1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ part 6 ppsx

21 375 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 702,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- 104 - Trên một mặt thoáng phẳng, nếu độ sâu đặt gói thuốc tức là W lớn hơn bán kính phá hoại bán kính nổ om R3 xem hình 6-4a thì sau khi nổ, mặt đất không có vết tích bị phá hoại, lúc

Trang 1

- 104 -

Trên một mặt thoáng phẳng, nếu độ sâu

đặt gói thuốc (tức là W) lớn hơn bán kính

phá hoại (bán kính nổ om) R3 (xem hình

6-4a) thì sau khi nổ, mặt đất không có

vết tích bị phá hoại, lúc này được gọi là

phá hoại bên trong (nổ ngầm); nếu độ

sâu đặt gói thuốc nổ nhỏ hơn bán khính

nổ om R3 nhưng lớn hơn bán kính nổ

tung R2 xem hình 6-4b) thì sau khi nổ, bề

mặt môi chất bị rời rạc, đồng thời theo

hướng đường kháng nhỏ nhất mặt đất bị

đẩy vồng lên, hiện tượng này được gọi là

nổ om (mìn om); nếu thuốc được chôn

sâu ở độ sâu nhỏ hơn bán kính nổ tung

R2 (xem hình 6-4c) thì sau khi nổ, một

phần đá vỡ sẽ tung văng ra, trên bề mặt

môi chất sẽ hình thành phễu nổ; hiện

tượng này được gọi là nổ tung

Thường sử dụng chỉ số nổ phá n (chỉ số nổ) để đặc trưng cho hình dạng phễu nổ:

n=r/W (6-1) Trong đó: r là bán kính phễu nổ, n lớn thì phễu nổ rộng và nông; n nhỏ thì phễu nổ hẹp và sâu

Hình 6-4: Các kiểu nổ phá ứng với việc chôn chặt gói thuốc nổ ở các độ sâu khác nhau

a) Nổ ngầm; b) Nổ om; c) Nổ tung

Thường dựa vào trị số n lớn hay nhỏ để phân loại đối với các hình thức nổ phá và quy mô gói thuốc nổ Khi n=1, góc nổ ở đáy phễu nổ là góc vuông, phễu nổ được gọi là phễu nổ tiêu chuẩn; khi n>1, góc ở đáy phễu là góc tù, phễu nổ được họi là phễu nổ tung mạnh, tương ứng với gói thuốc nổ tung mạnh, khi n<1, góc đáy phễu là góc nhọn, tương ứng với phễu nổ tung yếu và gói thuốc nổ tung yếu

Thực tiễn cho thấy, thường với chỉ số n lớn hơn 0,75-0,80 thì mới có thể hình thành phễu nổ tung thấy rõ Do đó, phạm vi thay đổi trị số n khi nổ tung yếu trên thực tế

là trong khoảng từ 0,75-1,0 Khi n<0,75 thì sau khi gói thuốc nổ, chỉ có thể hình thành

đống đá vỡ bị đẩy vồng lên mà không văng ra ngoài miệng phễu; do vậy: Khi n<0,75 sẽ hình thành nổ om với gói thuốc nổ om

Vùng nổ om Vùng chấn động

Vùng nổ tung

Vùng ép co

Gói thuốc

R 4

Trang 2

Các nhân tố ảnh hưởng đến hình dạng phễu nổ không những chỉ có bề sâu chôn

chặt gói thuốc (tức là đường kháng bé nhất W), mà còn phụ thuộc vào khối lượng thuốc

được nạp Lượng thuốc nhiều hay ít sẽ ảnh hưởng đến trị số bán kính tác dụng nổ phá R1,

R2 và R3; khi W không đổi, tăng lượng thuốc nổ sẽ làm cho phễu có xu hướng rộng và

nông Do vậy, chỉ số n lớn hay nhỏ cũng đã phản ánh lượng thuốc sử dụng nhiều hay ít

6.2.2.Tính toán lượng thuốc nổ

Công thức tính lượng thuốc nổ cần thiết Q(kg) cho trường hợp đất đá đồng nhất,

địa hình bằng phẳng có một mặt thoáng và nổ phá theo hình thức nổ tung tiêu chuẩn

Lượng thuốc nổ đơn vị q của các loại đất đá khác nhau cho ở bảng 6-1

e – Hệ số điều chỉnh lượng thuốc nổ đơn vị q khi thi công bằng loại thuốc nổ khác không phải là loại amonit No9; cho ở bảng 6-2

Bảng 6-1 Trị số q 0 – Lượng thuốc đơn vị với phễu nổ tung tiêu chuẩn (tính cho loại thuốc amônít số 4)

Lượng thuốc nổ đơn vị Phân loại đất

Đất sét pha cát nặng

Đất sét chắc Hoàng thổ

Đá phấn trắng Thạch cao

Đá vôi, đá vôi vỏ trai ốc

0,40-0,5

0,40-0,50 0,35-0,45 0,30-0,35 0,40-0,50 0,60-0,70

1,80-2,00 1,40-0,45 1,20-1,35

1,20-1,35 1,10-1,50 1,90-2,10 1,20-1,50 1,80-2,10

Trang 3

Đá đôlômít, đá vôi, sa thạch

Độ chặt trung bình của thuốc nổ Loại thuốc nổ Hệ số tính đổi e

Trang 4

F = f(n) = 0,4 + 0,6.n (6-4) Lượng thuốc đơn vị khi nổ om thường bằng 0,2-0,6 lần lượng thuốc tiêu hao đơn

vị khi nổ tung tiêu chuẩn, và được quyết định tuỳ theo yêu cầu nổ om (mức độ vỡ đá yêu cầu)

6.2.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả nổ phá

Khi gói thuốc nổ nổ trong môi chất, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả nổ phá cực kì phức tạp Do đó, khi vận dụng còn phải xét đến một cách tổng hợp các nhân tố khác nhau, bao gồm các nhân tố về địa hình, điều kiện địa chất, tính năng thuốc nổ và các trường hợp thi công v.v…; trong đó, ảnh hưởng của các điều kiện địa hình và địa chất là lớn nhất

Nếu địa hình bằng phẳng, đất đá trong phễu nổ tung không có thể tung đi hết, một phần đá tung lên có thể rơi trở lại phễu nổ (như hình 6-4c) Gọi tỷ lệ bắn tung E là số phần trăm đất đá tung ra khỏi phễu nổ (hay là phần có thể thấy đựơc của phễu nổ) thì thông thường đối với trường hợp nổ tung tiêu chuẩn có trị số E = 27% Dựa vào kinh nghiệm thực tế nổ tung với lượng thuốc nổ ít nhất dùng cho 1m3 đất, đá thì tỉ lệ tung tốt nhất đối với đất là 80-95%, đối với đá là 10-85% Do vậy trong điều kiện địa hình bằng phẳng, để thu được hiệu quả nổ tung hợp lí về mặt kinh tế thì thường sử dụng phương pháp nổ tung mạnh, tức là lấy chỉ số nổ tương đối lớn Còn khi mặt đất nghiêng dốc, hướng tác dụng nổ phá (hướng của đường kháng bé nhất) sẽ giao cắt với hướng trọng lực của đất đá (hình 6-5); do đó, lượng đất đá thực tế có thể tăng thêm, hoặc lượng thuốc sử dụng có thể giảm bớt Không chỉ như vậy, sau khi đất đá được văng ra khỏi phễu nổ, đất đá phần trên của phễu nổ (bộ phận gạch chếo trên hình 6-5) có thể tự tách đá ra khỏi đá gốc, đổ sụp xuống dưới tác dụng của trọng lượng bản thân, nhờ trước đó đã bị nứt rời do ảnh hưởng của tác dụng nổ phá,khiến cho phễu nổ được mở rộng thêm Độ dốc ngang của mặt đất dốc thì lượng thuốc nổ cần để phá được cùng một lượng đất đá sẽ càng ít; tức là có thể dùng chỉ

số nổ càng nhỏ Trên địa hình sườn dốc, tỉ lệ tung tốt nhất là 65-75% Dễ dàng nhận thấy, khi dùng công thức (6-4) để xác định hệ số tính chất nổ phá F, chỉ số nổ n có liên quan với tỉ lệ nổ tung E và độ dốc mặt đất α Đối với trường hợp nổ tung, thường lấy trị số n theo bảng 6-3, như vậy hiệu quả nổ phá sẽ rất tốt

Bảng 6-3 Trị số của chỉ số nổ n

Trang 5

- 108 -

Do vậy địa hình nhiều mặt thoáng có thể làm tăng thêm khối lượng nổ phá, hoặc giảm

được khối lượng thuốc nổ sử dụng Khi số mặt thoáng là 2, 3, 4, 5 hoặc 6 thì hệ số giảm lượng thuốc sử dụng tương ứng là 0,83; 0,67; 0,50; 0,33 và 0,17

Trong công tác nổ phá thực tế, nếu điều kiện địa hình bất lợi (địa hình bằng phẳng hoặc dốc thoải) thì cũng có thể áp dụng biện pháp cải tạo thành dốc đứng, bậc cấp và tạo

điều kiện để có nhiều mặt thoáng nhằm tăng thêm hiệu quả nổ phá

ảnh hưởng của tính chất cơ lí của đất đá đến hiệu quả nổ phá được phản ánh qua lượng thuốc tổn hao đơn vị (xem bảng 6-1 và 6-2) Đá càng cứng chắc, tính toàn khối càng tốt trở lực đối với nổ phá càng lớn, thì lượng thuốc đơn vị càng cao Khi gặp đá có nhiều kẽ nứt hoặc đá phong hoá nặng thì nên ước lượng giảm cấp đá để chọn lượng thuốc

đơn vị

Hình 6-5 Trường hợp nổ phá khi mặt đất nghiêng

đốc Hình 6-6 ảnh hưởng của mặt thoáng với hiệu quả nổ phá

Sản trạng và tính chất mặt kết cấu đá (đặc biệt là các vết đứt gãy, mạch tầng, kẽ mạch nứt hở rõ rệt) có tác dụng làm đứt đoạn và giảm yếu sự lan truyền năng lượng nổ của thuốc nổ; các yếu tố này thường khống chế hình dạng và kích thước phễu nổ (xem hình 6-7) Vị trí thuốc nên bố trí ở chỗ không có khe nứt, không có nước gây ẩm và tránh

đặt ở ranh giới giữa 2 vùng đá có độ cứng chênh lệch nhau quá lớn Ngoài ra, hướng tác dụng nổ phá của gói thuốc tốt nhất là giao cắt thẳng góc với hướng của mặt tầng đá (không được song song với mặt tầng đá)

Năng lực của thuốc nổ cũng ảnh hưởng đến hiệu quả nổ phá Thuốc nổ có năng lực lớn (sức nổ và độ mạnh lớn) thì hiệu quả nổ phá cao, lượng thuốc sử dụng có thể giảm bớt một ít (xem bảng 6-2)

Hình 6-7 ảnh hưởng của hướng mặt tầng đá đối với hiệu quả nổ phá

a)Thẳng góc với hướng nổ phá; b) Song song với hướng nổ phá;

c) Giao cắt chếo với hướng nổ phá;

Trang 6

Ngoài ra hiệu quả nổ phá còn chịu ảnh hưởng của mật độ nạp thuốc, chất lượng lấp lỗ và phòng ẩm cho thuốc nổ khi thi công Thông thường mật độ nạp thuốc vừa phải cho hiệu quả tốt nhất Quá chặt sẽ làm cho khi nổ, thuốc nổ không đủ nhạy, quá tơi xốp thì tốc độ truyền nổ chậm, đều sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả Căn cứ vào các thí nghiệm thì thấy, mật độ nạp thuốc đối với loại amônít thường nên lấy là 0,9-1,0kg/cm3 Việc lấp lỗ có liên quan rất chặt chẽ đến việc tận dụng năng lượng nổ Sức nổ của thuốc nổ càng thấp, chất lượng lấp lỗ yêu cầu càng cao Vật liệu lấp lỗ phải là loại có dính kết tương đối chặt chẽ, có sức cản ma sát lớn, đồng thời chiều dài lấp lỗ phải đủ dài để tránh khí nổ theo lỗ mìn phụt ra ngoài, gây tổn thất nhiều năng lượng Nếu đã tiến hành lấp lỗ theo yêu cầu quy định thì có thể không xét đến ảnh hưởng của việc lấp lỗ đến lượng thuốc sử dụng

Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả nổ phá có rất nhiều và quan hệ giữa chúng cũng rất phức tạp Trong thực tiễn để tăng hiệu quả nổ phá cần tiến hành điều tra nghiên cứu môi trường khách quan và khống chế chất lượng các thao tác thi công

6.3.Các phương pháp nổ phá

Dựa vào sự khác nhau về điều kiện địa hình, địa chất về thể tích đá cần nổ phá, về hình dạng mặt cắt nền đường và các yêu cầu thi công, có thể áp dụng một cách tổng hợp các phương pháp nổ phá dưới đây: phương pháp lỗ mìn (lỗ nông và lỗ sâu), phương pháp mìn bầu và phương pháp hầm thuốc v.v…

6.1.1 Phương pháp lỗ mìn

Phương pháp lỗ mìn được tiến hành như sau: khoan vào đá cần nổ phá các lỗ đặt thuốc có đường kính nhỏ hơn 300mm (còn gọi là lỗ mìn) sau đó nạp thuốc (thuốc gói thành các thỏi dài) và lấp lỗ, rồi tiến hành gây nổ (phần lớn là nổ om) Tuỳ theo đường kính và độ sâu (chiều dài), lỗ mìn được phân thành 2 loại: lỗ nông và lỗ sâu

Nổ phá lỗ nông (còn gọi là lỗ nhỏ) thuộc loại nổ nhỏ Đường kính lỗ mìn từ 50mm, độ sâu không quá 5m Có thể tạo lỗ bằng cách dùng khoan hơi ép (máy đục đá) hoặc dùng nhân công đục bằng chòong Do đường kính nhỏ, lượng thuốc nạp bị hạn chế (thường nhiều nhất chỉ được khoảng 1,5kg) nên theo phương pháp này lượng đá nổ phá

25-được của mỗi lỗ mìn chỉ không quá 10m3 Khi khối lượng đá lớn, phải khoan nhiều lỗ năng suất không cao Nhưng phương pháp này không đòi hỏi các thiết bị khoan phức tạp, thao tác thi công đơn giản, không bị địa hình hạn chế (có thể bố trí các lỗ mìn có vị trí và phương pháp khác nhau), ảnh hưởng hư hại chấn động đối với xung quanh nhỏ; do vậy phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong các trường hợp đào nền đào nông và đào hào rãnh, tu sửa taluy, sửa sang mặt bằng, phá vỡ các hòn đá cô lập (hoặc các tảng đá lớn), đào các hầm đặt thuốc nổ, cải tạo địa hình (phục vụ cho các phương pháp nổ phá khác)v.v

Khi chọn vị trí lỗ mìn, cần phải xem xét các điều kiện địa hình,địa chất tại chỗ,cố gắng lợi dụng và tạo thêm các mặt thoáng Độ sâu lỗ mìn thường không vượt quá phạm vi

đào để tránh bị nổ phá quá lớn nhưng phải lớn hơn đường kháng bé nhất W để tránh lực

nổ phá tập trung vào lỗ mìn làm phụt hết vật liệu lấp lỗ,tạo ra lỗ mìn không có hiệu quả

Trang 7

- 110 -

(thường gọi là lỗ mìn phụt lên trời) Nếu có một mặt thoáng thì hướng lỗ mìn nên giao cắt chếo với mặt thoáng với một góc từ 30-600 (xem hình 6-8) Nếu dùng cách nổ phá thành từng hàng lỗ mìn thì để tăng hiệu quả nổ phá, phải sử dụng phương thức nổ cùng một lúc, không nên dùng cách đốt dây dẫn lửa để gây nổ Cự li năm ngang giữa các lỗ nằm cùng hàng gần nhau (gọi là khoảng cách lỗ a) thường lấy bằng 0,8-2,0W; lỗ mìn nhiều hàng phải bố trí xen kẽ theo kiểu hoa mai, khoảng cách giữa các hàng (khoảng cách hàng) là 0,68a Lượng thuốc nổ nạp trong lỗ thường không tính toán mà quyết định theo kinh nghiệm và thí nghiệm, phải khống chế chiều dài nạp thuốc bằng 1/3-1/2 chiều dài toàn bộ

lỗ mìn, trong trường hợp đặc biệt không được quá 2/3 Chiều dài lấp lỗ phải đủ, thường không được nhỏ hơn 1/3 chiều dài toàn lỗ mìn

Hình 6-8 Lỗ mìn nhỏ Hình 6-9 lỗ mìn sâu đào nền chữ U

Nổ phá lỗ sâu là phương pháp nổ vừa, dùng đường kính lỗ lớn hơn 75mm, chiều sâu trên 5,0m,nạp các gói thuốc dài (gói thuốc hình trụ có chiều cao hoặc cạnh dài lớn hơn đường kính hoặc cạnh ngắn 4 lần) Việc tạo lỗ phải dùng máy khoan đục lỗ ngầm hoặc máy khoan lỗ; nếu phới hợp dùng cơ giới đào và vận chuyển đá đã nổ phá thì có thể thực hiện việc thi công làm đá bằng cơ giới Khi nổ phá theo phương pháp lỗ sâu thì ảnh hưởng đối với nền đường và taluy ít hơn nhiều so với phương pháp nổ phá bằng hầm thuốc, nếu đồng thời sử dụng kỹ thuật nổ phá gọt mặt hoặc tạo nứt trước (xem hình 6-9) thì có thể tạo được mái taluy ổn định và bằng phẳng Phương pháp lỗ sâu có những ưu

điểm như: năng suất lao động cao, lượng đá phá được một lần lớn, tiến độ thi công nhanh,

điều kiện làm việc tốt, lượng thuốc nổ sử dụng giảm, hiệu quả nổ phá dễ khống chế,sử dụng cũng tương đối an toàn Nhưng do yêu cầu phải có máy khoan lọai vừa và lớn nên công tác chuẩn bị như di chuyển máy đến công trường,mở mặt bằng thi công,làm đường tạm đều tương đối phức tạp; hơn nữa, sau khi nổ phá, thường có 10-15% đá tảng lớn cần phải nổ phá lại lần thứ 2 để làm nhỏ Hiện nay phương pháp này được sử dụng rộng rãi ở các đỉnh đèo hoặc nền đào sâu có địa hình tương đối bằng phẳng

Để tăng hiệu quả nổ phá và tiện cho việc thao tác máy khoan, khi tiến hành nổ phá

lỗ sâu, thì trước hết cần tạo bậc cấp trên mặt đất (gọi là công tác tạo bậc) Chiều cao bậc

H vào khoảng từ 5 – 15m,góc mái dốc α tốt nhất là từ 60-75 0 Lỗ mìn được phân thành 2 loại : lỗ thẳng đứng và lỗ xiên (xem hình 6-10) Đường kính lỗ khoan d được quyết định

Trang 8

tuỳ theo khối lượng công trình, yêu cầu tiến độ và tình hình máy móc, thiết bị và phải phù hợp với chiều cao bậc cấp; thường lấy bằng 100-150mm Đường kháng ở đáy bậc W1thường lấy bằng (20-40)d; nếu đá là loại dễ nổ phá và thuốc nổ ở đáy lỗ có năng lực cao thì lấy trị số W1 tương đối lớn; ngược lại thì lấy trị số tương đối nhỏ.Khoảng cách lỗ a thường được lấy bằng (0,7-1,2)W1 Khoảng cách hành w2 thường lấy bằng trị số W1 Để khắc phục tác dụng hạn chế của chỗ mặt đáy bậc thấp (tạo điều kiện để sau khi nổ phá tại

đó không còn chân đá cao hơn mặt đáy bậc cấp), thì chiều sâu lỗ L khi khoan phải sâu hơn mặt đáy bậc, tức là phải khoan quá vào dưới mặt đáy bậc 10-15% chiều cao bậc (đối với đá cứng chắc phải lấy trị số lớn) Khi không cho phép phá hoại đá ở mặt đáy bậc thì không cần khoan quá như vậy hoặc lại khoan nông bớt (tức là chiều sâu lỗ khoan không

đến mặt đáy bậc) Khoảng cách từ mép trên của bậc cấp đến miệng lỗ khoan phía trước b

có thể được tính từ các trị số W1, H, α và β (góc nghiêng của lỗ khoan); trị số này không nên nhỏ hơn 2-3 m để đảm bảo an toàn khi khoan lỗ, nếu không đủ 2-3 m thì cần điều chỉnh trị số W1

Hình 6-10 Bố trí lỗ mìn nổ phá theo phương pháp lỗ sâu có cấu tạo bậc a) lỗ khoan thẳng đứng; b) Lỗ khoan xiên; c) Bố trí lỗ khoan theo ô vuông

d) Bố trí lỗ khoan kiểu hoa mai (lệch hàng)

Lượng thuốc nổ nạp trong mỗi lỗ được tính theo công thức dưới đây:

Q = e.K’.W.H.a (6-7) Trong đó W là chiều dài đường kháng, lấy bằng W1 đối với các lỗ mìn một hàng

và các lỗ ở hàng trước, khi nổ phá nhiều hàng lỗ mìn một lúc hoặc nổ phá vi sai, lấy bằng

W2 đối với các lỗ ở hàng sau khi có nhiều hàng mìn; K’ là lượng thuốc đơn vị khi nổ om với loại thuốc nổ tiêu chuẩn (amônít số 9); khi xác định trị số K’ cần xét đến việc kích cỡ các hòn đá sau khi nổ phá phải phù hợp với tính năng của các máy đào, thường lấy K’=K/3, nhưng đối với các lỗ mìn ở đầu mỗi hàng và các lỗ ở hàng sau (khi nổ phá một lúc nhiều hàng) thì lượng thuốc cần tăng thêm khoảng 20% để khắc phục tác dụng hạn chế của đá hai bên vàđá phía trước Để sau khi nổ phá, đá vỡ đều và có tỷ lệ đá quá cỡ thấp (nhất là khi bậc cấp vừa cao, vừa dốc và đá ở phần trên lại cứng) thì nên áp dụng cach nạp thuốc cách quãng (xem hình 6-10b), đồng thời nạp một phần lớn thuốc nổ (hoặc phần thuốc nổ loại có năng lực lớn) ở ngang vị trí bậc cấp có sức cản lớn nhất, nhằm lợi dụng

được năng lượng nổ phá một cách triệt để nhất Thường yêu cầu chiều dài lấp lỗ không nhỏ hơn (0,7-0,8)W1, ít nhất cũng không được nhỏ hơn khoảng cách mép lỗ b; nếu không

lỗ mìn dễ bị phụt Trường hợp không đảm bảo được điều kiên này thì phải giảm nhỏ W1hoặc trị số a, rồi từ đó tính lại lượng thuốc cần nạp

Trang 9

trí ở sat mặt ranh giới đào (như

mặt taluy của nền đào); nhờ bố

trí như vậy, sau khi nổ phá có

thể tạo được mặt ranh giới bằng

đá hoặc các công trình kiến trúc nằm ngoài ranh giới đào không bị phá hoại do chấn động

nổ phá, đồng thời phòng ngừa hiện tượng nổ phá quá phạm vi yêu cầu

Khi nổ phá gọt mặt và tạo nứt trước, phải khống chế chặt chẽ sao cho các lỗ mìn phải nằmcùng trên một mặt phẳng, mỗi hàng lỗ mìn phải được gây nổ đồng thời để đảm bảo chất lượng nổ phá Nếu nổ phá gọt mặt hoặc tạo nứt trước tiến hành cùng một đợt với

nổ phá khối lượng chính thì thời gian dãn cách thường là 25-50ms đường kính d của lỗ mìn nổ phá gọt mặt và tạo lỗ trước thường lấy bằng đường kính của lỗ mìn chính Tỷ số giữa khoảng cách đường kính lỗ d được gọi là hệ số khoảng cách lỗ n; khi nổ phá gọt mặt lấy n =12-16; khi nổ phá tạo nứt trước lấy n = 8-12; nếu đá cứng toàn khối thì nên chọn trị

số lớn Chỉ số giữa khoảng cách lỗ mìn a khi nổ phá gọt mặt và đường kháng bé nhất W (tức bề dày lớp gọt mặt) được ký hiệu là m (gọi là hệ số tập trung); thường lấy m=0,6-0,8 Lượng thuốc nổ nạp trong một mét lỗ khoan(cũng gọi là mật độ nạp thuốc đơn vị q) thường được tính theo công thức dưới đây:

Khi nổ phá gọt mặt:

q’= C.W.a=

m

n2.C.d2; (6-8)

Khi nổ phá tạo nứt trước :

q’= C.a2=n2.C.d2 (6-9) Trong đó: d là đường kính lỗ mìn gọt mặt tạo nứt trước (m); C là lượng thuốc tính toán đơn vị (không bằng lượng thuốc tiêu hao đơn vị thực tế), khi nổ phá gọt mặt đào lộ thiên lấy C=0,14-0,26 kg/m3, khi nổ phá gọt mặt tạo nứt trước thì phải áp dụng cách nạp ít thuốc như hình 6-11

Trang 10

vào bầu nhiều hơn (thông thường 5-80kg) với mỗi bầu có thể nổ phá được hàng chục đến

hàng trăm khối đá, đá nổ ra phần lớn là các tảng to Phương pháp này thích hợp với việc

nổ phá đất cứng có kết cấu đặc chắc, nổ phá đá cứng vừa, đá cứng, thích hợp với các đoạn

mặt đất có dốc lớn và độ sâu lỗ mìn là 5-7m Khi độ sâu lỗ mìn dưới 2.5m, hoặc ở các chỗ

có đá cứng hay đá mềm nhưng nứt nẻ nhiều và ở các tầng đá mỏng độ cứng không đồng

đều hoặc thấm nước, thì không nên dùng phương pháp này Phương pháp bầu thuốc

thường dùng để nổ om trong điều kiện có các bậc cấp; Đường kháng bế nhất W chỉ cần

lấy bằng 0,6-0,8 lần chiều cao H của bậc cấp là để có thể nổ sập cả bậc cấp; nhưng để cải

thiện hiệu quả nổ phá, giảm nhỏ tỷ lệ đá lớn, thường lấy W =(0,8-1,0)H

Khoảng cách các gói thuốc a lấy bằng (0,8-1,0)W Công thức tính toán lượng

thuốc nạp Q như sau:

Q=e.K’.W3 (6-10) Trong đó ý nghĩa các kí hiệu như trên

Việc tạo bầu là công tác chủ yếu nhất trong phương pháp nổ bầu Số lần nổ và số

lượng cần để tạo bầu có thể tham khảo ở bảng 6-4 Sau mỗi lần nổ tạo bầu cần phải tạo để

nhiệt độ trong bầu xuống dưới 400 thì mới tiếp tục tiến hành nổ phá tạọ bầu một lần nữa

Trong quá trình tạo bầu thuốc (hiệu số chiều sâu lỗ sau và trước khi tạo bầu) có quan hệ

với lượng thuốc cần nạp như ở bảng 6-5

Bảng 6-4 Lượng thuốc và số lần tạo bầu

Thứ tự số lần nổ tạo thuốc bầu

Ngày đăng: 07/08/2014, 19:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 6-3: Sơ đồ các vùng tác dụng nổ phá - XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ part 6 ppsx
Hình 6 3: Sơ đồ các vùng tác dụng nổ phá (Trang 1)
Bảng 6-3  Trị số của chỉ số nổ n - XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ part 6 ppsx
Bảng 6 3 Trị số của chỉ số nổ n (Trang 4)
Hình 6-5 Trường hợp nổ phá khi mặt đất nghiêng - XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ part 6 ppsx
Hình 6 5 Trường hợp nổ phá khi mặt đất nghiêng (Trang 5)
Hình 6-6 ảnh h−ởng của mặt thoáng với hiệu quả - XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ part 6 ppsx
Hình 6 6 ảnh h−ởng của mặt thoáng với hiệu quả (Trang 5)
Hình 6-8 Lỗ mìn nhỏ Hình 6-9 lỗ mìn sâu đào nền chữ U - XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ part 6 ppsx
Hình 6 8 Lỗ mìn nhỏ Hình 6-9 lỗ mìn sâu đào nền chữ U (Trang 7)
Hình 6-10 Bố trí lỗ mìn nổ phá theo ph−ơng pháp lỗ sâu có cấu tạo bậc  a) lỗ khoan thẳng đứng; b) Lỗ khoan xiên; c) Bố trí lỗ khoan theo ô vuông - XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ part 6 ppsx
Hình 6 10 Bố trí lỗ mìn nổ phá theo ph−ơng pháp lỗ sâu có cấu tạo bậc a) lỗ khoan thẳng đứng; b) Lỗ khoan xiên; c) Bố trí lỗ khoan theo ô vuông (Trang 8)
Hình 6-11 Bố trí nạp thuốc khi nổ phá gọt mặt và tạo nứt  tr−íc  a) Nạp thuốc liên tục thành một cuốn dài nhỏ b)  Nạp thuốc cách quãng với các thỏi thuốc tiêu chuẩn c) Nạp  thuốc rời phân đoạn - XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ part 6 ppsx
Hình 6 11 Bố trí nạp thuốc khi nổ phá gọt mặt và tạo nứt tr−íc a) Nạp thuốc liên tục thành một cuốn dài nhỏ b) Nạp thuốc cách quãng với các thỏi thuốc tiêu chuẩn c) Nạp thuốc rời phân đoạn (Trang 9)
Hình 6-12 Nổ phá theo ph−ơng pháp - XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ part 6 ppsx
Hình 6 12 Nổ phá theo ph−ơng pháp (Trang 10)
Bảng 6-5  Quan hệ giữa kích th−ớc bầu thuốc và l−ợng thuốc nạp đ−ợc - XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ part 6 ppsx
Bảng 6 5 Quan hệ giữa kích th−ớc bầu thuốc và l−ợng thuốc nạp đ−ợc (Trang 11)
Hình 6-13 Phễu nổ trên mặt s−ờn dốc - XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ part 6 ppsx
Hình 6 13 Phễu nổ trên mặt s−ờn dốc (Trang 13)
Bảng 6-7  Trị số hệ số phá nứt ψ - XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ part 6 ppsx
Bảng 6 7 Trị số hệ số phá nứt ψ (Trang 14)
Hình 7-2 Mở rộng nền đ−ờng về một bên - XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ part 6 ppsx
Hình 7 2 Mở rộng nền đ−ờng về một bên (Trang 18)
Hình 7-5 Sơ đồ bố trí đúng các lớp đất trong nền đường đắp  a-Mở rộng về hai bên;    b- Mở rộng về một bên; - XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ part 6 ppsx
Hình 7 5 Sơ đồ bố trí đúng các lớp đất trong nền đường đắp a-Mở rộng về hai bên; b- Mở rộng về một bên; (Trang 19)
Hình 7-4 Mở rộng nền đường đào về một bên (c- mở rộng nền đào) - XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ part 6 ppsx
Hình 7 4 Mở rộng nền đường đào về một bên (c- mở rộng nền đào) (Trang 19)
Hình 7-6 Tôn cao nền đ−ờng. - XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ part 6 ppsx
Hình 7 6 Tôn cao nền đ−ờng (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w