưởng độc đáo về trí tưởng tượng cao siêu như Platon mà hoàn toàn chất phác và rõ ràng Khi đi vào tìm hiểu những tư tưởng của ông ta thấy rằng nó như là một dòng suối mát làm dịu cơn nóng bức của mùa hè, xua tan mụ mị của đời người
Arixtốt là một nhà triết gia được các nhà trí thức đánh giá là một trong số những con người siêu việt và vĩ đại nhất Chỉ trong một thời gian ngắn ông đã có những công trình nghiên cứu giá trị để đời như: vật lý học, siêu hình học, đạo đức học, tâm lý học… Toàn bộ tư tưởng triết học của ông nhằm để giải thích những câu hỏi của cuộc đời như: cuộc đời lý tưởng phải thế nào? Cái gì là mục đích tối thượng của cuộc đời? Đạo đức là gì? Làm thế nào để tìm thấy hạnh phúc?…
Lấy cảm hứng từ quyển sách Câu Chuyện Triết Học của tác giả Will Durant và dựa vào ý tưởng của giáo trình Đại Cương Về Lịch Sử Triết Học do Tiến sỹ Bùi Văn Mưa chủ biên cùng những tài liệu, bài viết được đăng tải trên mạng, tôi muốn trình bày những cống hiến to lớn mà triết gia Arixtốt đem đến cho nhân loại đồng thời nêu
ra những nhận định cá nhân về giá trị và hạn chế trong tư tưởng của ông Có thể nói cho đến nay, những tư tưởng của Arixtốt vẫn còn sức ảnh hưởng đối với nhân loại dủ
đã trải qua gần 2000 năm lịch sử Với phần trình bày của mình tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ trong việc gìn giữ những giá trị tri thức nhân loại để từ đó các thế hệ sau sẽ tiếp tục gây dựng và phát triển tri thức nhân loại ngày một thăng hoa
Trang 4CHƯƠNG I: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT
TRONG CÁC LĨNH VỰC
1.1 Thuyết nguyên nhân – Cơ sở siêu hình học
Trong khi các khoa học khác đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Các nguyên lý và nguyên nhân đầu tiên của các sự vật như thế nào và tại sao?” thì Siêu hình học của Arixtốt lại quan tâm đến vấn đề “tồn tại nghĩa là gì” Theo Arixtốt vấn đề chính của Siêu Hình Học là nghiên cứu cái hiện hữu cùng các “nguyên lý’ và “nguyên nhân” của
nó Mọi tồn tại đều là một cá thể và có một bản chất xác định
Học thuyết 4 nguyên nhân của Arixtốt là một khung rộng lớn để giải thích toàn diện về bất cứ sự vật hay mọi sự vật Theo Arixtốt, bất kỳ sự vật nào cũng đều tồn tại
và phát triển dựa trên 4 nguyên nhân cơ bản là: vật chất (vật liệu), hình thức (hình dạng), vận động (thao tác) và mục đích (cứu cánh) Tương tự như vậy, bất kỳ sự vật nào cũng có 4 nguyên nhân trên thì mới có thể tồn tại được Về bất cứ sự vật nào, Arixtốt nói, chúng ta có thể hỏi 4 câu hỏi sau, (1) Nó là gì? (2) Nó được làm bằng gì? (3) Nó được làm ra bởi cái gì? (4) Nó được làm bởi mục đích gì? Ví dụ:
(1) "Con người được cấu tạo bởi cái gì?" - Trả lời: bởi thịt da và những thứ đại loại như thế (nghĩa là nguyên nhân về vật chất)
(2) "Hình thức hoặc bản chất?" - Trả lời: một sinh vật sống có 2 chân có khả năng lý luận (nghĩa là nguyên nhân về hình thức)
(3) "Cái gì tạo ra con người?" - Trả lời: người cha (theo thuyết sinh vật học của Arixtốt) (nghĩa là nguyên nhân về năng lực/khả năng);
(4) “Con người được tạo ra để làm gì?” - Trả lời: để thực hiện các chức năng của 1 con người (sát nghĩa là 'để sống 1 cuộc sống hài hòa với lẽ phải, sống hợp lý') (nghĩa là nguyên nhân về kết quả)
Trong số các nguyên nhân trên của tồn tại thì nguyên nhân hình dạng là cơ bản nhất và có vai trò quyết định bởi vì nếu không có hình thức thì vật chất chì là khả năng thụ động chứ không phải là hiện thực Nó là thực chất của tồn tại, là bản chất của sự
Trang 5vật Bản thân nó đã bao hàm cả nguyên nhân vận động và mục đích Nhờ tính tích cực của hình thức mà mọi sự vật vận động được, còn vận động của sự vật là một quá trình khách quan diễn ra theo những trình tự xếp đặt trước, tức là có sự sắp đặt của Thượng Đế
Như vậy, coi vận động và mục đích chỉ là những khía cạnh khác nhau của của nguyên nhân hình dạng, Arixtốt đã thừa nhận học thuyết bốn nguyên nhân chỉ là sự phát triển, cụ thể hóa quan niệm của ông về hình dạng và vật chất cũng như mối quan
hệ giữa chúng
1.2 Thuyết vận động – Cơ sở vật lý học
Một trong những vấn đề quan trọng của Triết học phải được xem xét và giải quyết là vấn đề vận động Quan niệm vận động được Arixtốt đề cập cả trong Siêu hình học và Vật lý học Ông khẳng định không thể hiểu thế giới tự nhiên nếu không bắt đầu
từ sự vận động, và mọi sự vận động đều mang tính mục đích, đều được sắp xếp ngay
từ ban đầu Theo ông, mọi sự vật trong thế giới chúng ta đều vận động và phát triển không ngừng Vận động là sự biến đổi nói chung nhưng sự biến đổi đó không thể chỉ dừng lại ở biến đổi về mặt vị trí trong không gian Có sáu hình thức vận động là phát sinh, tiêu diệt, thay đổi trạng thái, tăng, giảm, di chuyển vi trí Arixtốt đã dừng lại trước quan niệm vận động tự thân của vật chất mà thừa nhận cái hích đầu tiên của Thượng Đế nằm bên ngoài giới tự nhiên là nguồn gốc thần thánh của mọi vận động xảy ra trong giới tự nhiên
Từ những quan niệm vật lý trên, Arixtốt xây dựng vũ trụ luận của mình Ông là người khởi xướng ra thuyết địa tâm coi trái đất là hình cầu, là trung tâm của vũ trụ Đối với ông Vũ trụ là hữu hạn và khép kín về không gian và vĩnh viễn về thời gian Ông còn quan niệm có một loại nguyện tử thứ 5 mang đầy chất linh thiêng được ông gọi là ê-te cùng kết hợp với 4 hành chất: đất, nước, lửa và không khí cùng cấu tạo nên
sự vật
Trang 61.3 Nhận thức luận
Lý luận nhận thức của Arixtốt là đỉnh cao của sự phát triển các tư tưởng nhận thức luận thời cổ đại Khẳng định khả năng nhận thức thế giới của con người, ông coi quá trình nhận thức là quá trình khám phá ra chân lí đích thực về bản chất sự vật Arixtốt đề cao vai trò của nhận thức cảm tính Nó đem lại cho ta những hiểu biết xác thực và sinh động về sự vật đơn nhất Ông là người khởi xướng nguyên lý tabula rasa (nguyên lý tấm bảng sạch) – coi linh hồn con người khi mới sinh ra hoàn toàn không
có tri thức – đối lập với tư tưởng của Platon coi nhận thức là quá trình hồi tưởng lại Theo Arixtốt nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên, là điểm xuất phát của mọi quá trình nhận thức Dạng nhận thức cao nhất đó là nhận thức khoa học, trong đó triết học
là tối cao Nó là hoạt động trí tuệ đem lại cho chúng ta những tri thức lý luận có tính khái quát cao
1.4 Logic học
Arixtốt được xem là người khai sáng của lôgic học, bộ môn khoa học nghiên cứu về tư duy và các quy luật của nó Ông đã khám phá ra các quy luật cơ bản của tư duy logic như quy luật đồng nhất, quy luật cấm mâu thuẫn, quy luật loại trừ cái thứ 3 Ông là người đầu tiên đã trình bày hoàn chỉnh và có hệ thống những quy luật cơ bản của tư duy đúng đắn
Những quy luật cơ bản của tư duy lôgic bao gồm: quy luật đồng nhất, quy luật cấm mâu thuẫn và quy luật loại trừ cái thứ ba Từ đó, Arixtốt đã xây dựng nên tam đoạn luận nổi tiếng của mình (nếu A thuộc B, B thuộc C, thì A thuộc C)
Ví dụ: Tất cả mọi người đều phải chết
Xôcrát là người Xôcrát cũng phải chết Ngoài ra Arixtốt còn xây dựng lý thuyết chứng minh, đồng thời phân tích các lỗi lôgic mà mọi người hay mắc phải Và khẳng định rằng mọi lỗi lôgic là do mọi người vận dụng sai tam đoạn luận và các quy luật lôgic
Trang 7Lôgic học của Arixtốt không chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp như vậy mà còn bao hàm cả học thuyết của ông về các phạm trù, thể hiện như là phương pháp luận xuyên suốt mọi lĩnh vực thế giới quan của ông Arixtốt đã xây dựng nên hệ thống các phạm trù như những hình thức của tư tưởng: 1) bản chất; 2) số lượng; 3) chất lượng; 4) quan hệ; 5) vị trí; 6) thời gian; 7) tình trạng; 8) chiếm hữu; 9) hành động; 10) chịu đựng Do rất quan tâm đến sự chặt chẽ của hệ thống lý luận và ‘thích thú với cắt nghĩa chứng minh”, Arixtốt đã khai triển về cách suy luận diễn dịch và hình thành nên học thuyết Tam đoạn luận
1.5 Nhân bản học
Arixtốt cho rằng con người được cấu thành từ hình dạng và vật chất Ông phủ nhận quan điểm của Platon coi thể xác chỉ là chỗ trú tạm thời của linh hồn bất diệt Arixtốt dựa vào thuyết nguyên nhân khẳng định sự gắn bó hữu cơ giữa linh hồn và thể xác, mặc dù ở con người thì linh hồn đóng vai trò chủ đạo Ông khẳng định: “các trạng thái của linh hồn đều có cơ sở trong vật chất”, và linh hồn là căn nguyên của sự sống
Theo Arixtốt, tùy theo cấp độ tồn tại ba dạng linh hồn: 1) linh hồn thực vật khả
tử thực hiện chức năng nuôi dưỡng và sinh sản; 2) linh hồn động vật khả tử thực hiện chức năng cảm ứng với môi trường xung quanh Cả hai linh hồn này đều xếp là: “linh hồn vật lý”, chúng gắn bó hữu cơ và bị hủy cùng thể xác; 3) linh hồn lý tính (một bộ phận linh hồn con người) bất tử là dạng cao nhất của linh hồn và chỉ tồn tại ở người, thực hiện chức năng hoạt động nhận thức, tư duy Trong thể xác con người có đủ 3 loại linh hồn trên
1.6 Học thuyết chính trị - xã hội
Arixtốt coi chính trị học là sự khai triển đạo đức học vào trong đời sống xã hội Ông vận dụng thuyết trung dung để xây dựng lý luận về nhà nước Theo ông, con người là một động vật chính trị, bản tính của nó là sống cộng đồng Hình thức tổ chức cuộc sống cộng đồng đó trong một thể chế nhất định được gọi là nhà nước Nhà nước đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho mỗi gia đình, mỗi con người trong xã hội
Trang 8Chỉ có động vật thuần túy hay Thượng Đế mới tồn tại bên ngoài nhà nước Arixtốt lấy thể chế chính trị dựa trên ba phương diện: lập pháp, hành chính và phân xử
Trong các hình thức nhà nước, Arixtốt ủng hộ chế độ quân chủ, theo ông đó là nhà nước ưu việt nhất Ngược lại ông lên án nhà nước của bạo chúa là nhà nước trái với bản chất của con người Với Arixtốt, xét đoán một nhà nước không phải ở hệ thống tổ chức của nó mà ở những phúc lợi mà nó mang lại cho toàn thể xã hội Bởi thế bản thân Aristtotle ông vẫn thích chế độ cộng hòa quí tộc hơn Trong chế độ quí tộc, việc cai trị do một nhóm người có trình độ, tài năng và của cải khiến họ có trách nhiệm
và năng lực lãnh đạo hơn
1.7 Đạo đức học
Arixtốt coi đạo đức học là sự mở rộng nhận thức vào lĩnh vực hành vi con người Arixtốt cho rằng: ngu dốt, sai lầm là nguồn gốc của cái ác; lý trí và lẽ phải của đời thường là cơ sở của điều thiện, là nền tảng của phẩm hạnh của con người
Giống như ở Siêu hình học Arixtốt thể hiện sự bất đồng quan điểm của mình với Plato Ông nhấn mạnh con người là một sinh vật như mọi sự vật khác trong thiên nhiên chứ không phải thần thánh, nó có bản năng sống của nó, có một “mục đích” đặt trưng phải đạt tới hay một chức năng phải hoàn thành, vì vậy hạnh phúc của nó ở ngay trần gian này chứ không phải ở một thế giới vĩnh viễn, siêu cảm đầy thần bí như của Plato
Đạo đức là cái vốn có của con người, trong đó quan trong nhất là phẩm hạnh Phẩm hạnh của mỗi con người được biểu hiện trong quan niệm và thái độ đối với hạnh phúc cũng như những hành động trong điều kiện không có sự giám sát của người khác, Arixtốt chia phẩm hạnh ra làm hai loại:
1) Phẩm hạnh lý tính: Có được nhờ vào việc hiểu thấu và làm theo chân lý, chúng phát sinh và tăng trưởng nhờ dạy dỗ và học tập Người có phẩm hạnh trí tuệ là người có tri thức kinh nghiệm, định hướng và làm chủ được trong đời sống của mình 2) Phẩm hạnh luân lý: Phẩm hạnh có được do thói quen làm theo lẽ phải đời thường Mọi phẩm hạnh luân lý phải được học và thực hành, và chúng trở thành đức
Trang 9hạnh qua hành động Con người cảm thấy khoái lạc khi bản thân sống có đức hạnh, khi mình làm điều thiện một cách tự nhiên
Đời sống đạo đức, hạnh phúc của con người không nằm trong thế giới ý niệm trên trời mà nằm trong thế giới hiện thực dưới đất, nơi trần gian; đồng thời chúng phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, nhu cầu của từng người trong cộng đồng xã hội
1.8 Thẩm mỹ học và những tư tưởng kinh tế học của Arixtốt
Vượt qua những bậc thầy tiền bối của mình về mặt nghiên cứu thế giới nghệ thuật, ông đã bước qua ngưỡng cửa của thế giới đầy nhạy cảm này và khai sinh ra một
bộ môn khoa học mới, đó là Thẩm Mỹ Học (Aesthetics) Nghệ thuật được coi là toàn
bộ hoạt động vật chất của con người và sản phẩm của nó Arixtốt đặc biệt nhấn mạnh chức năng mô phỏng theo giới tự nhiên của nghệ thuật Trong số các dạng nghệ thuật Arixtốt đặc biệt đề cao thơ ca, coi đó là ngôn ngữ nói chung Nó bao hàm cả sử thi hài kịch, bi kịch mỗi dạng nghệ thuật có một dạng và tính chất mô phỏng khác nhau
Về Kinh Tế Học, Arixtốt có những quan điểm kinh tế học rất sâu sắc C.Mác đã gọi ông là nhà nghiên cứu vĩ đại, lần đầu tiên trong lịch sử đã hiểu được hình thức giá trị của trao đổi Arixtốt cũng đã nghiên cứu những hiện tượng của đời sống xã hội như: phân công lao động, hàng hóa, trao đổi, phân phối ông cũng đã tìm ra mối liên hệ giữa trao đổi với phân công lao động, sự phân ra gia đình nguyên thủy thành những gia đình nhỏ Khi nghiên cứu trao đổi, Arixtốt đã tiếp cận đến hai hình thức sở hữu: tự nhiên và không tự nhiên; đồng thời cũng đoàn ra một cách tài tình tính hai mặt của giá trị tư tưởng độc quyền và giá cả độc quyền cũng đã xuất hiện trong học thuyết về kinh tế của ông
Trang 10CHƯƠNG II: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ
TƯỞNG TRIẾT HỌC ARIXTỐT
2.1 Giá Trị Tư Tưởng Arixtốt
Được xem là nhà tư tưởng vĩ đại nhất của triết học Hy lạp cổ đại, Arixtốt đã để lại cho nhân loại một di sản triết học đồ sộ đầy giá trị Ảnh hưởng của các ý tưởng, học thuyết và triết học của nhà Đại Hiền Triết Arixtốt đã tỏa rộng, thấm nhập vào ngôn ngữ Khoa Học và Triết Học của nhân loại, giúp ích vào công cuộc tìm hiểu kiến thức
và lương tri
Năm 325, Arixtốt mở trường Lyceum tại Athens Ðược Alexander Ðại đế hỗ trợ, ông lập thảo cầm viên đầu tiên của loài người để làm cơ sở học hỏi Công trình của Arixtốt mà hậu thế có được, phần nhiều là những bài giảng của ông do môn đệ ghi chép và đích thân ông duyệt lại Tới thế kỷ thứ nhất TCN, chúng lại được biên tập thêm lần nữa Trong số đó, chủ yếu là Organum, gồm 6 luận văn về luận lý học; Physics (vật lý học); Metaphysics (siêu hình học); De Anima (bàn về loài vật); Nichomachean Ethics và Eudemian (đạo đức học); Rhetoric (khoa hùng biện); và một chuỗi các tác phẩm về sinh học cùng vật lý học Tới thế kỷ 19, còn tìm được cuốn Constitution of Athens (Hiến pháp Athens), trong đó ông tường trình về chính quyền của thành quốc Athens
Sau năm 460 SCN, cùng với sự suy tàn của đế quốc La Mã, tác phẩm của Arixtốt bị thất lạc ở phương Tây Mãi tới thế kỷ 9, ông mới được học giả A Rập giới thiệu với người Is-lam, và thần học, triết học, khoa học tự nhiên của người Hồi giáo đều mang sắc thái Arixtốt Thông qua các học giả Hồi giáo và Do Thái giáo, tư tưởng của Arixtốt được dẫn nhập trở lại phương Tây trên một qui mô lớn Người ta phát hiện
ở ngay trong những phần còn lại không trọn vẹn của công trình Arixtốt sự phi thường
về hạng mục, tính độc đáo, tính hệ thống hóa đồng nhất của nó
Các tác phẩm của Arixtốt từ lúc đó trở thành nền móng cho triết học kinh viện trung cổ; ảnh hưởng lên phần lớn thần học Công giáo La Mã qua Thomas Aquinas, lên