Phân loại khoa học : POLYPODIACEAE Tên gọi khác : Hầu khương, Hồ tôn khương, Thân khương, Tổ phượng, Tổ rồng, Tổ diều, Tắc kè đá.. Phân loại khoa học: DICKSONIACEAE Tên gọi khác: Kim Ma
Trang 1150 CÂY THUỐC
1. Cốt toái bổ:
Tên khoa học: Drynaria fortunei (Kunze ex Mett.) J Sm.
Phân loại khoa học : POLYPODIACEAE
Tên gọi khác : Hầu khương, Hồ tôn khương, Thân khương, Tổ phượng, Tổ rồng,
Tổ diều, Tắc kè đá
Mô tả :
-Dương xỉ mọc bò, có thân rễ dẹp, mọng nước, phủ lông dạng vẩy màu nâu sét -Lá có 2 loại: lá hứng mùn, xoan, gốc hình tim, mép có răng nhọn, dài 3-5cm, không cuống, phủ kín thân rễ; lá thường sinh sản, có cuống ngắn 4-7cm, phiến dài 10-30cm, xẻ thuỳ sâu, thành 7-13 cặp thuỳ lông chim, dày, dai, không lông -Các túi bào tử xếp hai hàng giữa gân phụ mặt dưới lá; bào tử vàng nhạt, hình trái xoan
Mùa hoa quả :
Phân bố :
Cây mọc phụ sinh trên cây gỗ và đá, ở vùng rừng núi Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Sơn La, Hoà Bình, Hà Nội tới Nghệ An
Trang 2Bộ phận dùng : Thân, rễ đã phơi và sấy khô.
Thành phần hóa học : Tinh bột, flavonoid.
Công dụng : Bổ thận, trị đau xương, đau lưng, mỏi gối, chữa dập xương, ỉa chảy
kéo dài, chảy máu răng
Dùng uống hay đắp ở ngoài Ngày dùng 6 - 12g dạng thuốc sắc hay ngâm rượu
2. Cẩu tích:
Tên khoa học: Cibotium barometz (L).J Sm.
Phân loại khoa học: DICKSONIACEAE
Tên gọi khác: Kim Mao Cẩu Tích, Cu Ly, Nhung Nô, Xích Tiết, Lông Khỉ.
Mô tả:
-Cây có thân thường yếu, nhưng cũng có thể cao 2,5-3m
-Lá lớn có cuống dài 1-2m, màu nâu nâu, ở phía gốc có vẩy hình dải rất dài màu vàng và bóng phủ dày đặc Phiến dài tới 3m, rộng 60-80cm Các lá lông chim ở phía dưới hình trái xoan- ngọn giáo dài 30-60cm Lá lông chim bậc hai hình dải - ngọn giáo, nhọn lại chia thành nhiều đoạn thuôn, hẹp; mặt trên lá màu lục sẫm, mặt dưới màu lục lơ; trục lá không lông; các gân của các lá chét bậc hai có lông len
-Ổ túi bào tử 1 hay 2, có khi 3 hay 4 ở về mỗi bên của gân giữa bậc 3; các túi màu nâu nâu, có 2 môi không đều nhau; cái ở ngoài hình cầu, cái ở trong hẹp hơn, thuôn
Trang 3Mùa hoa quả:
Phân bố: Cây phân bố rất rộng rãi ở ven rừng phục hồi sau nương rẫy và trên các
tràng cây bụi hoặc nơi đất ẩm gần bờ khe suối, rừng núi ở khắp các tỉnh từ Lào Cai Hà Giang, qua Quảng Nam-Đà Nẵng đến Lâm Đồng
Bộ phận dùng: Thân rễ đã cạo sạch lông, phơi hay sấy khô.
Thành phần hóa học: Thân rễ cẩu tích chứa tinh bột (30%) và aspidinol, lông vàng
ỏ thân rễ có tanin và sắc tố
Công dụng:
-Chữa đau khớp, đau lưng, phong thấp, tay chân nhức mỏi, đau dây thần kinh toạ, người già thận yếu đi tiểu nhiều
-Lông vàng quanh thân rễ dùng đắp ngoài chữa các vết thương chảy máu Người
ta thường để nguyên thân rễ với 4 gốc cuống lá tạo hình con vật 4 chân có lông vàng (Kim mao Cẩu tích) rồi phun rượu vào tạo ẩm cho lông mọc nhiều để lấy lông dùng cầm máu Hoặc lấy đoạn thân rễ có lông đem treo lên, thỉnh thoảng lại phun rượu để lông mọc tiếp
3. Kim giao:
Tên khoa học: Nageia fleuryi (Hickel) de Laub.
Phân loại khoa học: PODOCARPACEAE
Tên gọi khác: không có
Mô tả:
- Kim giao là loài cây nhỡ, cao tới 20- 25m Thân thẳng, tán hình trụ, phân cành cao, cành buông Vỏ xám bạc, bỏng mảng, gốc có bạnh vè nhỏ
- Lá hình trái xoan dài, thuôn, đầu nhọn đuôi hình nêm, dài 8- 9cm, rộng 2- 2,5
cm Lá có nhiều gân, gần song song với nhau Lá có khi mọc đối, thường xếp
thành một mặt phẳng - Cây đơn tính khác gốc Hoa tự đực 3,4 cái mọc ở nách lá Hoa cái mọc đơn lẻ, cũng mọc ở nách lá
- Quả hình cầu, có đường kính 1,5- 2 cm Đế mập, cuống dài gần 2 cm
Trang 4Mùa hoa quả: -Cây ra nón vào tháng 5; nón chín vào tháng 11-12.
-Mùa ra quả tháng 10-11
Phân bố: Cây mọc ở rừng thường xanh nhiệt đới mưa ẩm, trên núi đá vôi cũng
như trên núi đất ở độ cao 700-1000m, tại các tỉnh Hà giang, Tuyên quang, Vĩnh phú, Lạng sơn, Hà bắc, Hải hưng, Nam hà, Ninh bình qua Nghệ an, Quảng bình, Thừa thiên - Huế, tới Khánh hoà, Bình thuận
Bộ phận dùng: Lá.
Thành phần hóa học: Nhân hạt chứa 50 - 55 % dầu béo.
Công dụng: Lá cây sắc uống chữa ho ra máu và sưng cuống phổi; cũng dùng làm
thuốc giải độc Trước đây, người ta cho là đũa làm với gỗ cây này có thể phát hiện những vết chất độc trộn lẫn với thức ăn
4. Sa mu:
Tên khoa học:Cunninghamia lanceolata ( Lamb.) Hook
Phân loại khoa học: TAXODIACEAE
Tên gọi khác: Sa mộc.
Mô tả :
-Cây gỗ cao tới 40m hay hơn, có nhánh thường rụng
-Lá xếp theo một mặt phẳng ngang, cứng, dai, dài 3-7cm, rộng 3-4mm, hình dải,
có chóp nhọn, mép răng cưa, cong xuống dưới với một dải lỗ khí màu trăng trắng
ở mặt dưới lá; ở phía này hoặc phía kia của gân giữa
Trang 5- Hoa đực xếp cụm 120 cái, hình trụ thành đuôi sóc ở ngọn, xếp thành nhóm
5-6 cái một Hoa cái hình trứng, đơn hay cụm lại Nón dài 3-4cm, rộng 3cm ở gốc, vẩy có răng, có chóp hình tam giác, tận cùng thành mũi thon
-Hạt hình trái xoan, có cánh hẹp
Mùa hoa quả :
- Hoa đực nở vào giữa cuối tháng 3, hoa cái hình thành vào khoảng tháng 3-4.-Các nón được hình thành sau khi thụ phấn thành công khoảng 10 ngày, các nón hạt chín sau 7-8 tháng
-Vỏ thân, rễ, lá có tác dụng khư phong chỉ thống, tán ứ chỉ huyết
-Tinh dầu dùng để chữa trị các vết thương và đụng giập, xây xát, thâm tím, đau thấp khớp
Trang 65. Trắc bách :
Tên khoa học : Platycladus orientalis (L.) Franco
Phân loại khoa học : CUPRESSACEAE
Tên gọi khác : Trắc bá.
Mô tả :
-Cây nhỏ cao 6-8m, phân nhiều nhánh xếp theo những mặt phẳng thẳng đứng -Lá nhỏ, mọc đối, hình vẩy dẹp, lợp lên nhau, lá ở nhánh non và nhánh già có hình dạng khác nhau
-Nón cái tròn, ở góc các cành Nón quả hình trứng, có 6-8 vẩy dày, xếp đối nhau -Hạt hình trứng, dài đỏ 4mm Vỏ hạt cứng nhẵn, màu nâu sẫm, không có cánh
Mùa hoa quả : Mùa hoa quả tháng 3-9.
Phân bố : Được trồng làm cảnh ở nhiều nơi.
Bộ phận dùng : Cành lá non, hạt Cành non với lá thường dùng với tên Trắc bách
diệp và hạt thường có tên là Bách tử nhân
Thành phần hóa học :
-Lá chứa 0,6-1% tinh dầu, flavonoid, lipid và acid hữu cơ (acid pimaric, acid isopimaric)
Trang 7-Tinh dầu chứa fenchon, camphor, borneol acetat, terpineol Các flavonoid toàn phần 1,72% trong lá tươi gồm myricetin, hinokiflavon, amentoflavon, quercitrin Phân đoạn chứa 81% các acid hữu cơ gồm acid juniperic, acid sabinic, 7%
hexadecan-1,16-diol và một hợp chất 35C sau khi xà phòng hóa
-Gỗ chứa tinh dầu
-Tinh dầu từ quả chứa 40 thành phần trong đó chủ yếu là α-cedrol 36,84%
Công dụng :
-Trắc bách diệp được dùng làm thuốc cầm máu (thổ huyết, đái ra máu, tử cung xuất huyết, băng huyết, rong kinh ), lợi tiểu tiện, chữa ho sốt và làm thuốc đắng giúp sự tiêu hoá
-Bách tử nhân dùng chữa hồi hộp mất ngủ, hay quên, người yếu ra nhiều mồ hôi, táo bón
6. Ngọc lan hoa trắng :
Tên khoa học : Michelia alba DC.
Phân loại khoa học: MAGNOLIACEAE
Tên gọi khác : Bạch ngọc lan, Ngọc lan.
Mô tả :
-Cây gỗ to, cao 10-20m, vỏ xám
-Lá to, dài, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông thưa, đầu nhọn, cuống mảnh
-Hoa đơn độc ở nách lá, lá bắc có lông Bao hoa 10-15 mảnh, hình dải, nhọn, không phân hoá thành đài và tràng, màu trắng, thơm, xếp xoắn ốc, nhị nhiều, lá noãn nhiều xếp theo đường xoắn ốc trên đế hoa đài
-Quả kép hình nón, gồm nhiều đại, mỗi đại có 1-8 hạt, hình trứng
Trang 8Mùa hoa quả: Mùa hoa tháng 4-9.
Phân bố: Cây thường được trồng làm cảnh trong các vườn, trong công viên các
thành phố, khá phổ biến ở đồng bằng miền Nam
Bộ phận dùng: Hoa, rễ, lá.
Thành phần hóa học:Hoa có tinh dầu 0,0125%, trong đó có linalol, metyl
cugenol, metyl etyl, acetic ester, acid acetic Lá cũng có tinh dầu
Công dụng:
-Hoa có thể dùng chế nước hoa và dùng trị: 1 Viêm phế quản, ho gà; 2 Đau đầu, chóng mặt, đau ngực; 3 Viêm tiền liệt tuyến, bạch đới
-Ở Philippin người ta dùng nước sắc hoa cho người bị sẩy thai uống
- Lá dùng chưng cất tinh dầu và trị: 1 Viêm phế quản mạn tính; 2 Bệnh đường tiết niệu, giảm niệu
- Rễ dùng trị bệnh đường tiết niệu, mụn nhọt và viêm mủ da
-Liều dùng: Hoa 6-12g; lá, rễ 15-30g, dạng thuốc sắc Dùng ngoài, lấy lá tươi giã đắp
7. Dẻ:
Tên khoa học: Desmos chinensis Lour.
Phân loại khoa học : ANNONACEAE
Trang 9Tên gọi khác : Giẻ, Hoa dẻ thơm, Nối côi, Chập chại, Kê trảo quả, Hoàng chỉ, Tửu tỉnh.
Mô tả :
-Cây nhỡ mọc trườn, cao 1-3m; nhánh non có lông nâu
-Lá có phiến bầu dục tròn dài, mốc ở mặt dưới, gốc tròn hay hình tim
-Hoa thường đối diện với lá; cánh hoa 6, màu lục vàng, dài tới 8cm, rộng 1-2cm; nhị cao 1,5cm; lá noãn nhiều
-Quả mọng không lông, hình chuỗi 1-4 hạt
Mùa hoa quả : Mùa hoa vào tháng 6
Phân bố : Cây mọc ven rừng, bụi, cao độ thấp, từ Hà Giang, Yên Bái, Lạng Sơn,
Quảng Ninh, Bắc Thái, Hà Bắc, Vĩnh Phú, Hà Tây, Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá tới Khánh Hoà, Kontum, Lâm Ðồng, Ðồng Nai
Trang 10-Ở Trung Quốc, người ta dùng rễ và lá trị 1 Ðau dạ dày, tiêu hoá kém; 2 Trướng bụng và ỉa chảy; 3 Ðau bụng trước khi sinh và xuất huyết, thống kinh; 4 Thấp khớp đau nhức xương; 5 Viêm thận, phù thũng Liều dùng 15-40g, dạng thuốc sắc Dùng ngoài trị đòn ngã tổn thương Dùng lá tươi giã nát thêm rượu và đắp vào chỗ đau.
8. Nhục đậu khấu :
Tên khoa học : Myristica fragrans Houtt.
Phân loại khoa học: MYRISTICACEAE
Tên gọi khác: Nhục quả, Ngọc quả.
Mô tả:
-Cây to, cao 8-10m, thân nhẵn
-Lá mọc so le, màu xanh đậm, cuống dài, phiến lá hình mác rộng hay hình trái xoan dài -15cm, rộng 3-7cm, mép nguyên; cuống dài 7-10mm Hoa khác gốc, màu vàng trắng, mọc thành xim dạng tán ở nách lá
-Quả mọng, thõng xuống, hình cầu hay hình quả lê, đường kính 5cm, mở theo chiều dài thành 2 van
-Hạt có vỏ dày, cứng, nội nhũ bị gặm sâu và bao bởi một áo hạt xẻ tua màu hồng
Trang 11Mùa hoa quả: Quanh năm.
Phân bố: Miền nam nước ta.
Bộ phận dùng: Hạt, có khi dùng quả và gỗ.
Thành phần hóa học:
-Hạt chín khô chứa 5-10% dầu bay hơi và 25-40% dầu cố định
-Nhân hạt chứa 23-27% một chất béo, gọi là bơ Nhục đậu khấu màu vàng đỏ, vị đắng, 2-3% dầu bay hơi, acid myristic và tinh bột Bơ chứa 10-12% nhiều chất béo trong đó myristin khi savon hoá sẽ cho glycerin và acid myristic Dầu bay hơi không màu, có mùi nồng, đậm và có tính nhớt
-Áo hạt chứa 8% tinh dầu, chất nhựa và chất pectin, cũng chứa các chất béo tương tự như ở hạt
-Lá chứa 0,41-0,62% tinh dầu; lá khô chứa 1,50% tinh dầu bao gồm 80% a-pinen
và 10% myristicin
Công dụng:
Trang 12-Được dùng làm thuốc và dùng trong thuốc tễ dẻo ngọt trị lỵ, ỉa chảy mất trương lực, đau dạ dày, đầy hơi, buồn nôn, mửa, suy mòn, sốt rét, thấp khớp, đau thần kinh toạ và giai đoạn đầu của bệnh phong Dùng dưới dạng bột hay dạng thuốc viên Ngày uống 0,25-0,50g, có thể dùng từ 2-4g Nhưng dùng liều cao, dễ bị ngộ độc, gây say.
-Bơ Đậu khấu, dùng xoa bóp ngoài chữa tê thấp mạn tính, đau người
-Ở Thái Lan, gỗ được dùng làm thuốc hạ nhiệt, bổ phổi và gan; hạt dùng bổ, lợi trung tiện, dùng chống co tử cung, trị ỉa chảy; áo hạt làm thuốc bổ máu
9. Đại hồi:
Tên khoa học: Illicium verum Hook.f.
Phân loại khoa học: ILLICIACEAE
Tên gọi khác: Hồi.
3 Hoa mọc đơn độc ở nách lá, có khi xếp 2-3 cái; cuống to và ngắn; 5 lá đài màu trắng có mép màu hồng; 5-6 cánh hoa đều nhau màu hồng thẫm
- Quả kép gồm 6-8 đại (có khi hơn), xếp thành hình sao đường kính 2,5-3cm, lúc non màu lục, khi già màu nâu sẫm, mỗi đài dài 10-15mm, có mũi nhọn ngắn ở đầu
-Hạt hình trứng, nhẫn bóng
Trang 13Mùa hoa quả:
Mùa hoa tháng 3-5
Mùa quả tháng 6-9
Phân bố: Hồi được trồng phổ biến ở các huyện phía Bắc của tỉnh Lạng Sơn, một
số nơi ở Cao Bằng, và vài nơi khác ở Bắc Thái, Quảng Ninh
Bộ phận dùng: Quả Hồi thường gọi là Bát giác hồi hương, Tinh dầu Hồi.
Thành phần hóa học:
-Quả hồi chứa nhiều tinh dầu, nếu cất bằng phương pháp kéo hơi nước từ quả hồi tươi thì đạt hàm lượng 3-3,5%, tinh dầu lỏng, không màu hoặc màu vàng nhạt, có mùi thơm đặc biệt
-Thành phần chủ yếu của tinh dầu hồi là anethol (80-90%); ngoài ra còn có pinen, d-pinen, l-phellandren, safrol, terpineol, limonen
a Lá hồi cũng chứa tinh dầu nhưng độ đông đặc hơi thấp hơn
-Hạt hồi không mùi, chỉ chứa dầu béo
Công dụng:
-Thường dùng trị nôn mửa và ỉa chảy, bụng đầy trướng, đau ruột sán khí (đau xuyên bụng dưới lên)
Trang 14-Còn dùng trị đái nhiều, đái dầm, ngộ độc thịt cá, trị tay chân nhức mỏi Ngày dùng 4-8g dạng thuốc hãm, thuốc sắc, hoặc 1-4g quả dạng thuốc bột
-Người ta cũng dùng quả ngâm rượu làm thuốc xoa bóp ngoài da
-Lá Hồi dùng trị rắn cắn (nhai nuốt nước, lấy bã đắp) Hồi còn được dùng làm rượu khai vị, làm thơm thuốc đánh răng và gia vị
-Tinh dầu Hồi cũng có tác dụng kích thích, làm dễ tiêu, chống co giật, ức chế sự lên men ruột, gây trung tiện, long đờm và lợi tiểu nhẹ, được dùng chữa đau bụng; là thành phần của thuốc ngậm chữa ho và là thuốc xoa bóp chữa thấp khớp, thuốc chữa đau tai, sát khuẩn, trị bệnh nấm da và ghẻ
-Còn dùng làm thuốc diệt rận, rệp và là thành phần của thuốc bơm trừ sâu bọ cho gia súc
10 Long não:
Tên khoa học: Cinnamomum camphora (L.) Presl
Phân loại khoa học: LAURACEAE
Tên gọi khác: Rã hương.
-Hoa nhỏ màu vàng lục, mọc thành chùm ở nách lá, đầu cành
-Quả mọng hình cầu, đường kính 6-8mm, khi non màu xanh bóng, lúc chín màu tím đen
Trang 15Mùa hoa quả:
-Lá và hạt dùng đốt lấy hơi xông đuổi muỗi
-Dùng rễ, thân 15-30g, quả 10-15g, dạng thuốc sắc
Trang 16-Dùng ngoài giã lá tươi và cành nhỏ để đắp ngoài hoặc nấu nước rửa
-Người ta dùng rễ, gỗ cất tinh dầu dùng tiêm có tác dụng hồi sức tim, chữa truỵ tim, dùng thuốc viêm dầu long não hoặc natri camphosulfonat
-Dùng uống chữa đau bụng, sốt, viêm họng, liệt dương
-Dùng ngoài sát khuẩn, tiêu viêm, giảm đau, trị mụn lở ngứa, đau dây thần kinh, thấp khớp, tê dại; dùng long não pha cồn 10% để xoa bóp
11 Quế:
Tên khoa học: Cinamomum cassia Presl
Phân loại khoa học: LAURACEAE
Tên gọi khác: Quế đơn, Quế bì.
Mô tả:
-Cây gỗ lớn cao 10-20m Vỏ thân nhẵn
-Lá mọc so le, có cuống ngắn, cứng và giòn, đầu nhọn hoặc hơi tù, có 3 gân hình cung Mặt trên lá xanh sẫm bóng
-Cụm hoa hình chùm xim ở nách lá hoặc ở ngọn cành Hoa màu trắng
-Quả hạch, hình trứng, khi chín màu nâu tím, nhẵn bóng
Mùa hoa quả:
Mùa hoa tháng 6-8
Mùa quả từ tháng 10-12 tới tháng 2-3 năm sau
Trang 17Phân bố: Cây mọc hoang trong rừng phổ biến từ miền Bắc vào Trung, trên dãy
Trường Sơn Còn được trồng ở nhiều nơi Trồng bằng hạt hoặc bằng cành
Bộ phận dùng: Vỏ thân, vỏ cành thường gọi là Nhục quế.
Thành phần hóa học:
Vỏ giàu tanin (5%) và chứa tinh dầu (1,2-1,5%) nhưng tinh dầu lại giàu aldehyd cinnamic (80,85%) Không có eugenol nhưng có một lượng nhỏ acid cinnamic, acetat cinnamyl và o-methoxycinnamaldehyd; còn có cinnzeylanol, cinnzeylanin
Công dụng:
-Chữa đau dạ dày và đau bụng, ỉa chảy, choáng, cảm lạnh, buốt các ngón tay chân, ho hen, đau khớp và đau lưng, bế kinh, thống kinh, huyết áp cao, tê cóng.-Dùng vỏ 0,9-3g cho vào cốc và pha nước sôi, đậy kín một lát rồi uống Cũng có thể dùng 1-4g ngâm rượu hoặc sắc uống Hoặc dùng bột, mỗi lần 0,5-2,5g uống với nước ấm
12 Hoa sói:
Tên khoa học: Chloranthus spicatus (Thunb.) Makino
Phân loại khoa học: CHLORANTHACEAE
Tên gọi khác: Sói.
Mô tả:
-Cây thảo cứng cao 0,5-1,5m; thân tim tím, phủ trên mấu
-Lá có phiến xoan rộng, dài 4-10cm, rộng 2-5cm, nhẵn bóng, không lông, gân phụ 5-7 cặp, mép có răng sắc, nhọn, cuống 1-2cm, tim tím
-Bông kép ở ngọn, nhánh dài 2-3cm; lá bắc vàng; hoa có 3 nhị, xanh hay vàng xanh
-Quả hạch nhỏ vàng xanh
Trang 18Mùa hoa quả: Ra hoa vào mùa hạ, mùa thu.
Phân bố: Cây thường trồng làm cảnh.
Bộ phận dùng: Toàn cây ở Trung Quốc gọi là Kim tắc lan.
Thành phần hóa học: Hoa và rễ có tinh dầu.
Công dụng:
-Hoa tươi dùng để ướp trà, còn dùng hãm uống chữa ho
-Cây bỏ rễ dùng trị dao chém, gãy xương, viêm xương, thiên đầu thống; lỏ dựng trị ho do lao lực; rễ trị đinh nhọt
-Dùng ngoài giã đắp chữa cho người già bị đòn ngã
-Toàn cây làm thuốc trị cảm mạo, phong thấp đau tê nhức khớp xương, đòn ngã tổn thương, đao chém xuất huyết, động kinh, tử cung rủ xuống
13 Diếp cá:
Tên khoa học: Houttuynia cordata Thunb.
Phân loại khoa học: SAURURACEAE
Tên gọi khác: Rau giấp, Cây lá giấp, Giấp cá.
Mô tả:
-Cây thảo cao 15-50cm; thân màu lục hoặc tím đỏ
-Lá mọc so le, hình tim, có bẹ, khi vò ra có mùi tanh như mùi cá