1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài tiểu luận môn Thuế Nhà đất ppt

53 946 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 187,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tiểu luận môn Thuế Nhà đấtĐề tài : “ Thực trạng và những vấn đề cần giải quyết trong công tác thu, nộp và quản lý thuế của nước ta hiện nay.. Nội dung và phạm vi nghiên cứu Tìm hiểu

Trang 1

Bài tiểu luận môn Thuế Nhà đất

Đề tài : “ Thực trạng và những vấn đề cần giải quyết trong công tác thu, nộp

và quản lý thuế của nước ta hiện nay Đưa ra một số giải pháp cần giải quyết một số tồn tại trong công tác quản lý,

thu, nộp thuế Nhà đất

Trang 2

Phần 1 : Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Xuất phát từ đặc điểm của thuế là điều tiết thu nhập

của dân cư, nhà nước không hoàn trả trực tiếp, ngang giá cho người nộp thuế, mà chỉ thông qua việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng Nhà nước cần phải thu đúng, thu đủ để đảm bảo chi cho các mục tiêu trên, còn người nộp thuế thường muốn nộp thuế càng ít càng tốt

Trang 3

1.1 Tính cấp thiết của đề tài(tiếp)

Do đó khi ý thức tự giác chấp hành pháp luật thuế

của người dân chưa cao thì tình trạng trốn thuế, nợ thuế là điều không thể tránh khỏi, dẫn đến công

tác thuế luôn gặp những khó khăn nhất định

Vì vậy, công tác thuế không phải chỉ riêng của ngành thuế mà phải có sự tham gia của nhiều tổ chức cá nhân, nhiều cấp, nhiều ngành, nhằm tạo sự đồng thuận, sự phối hợp trong công tác thu ngân sách

Trang 4

Phần 1 : Đặt vấn đề(tiếp)

1.2 Mục tiêu của đề tài

Tìm hiểu công tác thu nộp thuế của Nhà nước ta hiện

nay Những thuận lợi và khó khăn trong công tác thu nộp thuế hiện nay ra sao?

1.3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu

Tìm hiểu : “Thực trạng và những vấn đề cần giải

quyết trong công tác thu, nộp thuế của Nhà nước

ta hiện nay Đưa ra một số giải pháp cần giải

quyết một số vấn đề cồn tồn tại trong công tác

quản lý và thu nộp thuế Nhà đất.”

Trang 5

Phần 2 : Tổng quan về địa bàn

nghiên cứu

2.1 Vị trí

địa lý

Trang 6

đông nam trông ra biển Đông và Thái Bình Dương

Bờ biển Việt Nam dài 3 260 km, biên giới đất liền dài

4 510 km Trên đất liền, từ điểm cực Bắc đến điểm cực Nam (theo đường chim bay) dài 1 650km, từ

điểm cực Đông sang điểm cực Tây nơi rộng nhất

600km (Bắc bộ), 400 km (Nam bộ), nơi hẹp nhất

50km (Quảng Bình)

Trang 7

Toạ độ địa lý trên đất liền: Điểm cực Bắc 23023'B (xã Lũng

Cú, Đồng Văn, Hà Giang) Điểm cực Nam 8034'B (Xóm

Mũi, xã Đất Mũi, Ngọc Hiển, Cà Mau) Điểm cực Tây

102010'Đ (dãy Khoan La San, xã Sìn Thầu, Mường Nhé,

Điện Biên) Điểm cực Đông 109024'Đ (trên bán đảo Hòn Gốm thuộc xã Vạn Thạnh, Vạn Ninh - Khánh Hòa) Lãnh thổ nước ta hẹp ngang, trải dài trên nhiều vĩ độ (15 vĩ độ)

Trang 8

giờ, nhiệt bức xạ trung bình năm 100kcal/cm².

Trang 9

2.3 Đặc điểm địa hình

Lãnh thổ Việt Nam bao gồm ba phần tư là đồi núi nhưng chủ yếu là đồi núi thấp, hai đồng bằng lớn, nhiều sông, ngòi và có bờ biển dài.

Phần đất liền (Bốn vùng núi chính)

Hai đồng bằng lớn

Vùng biển

Trang 10

2.4 Các nguồn tài nguyên

Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú như: tài nguyên

rừng, tài nguyên thủy hải sản, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên du lịch và tài nguyên đất.

2.4.1 Tài nguyên rừng

Rừng của Việt Nam có nhiều loại cây gỗ quý như: đinh, lim, sến, táu, cẩm lai, gụ, trắc, pơ mu Tính chung, các loài

thực vật bậc cao có tới 12.000 loài Cây dược liệu có tới

1.500 loài Lâm sản khác có nấm hương, nấm linh chi, mộc nhĩ, mật ong Về động vật, ước tính ở Việt Nam có 1.000 loài chim, 300 loài thú, 300 loài bò sát và ếch nhái, chưa kể các loài côn trùng

Trang 11

2.4 Các nguồn tài nguyên(tiếp)

2.4.2 Tài nguyên thuỷ hải sản

Diện tích mặt nước kể cả nước ngọt, nước lợ và

nước mặn là nguồn tài nguyên phong phú về tôm, cá trong đó có rất nhiều loài quý hiếm Chỉ tính riêng ở biển đã có 6.845 loài động vật, trong đó có 2.038 loài cá, 300 loài cua, 300 loài trai ốc, 75 loài tôm, 7 loài mực, 653 loài rong biển Nhiều loài cá thịt ngon, giá trị dinh dưỡng cao như cá chim, cá thu, mực Có những loài thân mềm ngon và quý như hải sâm, sò, sò huyết, trai ngọc

Trang 12

2.4 Các nguồn tài nguyên(tiếp)

2.4.3 Tài nguyên nước

Việt Nam được xếp vào hàng những quốc gia có

nguồn nước dồi dào Diện tích mặt nước lớn và

phân bố đều ở các vùng Sông suối, hồ đầm, kênh rạch, biển chính là tiền đề cho việc phát triển giao thông thuỷ; thuỷ điện; cung cấp nước cho trồng trọt, sinh hoạt và đời sống

Hệ thống suối nước nóng và nước khoáng, nước ngầm cũng rất phong phú và phân bố khá đều trong cả

nước

Trang 13

2.4 Các nguồn tài nguyên(tiếp)

2.4.4 Tài nguyên khoáng sản

Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng:

than (trữ lượng dự báo khoảng trên 6 tỉ tấn); dầu khí (ước trữ lượng dầu mỏ khoảng 3-4 tỷ thùng và khí đốt khoảng 50-70 tỷ mét khối); U-ra-ni (trữ lượng

dự báo khoảng 200-300 nghìn tấn, hàm lượng U3O8 trung bình là 0,1%); kim loại đen (sắt, măng gan,

titan); kim loại màu (nhôm, đồng, vàng, thiếc,

chì ); khoáng sản phi kim loại (apatit, pyrit )

Trang 14

2.4 Các nguồn tài nguyên(tiếp)

2.4.5 Tài nguyên du lịch

Việt Nam là đất nước thuộc vùng nhiệt đới, bốn mùa xanh tươi Địa hình có núi, có rừng, có sông, có biển, có đồng bằng và có cả cao nguyên Núi non đã tạo nên những vùng cao có khí hậu rất gần với

ôn đới, nhiều hang động, ghềnh thác, đầm phá, nhiều điểm nghỉ dưỡng và danh lam thắng cảnh như: Sa Pa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Đà Lạt (Lâm Đồng), núi Bà Đen (Tây Ninh) ; động Tam Thanh (Lạng Sơn), động Từ Thức (Thanh Hoá), Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) ; thác Bản

Giốc (Cao Bằng), hồ Ba Bể (Bắc Kạn), hồ thuỷ điện Sông Đà (Hoà Bình - Sơn La), hồ thuỷ điện Trị An (Đồng Nai), hồ thuỷ điện Yaly (Tây Nguyên), hồ Thác Bà (Yên Bái), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh)

Trang 15

2.4 Các nguồn tài nguyên(tiếp)

2.4.6 Tài nguyên đất

Tổng số vốn đất đai tự nhiên ở Việt Nam là 33 triệu ha,

đứng hàng thứ 60 so với các nước trên thế giới, nhưng do

số dân đông (đứng hàng thứ 13 trong 205 nước) trên thế giới cho nên số ha đất tự nhiên/đầu người thấp, chỉ vào

khoảng 0,51 ha Đất nông nghiệp hiện có khoảng 6,9 triệu

ha, chiếm 21% so với đất tự nhiên, nếu tính diện tích đất nông nghiệp/đầu người, chỉ vào khoảng 0,4 ha, hiện nay giảm còn 0,1 ha, đây là một chỉ tiêu vào loại thấp nhất thế giới, nếu so với toàn thế giới thì số liệu VN nhỏ hơn 12

lần (thế giới 1,2 ha đất nông nghiệp/đầu người)

Trang 16

Phần 3 : Kết quả nghiên cứu

3.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

Những động năng của cải cách thuế có thể được tập trung vào bốn khía cạnh: tài khóa, kinh tế, chính trị,

và hành chính Đối với khía cạnh tài khóa, hoạt

động cải cách thuế là nhằm làm tăng thu ròng cho ngân sách Các nhà kinh tế thường xem đây là một thước đo quan trọng nhất để đánh giá sự thành công hay thất bại của chiến lược cải cách thuế

Trang 17

3.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

(tiếp)

Trong điều kiện Việt Nam, tình trạng thâm hụt ngân sách quá cao trong nhiều năm đã đặt ra một yêu cầu phải cơ cấu lại cán cân ngân sách, trong đó cải cách thuế trên cơ sở gia tăng nguồn thu là một nhánh của quá trình

Tăng nguồn thu ròng cho ngân sách được định nghĩa bao gồm

cả số tuyệt đối và số tương đối Trong khi nhu cầu chi tiêu ngân sách của Việt Nam ngày càng tăng nhanh do yêu cầu của tiến trình phát triển kinh tế và quá trình công nghiệp

hóa, hiện đại hóa thì những nguồn tài trợ cho nhu cầu đó lại không tăng nhanh tương ứng

Trang 18

Việc hội nhập vùng và gia nhập WTO buộc Việt Nam phải cắt giảm các hạng mục thuế ngoại thương, trong khi cơ sở thuế của các sắc thuế khác không được mở rộng cho phù hợp với yêu cầu phát triển mới Như vậy, tăng số thu ngân sách

tuyệt đối phải phù hợp với nhu cầu chi tiêu ngân sách và

những cơ sở để đảm bảo khả năng tăng thu

Trang 19

3.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

(tiếp)

Quy mô của hoạt động thu ngân sách cũng cần phải

được so sánh với quy mô nền kinh tế từng thời kỳ Không nhất thiết phải duy trì một tỷ lệ quá cao giữa tổng thu ngân sách so với GDP bởi như vậy quy mô của khu vực công có thể là quá lớn sẽ gây nên hiệu ứng chèn lấn đầu tư khu vực tư nhân, trong khi điều đáng nói là hiệu quả đầu tư của khu vực công luôn thấp hơn so với khu vực tư nhân Tuy nhiên, một tỷ

lệ quá thấp cũng gây áp lực lên các hoạt động chi

tiêu công, giảm các phản ứng chủ động linh hoạt của chính phủ trước các bất ổn vĩ mô có thể phát sinh

Trang 20

3.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

(tiếp)

Tạo ra một cơ cấu thu ngân sách hợp lý và bền vững hơn cũng là một mục tiêu quan trọng của cải cách thuế Hiện tại cơ cấu nguồn thu ngân sách của Việt Nam đang dần trở nên bất hợp lý, do quá phụ thuộc vào xuất khẩu dầu thô, ngoại thương, và doanh

nghiệp nhà nước, trong khi những nguồn thu này lại thiếu tính bền vững Chính vì vậy, chiến lược cải

cách thuế còn phải hướng đến tái cấu trúc nguồn thu thuế, đảm bảo tính bền vững hơn cho ngân sách

trong dài hạn

Trang 21

3.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

(tiếp)

*Vấn đề hiệu quả trong phân bổ nguồn lực

Cải cách thuế còn phải làm tăng tính hiệu quả trong

việc phân bổ nguồn lực vốn có tính hữu hạn của nền kinh tế Do một chính sách thuế bất kỳ sẽ làm thay đổi hành vi của các thực thể trong nền kinh tế, nên việc cải cách thuế sẽ giúp điều chỉnh lại các khuynh hướng tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế, khuyến khích khởi nghiệp và tinh thần doanh nhân.

Trang 22

3.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

(tiếp)

Thông qua các chính sách thuế, chính phủ có thể tạo ra các

động cơ khuyến khích có tính kinh tế để khu vực tư nhân

phân bổ vốn và các ngành nghề và lĩnh vực mục tiêu, hơn là các can thiệp hành chính gây méo mó các quan hệ thị

trường Một số dạng thức thị trường mới nổi ở Việt Nam

như thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản rất cần

có các chính sách thuế mới của Chính phủ để điều tiết và

phân bổ lại nguồn lực thích hợp Nguyên tắc quan trọng là cải cách thuế phải làm giảm tổn thất phúc lợi vô ích của xã hội bằng cách tạo ra một sắc thuế có mức thuế suất thấp

nhưng có cơ sở thuế rộng hơn

Trang 23

3.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

(tiếp)

* Vấn đề hành chính thuế

Hệ thống quản lý thu thuế ở Việt Nam được đánh giá

là kém hiệu quả, trong khi mức độ tuân thủ của

người nộp thuế thấp Do vậy, khía cạnh hành chính thuế ở Việt Nam vừa mang tính mục tiêu, vừa mang tính hỗ trợ cho các cuộc cải cách thuế Cải cách

hành chính thuế phải tập trung vào ba lĩnh vực bao gồm giảm sự quá tải của hệ thống quản lý thuế,

giảm chi phí tuân thủ thuế và giảm chi phí quản lý thu thuế.

Trang 24

3.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

(tiếp)

Sự quá tải của hệ thống quản lý thuế hiện nay không chỉ cho thấy sự gia tăng về quy mô và tính phức tạp của hệ thống thuế mà còn là sự lạc hậu của mô hình quản lý thuế cũ

không theo kịp với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh

tế Thực trạng đó cho thấy sự cần thiết phải thay đổi một cách căn bản và toàn diện phương thức quản lý một hệ

thống thuế mới phù hợp hơn, có tính động và hiệu quả

hơn Giảm chi phí tuân thủ thuế cũng là một mục tiêu

quan trọng Do hệ thống thuế hiện nay quá phức tạp và

rườm rà trong các thủ tục hành chính đã làm tăng các chi phí tuân thủ thuế của người nộp thuế

Trang 25

3.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

(tiếp)

Một số điều tra cho thấy các doanh nghiệp hàng năm phải mất trên 1.000 giờ cho các thủ tục liên quan đến thuế Nếu nhân con số này với số doanh nghiệp nộp thuế sẽ thấy được một

sự lãng phí ghê gớm về mặt nguồn lực mà nền kinh tế phải

bỏ ra hàng năm Bên cạnh đó, việc giảm chi phí quản lý thu thuế cũng là một đòi hỏi cần thiết Một phần lý do chi phí này quá cao nằm ở hệ thống quản lý thuế quá cồng kềnh lại không hiệu quả, phần khác do sự suy giảm về sức thu trong một số sắc thuế Yêu cầu của cải cách thuế không chỉ là tái

cơ cấu lại nguồn thu như đã đề cập ở trên mà còn phải tái cơ cấu lại cách thức quản lý hệ thống hành thu của các cơ quan thuế trên cơ sở giảm chi phí và tăng hiệu quả quản lý thuế

Trang 26

3.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

(tiếp)

* Những trở ngại của cải cách thuế

Việc cải cách thuế chắc chắn sẽ gặp nhiều trở ngại do nó đụng chạm đến lợi ích của nhiều nhóm dân cư khác nhau Thật không dễ để lấy thêm một phần lợi ích của ai đó mà không gây nên sự phản ứng hay chống đối Các quyết tâm chính trị

là quan trọng nhưng điều quan trọng hơn là phải dành được

sự ủng hộ về mặt xã hội trên cơ sở những lợi ích có tính rõ ràng hơn hay có thể nhìn thấy trước mà việc cải cách thuế mang lại Các giới hạn về mặt nguồn lực như thông tin, con người, tài chính hay công nghệ cũng sẽ làm ảnh hưởng đến tiến trình cải cách thuế theo hướng kìm hãm hay thúc đẩy

Trang 27

3.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

(tiếp)

Một trở ngại quan trọng mang tính tâm lý là mặc cảm “không thể thay đổi” Khi khó khăn mới chỉ khởi phát thì người ta vẫn còn lạc quan, nhưng chính sự lạc quan đó lại dẫn đến chủ quan không làm gì để giải quyết sẽ dẫn đến khủng

hoảng hệ thống Lúc này, khó khăn quá lớn, lại liên quan

đến nhiều khía cạnh khác nhau trong các quan hệ, khiến cho người ta có cảm giác thật khó để thay đổi để rồi chấp nhận sống chung với nó Vượt qua trở ngại tinh thần này cũng

không dễ nhưng bài học lịch sử nhắc lại rằng thời điểm khó khăn nhất chính là lúc dễ cải cách nhất

Trang 28

3.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

(tiếp)

Một số lời khuyên từ bên ngoài là cần thiết và

có thể lắng nghe nhưng không phải khi nào cũng thích hợp để thực hiện Các lời khuyên theo kiểu quá tô hồng thành tích sẽ tạo nên tâm lý tự mãn, trong khi các đánh giá thái quá có thể làm triệt tiêu các động lực cải

cách

Trang 29

Trong lĩnh vực tài chính, nhà nước đã tiến hành cải cách hệ thống thuế nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển các thành phần kinh tế một cách bình đẳng trong

quá trình sản xuất kinh doanh

Trang 30

3.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

(tiếp)

Trên cơ sở cải cách thuế giai đoạn I (1986 – 1995) và những kết quả ban đầu của cải cách thuế giai đoạn II (1996 –

2005), một hệ thống thuế mới có tính hiện đại, thống nhất

đã được hình thành và củng cố ở nước ta

Tính đến nay, hệ thống thuế nước ta bao gồm 9 sắc thuế chủ yếu, được chế tài bằng 6 luật, 3 pháp lệnh, áp dụng thống nhất đối với mọi đối tượng nộp thuế của các thành phần

kinh tế Các khoản thu khác có quy mô nhỏ, mang tính chất chi phí, lệ phí như thuế môn bài, lệ phí trước bạ được quy định bởi các văn bản pháp quy có giá trị pháp lý thấp hơn, tạo nên nguồn thu của ngân sách nhà nước

Trang 31

3.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

(tiếp)

Dưới góc độ pháp luật, so với thời kỳ trước đổi mới,

có thể thấy rằng việc luật pháp hóa chế độ thuế là tiến bộ quan trọng của ngành tài chính trong quá

trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Về cơ bản, thuế

và các nguồn thu ngân sách nhà nước đã được chế tài bằng pháp luật Nghĩa vụ và trách nhiệm của đối tượng nộp thuế được xác định công khai bằng pháp luật Trên cơ sở đó, nguồn thu ngân sách nhà nước được ổn định và Chính phủ có cơ sở pháp lý để chủ động điều hành ngân sách nhà nước.

Trang 32

cơ bản khoảng 10% so với trước đây vì số thuế này được

hạch toán riêng không tính vào giá thành công trình như

thuế doanh thu

Trang 33

3.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

(tiếp)

Thuế giá trị gia tăng còn thúc đẩy sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hóa vì chỉ tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ, nhờ đó khắc phục được nhược điểm đánh thuế trùng của thuế doanh

Chính sách thuế đã bắt đầu phát huy được tác dụng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Hệ thống thuế được áp dụng

thống nhất đã tạo ra môi trường bình đẳng về pháp luật cho

sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Chính sách thuế từng bước tạo ra sự công bằng về nghĩa vụ nộp thuế giữa các đối tượng khác nhau, góp phần thúc đẩy đầu tư vốn, cải tiến

công nghệ, tăng năng suất lao động, giảm giá thành …

Ngày đăng: 10/08/2014, 17:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w