I Nguồn gốc đặc điểm và quá trình phát triển nguồn gốc Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.. Các nhóm người Thá
Trang 1Dân Tộc Thái
( 傣人 )
Nhóm trình bày
Tổ 4
Trang 2I Nguồn gốc đặc điểm và quá trình phát triển
nguồn gốc Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của
người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Trong cuốn sách cổ "Quam tô mương" (kể chuyện mường) của người Thái
Quá trình phát triển
•
Trang 3Nơi khởi nguồn của người Thái
Trang 4Đèo Văn Trị
Trang 5Phân bố
• theo tổng điều tra dân số năm 2009,
người Thái có số dân là 1.550.423 Người
Thái cư trú tập chung tại các tỉnh: Sơn
La(572.441 ) Nghệ An (295.132 )Thanh
Hóa (225.336 ), Điện Biên (186.270), Lai
Châu (119.805), Yên Bái (53.104), Hòa
Bình (31.386 iĐăk Lăk (17.135 ), Đăk Nông
(10.311 )
Trang 6Các nhóm người Thái
Người Thái Trắng (Táy Đón hay Táy Khao )
Nhóm Thái Đen (Táy Đăm)
Nhóm Thái Đỏ, gồm nhiều nhóm khác nhau
Trang 7Đặc điểm nhận dạng
Người Thái Trắng
Nhìn chung, phụ nữ Thái trắng mặc áo
màu trắng và có cổ hình chữ V ở phía
trước Khăn đội đầu có màu trắng trơn
Váy dài, có màu xanh chàm đậm hoặc đen
với cạp quấn màu trắng, màu xanh hoặc
màu đỏ Áo tương đối ngắn, đôi khi họ
lại để hở một khoảng giữa váy và áo
Trang 8Váy quấn của phụ nữ Thái trắng ở phía nam
có ba đoạn: Cạp váy hay còn gọi là phần phía trên ngực, phần chính của cơ thể và đường viền Hoa văn rất khác nhau
phụ nữ Thái trắng mặc váy quấn, đen trơn và
có thắt lưng làm bằng cốt tông hoặc tơ tằm màu xanh hoặc màu tím nhạt
Trang 9Người Thái Đen
Quần người phụ nữ thái Thái đen, được làm
bằng cốt tông trắng và pha lẫn những
đường kẻ xọc màu tối hệp
Trang 10Kinh tế
• Người Thái thường định cư ở những vùng
thung lũng màu mỡ ven các con sông
suối, họ là cư dân nông nghiệp canh tác
cây lúa nước từ lâu đời, đồng bào có
nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương,
dựng con, bắc máng lấy nước làm ruộng
Trang 11Nghề dệt Thổ Cẩm
• Nghề dệt, một nghề thủ công lâu đời và
đặc sắc của dân tộc Thái với những chiếc
khăn thổ cẩm được dệt với những đường
nét tinh xảo
Trang 12Văn hóa tín ngưỡng
Ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ gốc Thái
của hệ ngôn ngữ Thái-kada
Trang 13Hôn nhân
• hôn nhân theo kiểu phụ hệ, nhưng từ
trước tới nay, tộc người này vẫn duy trì
tục ở rể, gửi rể có 2 bước cơ bản
•
Cưới lên (đong khửn)
Trang 14Lễ Tằng Cẩu
Trang 15Tục lệ Ma Chay
• đám ma là lễ tiễn người chết về "Mường
trời"
• Lễ tang có 2 bước cơ bản:
• Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người
chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng
chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen)
• Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng
tổ tiên ở trong nhà
Trang 16Lễ đốt xác tiễn người về trời
• Tục thiêu xác của đồng bào Thái đen đã được Nhà Dân tộc học Cầm Trọng xác nhận trong cuốn “Từng vuông thổ cẩm” - Sở VHTT Yên Bái, năm 2003: “
• Đây là tín ngưỡng độc đáo, có lẽ chỉ thấy ở tộc người Thái đen Việt Nam”
Trang 17Văn hóa Dân Gian
• Những tác phẩm thơ ca nổi tiếng của đồng bào Thái là: "Xống chụ xôn xao", "Khun Lú, Nàng Ửa".
• LịchTheo hệ can chi như âm lịch Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng
• Nhac cụ
Trang 19Lễ Tết
• Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng
7, 8 âm lịch Người Thái Trắng ăn tết theo
âm lịch
Trang 20Lễ hội của người dân Tộc Thái
Trang 21ẩm thực
gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi,
có rau thơm, mùi, lá hành
Trang 22Cơm lam
Trang 23• Thái trắng có khá nhiều điểm gần với nhà Tày - Nùng Còn nhà Thái Đen lại gần với nhà của các cư dân Môn - Khơ meThái Đen nóc hình mai rùa, chỏm đầu đốc có khau cút với nhiều kiểu khác nhau
Trang 25Hệ thống tín ngưỡng
Trang 26• Thờ phượng thần linh) và thờ cúng tổ tiên là hệ thống tín ngưỡng cơ bản
• Thái trắng thờ nhiều thần và vật thể khác nhau, và họ cũng tin rằng con người ta
có 'nhiều linh hồn đơn lẻ'
Trang 28Sinh Đẻ
• Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Trang 29Dưới họ là một số người đáng chú ý, họ quản lí các bản của Mường, cung cấp lao
động khổ sai (Kuong) và thu thuế (Nguot)
Trang 30Sau đó là tầng lớp thầy tu (mot lao hay mo chang) Có khoảng 10 cấp bậc thầy tu
• Dưới những tầng lớp cao này là phần lớn
những người cư trú của Mường là những
người bình dân
• Cuối cùng là những người giúp việc
những người này phần lớn là Mon-Khmer
Trang 32• Nhóm trình bày tổ 4