Trong các biện pháp đó, một số là nhằm cải thiện sự ổn định của nền đắp như giảm trọng lượng nền đắp,tăng chiều rộng nền đường, làm thoải mái taluy, làm bệ phản áp, cho nền đắp chôn sâu
Trang 1kết cấu yếu dễ bị sụt trượt thì áp
- Phải thoát nước ra ngoài phạm vi nền đường bằng mọi biện pháp
- Với hang động khô nằm trên taluy nên đào thì có thể đắp đá, cửa hang xây đá bịt kín Với hang động khô nằm ở đáy nền đường, nếu cửa hang nhỏ và nông thì có thể đầm chặt, nếu cửa hang rộng và tương đối sâu thì nên làm cầu vượt Nếu đỉnh hang động khô tương
đối mỏng hoặc lớp đá bị phong hoá thì nên xử lý bằng cách nổ mìn đắp đá hoặc làm cầu vượt
- Để đề phòng đáy hang động bị sụt và thấm nước cần gia cố bằng các biện pháp sau: + Nếu hang động sâu và hẹp thì gia cố bằng các bản bê tông cốt thép
+ Nếu hang động rông và dễ thi công thì xây tường đá, cột đá để chống đỡ
Chiều dày an toàn của đỉnh hang động nằm ở dưới nền đường có thể xác định theo công thức:
Hình 7-7 Tường chắn đá và máng hứng đá rơi
Trang 2H= B.[ ]σ
k.M.b
Trong đó :
H - chiều dày an toàn của đỉnh hang động, (m);
b - chiều dài tuyến đường trên hang động, (m);
B - chiều rộng nền đường, (m);
[ ]σ - ứng suất uốn cho phép của đá vôi, (Mpa);
M – mômen uốn (kN.m) tính theo công thức:
M=
12
1.Q.b2
Với : Q- Tổng tải trọng của đỉnh hang động (gồm trọng lượng bản thân và tải trọng phụ gia) kN/m;
k- Hệ số an toàn, với đá vôi lấy k =1,2;
+ Cự ly an toàn từ hang động đến nên đường tính theo công thức :
L=H.cotg β Với : H - Chiều dày của đỉnh hang động
β - Góc khuyếch tán khi sụp đổ (độ)
β=
k
1.(450 +
2
ϕ)
k – hệ số an toàn từ 1,10-1,25 (với đường cao tốc, cấp 1 lấy trị số lớn)
ϕ - Góc ma sát trong của đá
Nếu lớp đá trên hang động có lớp đất phủ thì từ đáy của lớp đất phủ này kẻ một
đường làm một góc 450so vớiđường nằm ngang sẽ tìm được điểm giao với mặt đất Chân của taluy nền đường phải nằm ngoài phạm vi điểm giao đó
Trang 3- 127 -
Chương 8 Xây dựng nền đường đắp trên đất yếu
Có khá nhiều biện pháp xử lý và do đó cũng có khá nhiều phương pháp xây dựng nền đắp trên đất yếu (hình 8-1) Trong các biện pháp đó, một số là nhằm cải thiện sự ổn
định của nền đắp (như giảm trọng lượng nền đắp,tăng chiều rộng nền đường, làm thoải mái taluy, làm bệ phản áp, cho nền đắp chôn sâu vào đất yếu), một số biện pháp nhằm tăng cường (tăng C,ϕ) của đất yếu, một số biện pháp khác nhằm tăng tốc độ cố kết hoặc giăm độ lún tổng cộng (như làm cọc cát, cột ba lát, cột đất gia cố vôi, nền cọc.v.v…)
Tuy nhiên nếu phân tích kỹ thì đại bộ phận các biện pháp đều có liên quan cả vấn
đề ổn định và lún
Trên thực tế có thể chia thành ba nhóm biện pháp xử lý sau đây:
1) Thay đổi, sửa chữa đồ án thiết kế (như giảm chiều cao nền đắp hoặc di chuyển vị trí tuyến đến khu vực có chiều dày lớp đất yếu mỏng) Đây là biện pháp tốt nhất, nên cố gắng áp dụng
2) Các biện pháp liên quan đến việc bố trí thời gian (xây dựng theo giai đoạn), các biện pháp về vật liệu (bệ phản áp, đắp bằng vật liệu nhẹ, đào bỏ một phần đất yếu…) hoặc các biện pháp liên quan đến cả hai giải pháp trên (gia tải tạm thời) Các biện pháp này nói chung có thể do các xí nghiệp không chuyên thi công 3) Các biện pháp xử lý bản thân nền đất yếu (như cọc cát, cột balát, cột đất gia cố vôi, nền cọc v.v…) Nhóm biện pháp này đòi hỏi phải có các thiết bị chuyên dụng
và do các xí nghiệp chuyên nghiệp thi công
Nói chung mỗi trường hợp cụ thể đều có thể có một hoặc nhiều biện pháp xử lý thích hợp, chọn biện pháp nào cần phải phân tích đầy đủ theo các nhân tố sau:
- Tính chất và tầm quan trọng của công trình;
Trang 4Thời gian kể từ khi khởi công xây dựng công trình cho đến khi đưa công trình vào
sử dụng cũng là một trong những nhân tố quan trọng cần phải xét đến khi chọn phương án
xử lý Nếu khoảng thời gian dãn cách đó mà càng dài thì biện pháp xử lý rẻ nhất sẽ là biện pháp được chọn
Cần phải tính toán giá thành xây dựng của từng phương án xử lý để chọn phương
án có giá thành rẽ nhất
Hình 8-1: Các giải pháp chính để giải quyết vấn đề ổn định và lún của nền đắp trên đất yếu
8.2.các biện pháp xử lý dưới tác dụng của thời gian hoặc tải
trọng
Đây là các biện pháp thường được sử dụng Khi áp dụng các biện pháp này phải nhằm đạt được hai mục tiêu:
- Bảo đảm sự ổn định của nền đắp trong khi xây dựng
- Đạt được một tốc độ lún phù hợp với thời gian thi công
Khi áp dụng các biện pháp này thì yêu cầu lớp trên nền đất yếu phải tiếp xúc với một lớp vật liệu thấm nước tốt Nếu vật liệu đắp nền đường là đất dính thì phải làm một lớp đệm cát có chiều dày từ 0.5-1m để tăng nhanh thời gian cố kết
Trình tự tiến hành như sau :
1/ Tính chính xác chiều cao phòng lún và xác định chiều cao đắp đất;
2/ Kiểm tra ổn định ứng với chiều cao đắp đất có xét đến phòng lún;
3/ Chọn biện pháp xử lý thích đáng để đạt được hai mục tiêu nêu trên
8.2.1 Tính chiều cao phòng lún và xác định chính xác chiều cao đắp đất
Nếu gọi H là hiệu giữa độ cao thiết kế và cao độ của nền đất thiên nhiên thì chiều cao của nền đất đắp HR sẽ là : HR = H +S, với S là độ lún do nền đắp chiều dày HR gây ra
Trang 5- 129 -
1 2
Đường cong biểu thị sự thay đổi của độ
lún tính toán S’ theo HR(đường 2), thì tại
giao điểm của hai đường này hạ xuống
trục hoành ta sẽ tìm được giá trị HR=Hf là
chiều cao phòng lún để cho lúc kết thúc
lún cao độ của đỉnh nền đắp bằng cao độ
thiết kế Để vẽ đường cong 2 phải tính độ
lún ứng với 3 hoặc 4 giá trị của HR (xem ví
dụ)
* Ví dụ áp dụng :
Hãy tính chiều cao có xét đến
phòng lún của một nền đắp có chiều cao
thiết kế là 10m đắp trên một lớp đất sét mềm đồng chất dày 9m tựa trên một lớp cát sỏi thấm nước và không lún Để xét đến sự thay đổi của các đặc trưng của lớp đất sét theo chiều sâu, lớp đất này được chia thành ba lớp nhỏ, mỗi lớp dày 3m với các đặc trưng ghi ở hình 8-3 mực nước ngầm nằm ở mặt đất
Hình 8-3: Tính chiều cao phòng lún của đất đắp để đạt được chiều cao thiết kế sau khi lún xong
Để xác định chiều cao phòng lún cần tiến hành tính độ lún ứng với các nền đường
có chiều cao đất đắp H = 10; 10,5; 11; 11,5; 12 và 13m rồi vẽ biểu đồ quan hệ giữa độ lún
S và chiều cao nền đường HR
Độ lún của nền đắp trên đất yếu được tính toán theo phương pháp cộng lún từng lớp Độ lún của mỗi lớp được tính toán theo công thức:
Si = hi
i 0
ci
e1
C
i voi
σ
Δ+σ
Trong đó: σvoi' - là ứng suất có hiệu thẳng đứng Trong trường hợp này giá trị trung bình của ứng suất có hiệu thẳng đứng của các lớp được tính ở các điểm A, B, C (hình 8-3)
σvoA' =
2
h1(γ1ưγw) =
23(16-10) = 9KPa;
Trang 6( )
2
h)(
w 1 1
' voB = γ ưγ + γ ưγ
= 3(16- 10) +
2
3(16,5-10)=27,7KPa;
2
h)(
2
h)(
w 2
2 w 1 1
' voC = γ ưγ + γ ưγ + γ ưγ
= 3(16- 10) + 3(16,5- 10) +
2
3(17 – 10) = 48KPa
áp lực thẳng đứng qi do tải trọng ngoài gây ra ở trung tâm của lớp đất yếu (các
điểm A,B,C)
qi = li γ.HRTrong đó:
li – Hệ số ảnh hưởng đến ứng suất ở giữa mỗi lớp (chiều sâu Z) thường xác định theo toán đồ Osterberg (hình 8-4) ứng với tỷ số a/Z, b/Z của mỗi lớp (với b là nửa chiều rông đỉnh nền đường, a là chiều rộng mái taluy, xem hình 8-3) Hệ số li trong ví dụ này
5,1
5,
200
4,50
212,06,
1907,
Trang 7- 131 -
7,50
229,04,
176
S=1,832m
Trang 8Hình 8-4: toán đồ Osterberg
a) Toán đồ để xác định ứng suất nén thẳng đứng do nền đắp gây ra trong đất
b) Sơ đồ tải trọng và ví dụ sử dụng toán đồ Osterberg
Trang 9- 133 -
Tương tự ta tiến hành tính độ lún ứng với các chiều cao đắp HR=10,5; 11; 11,5;
12và 13m rồi tóm tắt kết quả tính toán vào bảng 8-3
Bảng 8-3 Tóm tắt các kết quả tính lún của nền đường trên đất yếu
7,
Dựa vào kết quả tính toán ở bảng 8-3 ta vẽ đường cong S = f (HR) như ở hình 8-5
Đường cong này giao nhau với đường HR-10 tại điểm K mà từ đó hạ đường thẳng đứng xuống trục hoành ta tìm được chiều cao đắp đất có xét tới phòng lún HR vào khoảng 12m
8.2.2 Xây dựng nền đắp theo giai đoạn
Khi cường độ ban đầu của nền đất yếu rất thấp, để đảm bảo cho nền đường ổn
định cần áp dụng biện pháp tăng cường độ của nó bằng cách đắp đất từng lớp một, chờ cho đất nền cố kết, sức chịu cắt tăng lên, có khả năng chịu được tải trọng lớn hơn thì mới
đắp lớp đất tiếp theo như hình 8-60
Trình tự tính toán như sau :
1 Trước hết xác định chiều cao cho phép của lớp đất đắp đầu tiên H1, lúc bấy giờ sức chống cắt của đất yếu là Cu1(lực dính xác định bằng thí nghiệm không cố kết, không thoát nước) Có thể bỏ qua phần sức chống cắt do ma sát vì áp lực có hiệu truyền lên hạt đất xem như không đáng kể
Chiều cao H1 tính từ công thức Mandel-Salencon:
H1=
F
C
γ (8-1) Trong đó : F- hệ số an toàn, lấy bằng 1,5;
Nc – Hệ số tra ở hình 8-7 tuỳ theo tỷ số B/h (với B chiều rộng trung bình của nền đắp, h là chiều dày lớp đất yếu)
Trang 10Hình 8-5 xác định chiều cao nền đường Hình 8-6 Xây dựng nền đắp theo giai đoạn
có xét đến độ phòng lún
Hình 8-7 Biểu đồ xác định sức chịu tải Nc của nền đất yếu (theo Mandel và Salencon)
2 Chờ cho đất cố kết hoàn toàn dưới tác dụng của tải trọng γH1 thì đắp tiếp lớp thứ hai, khi đó sức chống cắt của đất yếu tại độ sâu z sẽ tăng thêm (hình 8-8):
ΔC z =Δσztgϕcu =γH1tgϕcuTrong đó : Δσz- Độ tăng ứng suất có hiệu thẳng đứng trong nền đất yếu ở độ sâu
z do tải trọng đất đắp γ gây ra H1
Nếu không chờ cố kết hoàn toàn mà chỉ cố kết U% thì độ tăng sức chống cắt là:
ΔC z =γH1Utgϕcu
Trang 11- 135 -
Cu
R f
Δ cu
Cu1 Cu2
Thực tế công thức này cho độ tăng sức chống cắt ở dưới tim của nền đắp, còn Cu
Δ sẽ gần bằng 0 ở chân taluy Vì vậy ta lấy độ tăng trung bình gần đúng theo cung trượt là:
phép ta đắp nền đến chiều cao H2 và cứ tiếp
tục như vậy cho lớp thứ ba H3…
Có thể kiểm tra trạng thái cố kết của
đất yếu dưới nền đắp bằng các biện pháp
Đây là biện pháp xử lý đơn giản nhất nhưng thời gian thi công kéo dài
Nếu thời gian giữa các giai đoạn xây dựng qua dài thì có thể kết hợp với biện pháp cọc cát
1/ Kiểm toán điều kiện ổn định
a) Kiểm toán điều kiện không cho phép lún trội :
Trang 122.78
9
25H2
BH
232 = 0.97 < 1,50
Vậy nền đường có khả năng mất ổn định vì lún trồi
b) Kiểm toán điều kiện ổn đinh không cho phép trượt sâu
- Theo toán đồ Pilot-Moreau:
12
9H
N = 0,167 → F = 0,6 + (1,13 – 0,6)
1,02,0
1,0167,0
ư
ư
= 0,953 < 1,5
Vậy nền đường có khả năng bị trượt sâu
Kết quả kiểm toán trên đây cho thấy nền đường đắp cao 12m trên 9m đất yếu trong trường hợp này không ổn định, cần có biện pháp xử lý thích đáng khi xây dựng
2/ Lập kế hoạch gần đúng
Từ hình 8-9 ta có: 2,78
9
25h
áp lực giới hạn dưới nền đắp q1 tính theo công thức :
q1 = Cu.Nc.(b/2h)
ở đây: B/2h = 2,78 Tra biểu đồ hình 8-7 ta có Nc = 5,8
Lấy hệ số an toàn F =1,5, tính chiều cao cho phép của lớp đất đầu tiên H1
H1=
F
C8,
γ =20 1,5
408,5
1 γH1tgφCU=
2
1x20x7,70xtg180=25KPa
65x,
Trang 13- 137 -
Hình 8-10 Quan hệ giữa chiều rộng của bệ phản áp với hệ số an toàn (theo F.Bourges)
Như vậy ta có thể xây dựng nền đường thành hai giai đoạn
3/ Lập kế hoạch xây dựng chính xác :
- Giai đoạn đầu: đắp nhanh nền đường đến chiều cao 7,7m
- Để đạt được chiều cao 12m trong lần đắp thứ hai, lực dính trung bình của
đất yếu Cutb = phải là:
8,5
5,1.20.12N
FH
c
=
=γ
Hoặc ứng với một độ tăng trung bình của ΔCutb của lực dính sau khi cố kết dưới tác dụng của lớp đất đầu tiên H1 = 7,70m là :
Δ Cutb = 62-40 = 22 KPa
Và với một độ cố kết
18xtg7,720
22xtg
H
C2
0 cu
1
ϕγΔThời gian chờ đợi giữa hai giai đoạn là :
t =
v
2 v
C
hT
Khi cường độ chống cắt của nền
đất yếu không đủ để xây dựng nền đắp
theo giai đoạn hoặc khi thời gian cố kết
quá dài so với thời giant hi công dự kiến
Trang 14So với việc làm thoải độ dốc taluy, đắp bệ phản áp với một khối lượng đất bằng nhau sẽ có lợi hơn do giảm được momen của các lực trượt nhờ tập trung tải trọng ở chân taluy
Hình 8-10 cho thấy khi tăng chiều rộng của bệ phản áp thì giá trị của hệ số an toàn
F sẽ tăng Chiều cao và chiều rộng bệ phản áp được xác định theo cường độ chống cắt, chiều dày của lớp đất yếu và hệ số an toàn yêu cầu
Kích thước bệ phản áp thường lấy như sau :
- Theo kinh nghiệm của Trung Quốc :
Chiều cao h >1/3H Chiều rộng L=(2/3-3/4) chiều dài trồi đất Theo toán đồ của Pilot (xem hình 8-11): Chiều cao bằng 40-50% chiều cao nền đường H Chiều rộng bằng 2-3 chiều dày lớp đất yếu D Bệ phản áp thường được đắp cùng một lúc với việc xây dựng nền
đắp chính Nếu không cho máy thi công đi lại trên đó thì không cần đầm lèn Nếu có dùng cho máy đi lại thì phần dưới của bệ phản áp phải đắp bằng vật liệu thấm nước
Khi có một nền đắp bị trượt trồi thì đắp bệ phản áp có khả năng tăng độ ổn định chống trượt làm cho nền đắp trở lại ổn định Ví dụ việc xử lý đoạn nền đường đắp bị phá hoại do trượt sâu ở phía bắc cầu Hàm Rồng năm 1963 bằng bệ phản áp là nhằm mục đích
đó
Tuy nhiên muốn cho bệ phản áp phát huy được hiệu quả để có thể xây dựng nền
đắp một giai đoạn thì thể tích của nó phải rất lớn Vì vậy phương pháp này chỉ thích hợp nếu vật liệu đắp nền rẻ và phạm vi đắp đất không bị hạn chế
Kiểm tra hệ số an toàn của nền đường đắp có bệ phản áp bằng cách sử dụng toán
Trang 168.2.4 Đào bỏ một phần hoặc toàn bộ đất yếu
1 Có thể áp dụng biên pháp đào bỏ một phần hoặc toàn bộ lớp đất yếu trong những trường hợp sau:
- Khi thời gian đưa vào sử dụng là rất ngắn và đào bỏ đất yếu là một giải pháp tốt
để tăng nhanh qua trình cố kết Tuỳ theo thời gian cố kết dự kiến để tính chiều sâu cần
đào bỏ đất yếu Tuy nhiên nếu xét cho trường hợp cụ thể ở ví dụ hình vẽ 8-3 thì khi đào bỏ
đi khoảng 3m đất yếu sẽ cho phép đạt được cường độ cố kết sau 8,9 tháng, thay vì cho 20 tháng
5,4
Như vậy chỉ có thể xây dựng nền đắp sau khi đào bỏ toàn bộ lớp đất yếu (nếu lớp
đất là xấu cả) hoặc đào bỏ phần mặt có cường độ thấp nhất so với các lớp còn lại
- Khi cao độ thiết kế gần với cao độ thiên nhiên, không thể đắp nền đường đủ day
để đảm bảo cường độ cần thiết dưới kết cấu mặt đường
2 Tính kích thước của phần đất cần đào bỏ đi
Để tính kích thước hợp lý nhất của phần đất đào bỏ đi, cần phải xét đến các nhân
tố sau:
- Về mặt kinh tế: Chỉ đạo toàn bộ lớp đất yếu khi chiều dày không qua lớn Thông thường thì giá thành đào bỏ đất yếu xấp xỉ với giá thành làm cọc cát, tuy nhiên sử dụng cọc cát thì phải mất thời gian khá dài chờ cho đất yếu cố kết
Trong thực tế khó xác định được một chiều sâu kinh tế vì nó liên quan đến nhiều
điều kiện cụ thể của hiện trường
- Về chiều rộng tối thiểu để đào bỏ đất, cần được quyết định có chú ý đến khả
Trang 17- 141 -
3 Ví dụ áp dụng
Vẫn áp dụng ví dụ vẽ ở hình 8-9 nhưng xử lý bằng biện pháp đào bỏ đất yếu và thay bằng đất tốt Có một số phương pháp tính kích thước phần đất bùn cần đào bỏ đi ở
đây giới thiệu một cách tính
a) Kiểm toán điều kiện ổn định
Trong trường hợp này chiều dày của lớp đất yếu mỏng (h=9m< 21,5m
2
432
Vì vậy có thể kiểm toán ổn định theo phương pháp của L.K.Jorghenson
- Chiều rộng của đáy nền đắp:
B = 7 + 2 x 12 x 1,5 = 43 m
- Tỷ số
2
1209,043
9b
437(B
b)áp dụng biện pháp thay đất để đảm bảo điều kiện ổn định của nền đường
- Để áp dụng biện pháp này, cần phải xác định chiều dày lớp đất yếu phải thay bằng đất tốt để đảm bảo hệ số an toàn F= 1,50
- Để cho F =1,50 thì tải trọng giới hạn mà lớp đất yếu ở dưới tim nền đường phải chịu là:
Qgh = 1,5(q + γh1) = 1,50 (279 + 20h1) Trong đó: h1 – là chiều dày lớp đất yếu cần đào bỏ đi và thay bằng đất tốt với điều kiện giữ nguyên cao độ thi công của nền đường
Theo Jorghenson thì :
Qgh =
1
hh
CBH