Phương trình cơ bản của quá trình đầm đất có thể tìm được từ định luật cân bằng động lượng và xung lượng xuất hiện khi đầm va chạm tới mặt đất: VVM V1, V2- tốc độ của đầm lúc bắt đầu và
Trang 1- 83 -
Năng suất và giá thành lu lèn chủ yếu phụ thuộc vào việc sử dụng lu theo thời gian
có hiệu quả hay không Năng suất lu N, (m3/ca) xác định theo công thức:
N=
)tV
L(n)tV
L(n)tV
L(n
H)pB(LK.T
3 3 3 2 2 2 1 1 1
t
++
++
Kt - Hệ số sử dụng thời gian (=0,9-0,95)
L - Đoạn thi công mà máy lu đi lại để lu lèn (m)
B - Bề rộng dải đất được lu (m)
p - Chiều rộng của vệt bánh lu sau đè lên vệt lu trước (m)
H - Chiều dày cho phép của lớp đất đầm nén trong trạng thái chặt (m) tính theo
công thức 5-10
n1, n2, n3 – Số lượt lu ứng với các tốc độ V1, V2, V3 (km/h)
t1, t2, t3 – Thời gian quay vòng lu ở cuối đoạn thi công hoặc thời gian sang số của
tự hành (h)
Nếu tăng chiều dài đoạn lu lèn thì năng suất của lu cũng tăng lên tuy nhiên nếu
đoạn lu lên quá dài đất dễ bị khô, phải tăng số lần lu hoặc tưới nước cho đất sinh ra tốn
kém Vì vậy chiều dài hợp lý của doạn lu lèn phải được quyết định sau khi đã tính toán so
sánh về kinh tế kỹ thuật
Tốc độ lu ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, năng suất và giá thành công tác lu lèn
Khi tăng tốc độ thì năng suất lu sẽ tăng và giá thành lu trên 1m3 đất sẽ giảm Tuy nhiên
tăng tốc độ lu thì thời gian tác dụng của lu trên đất sẽ ngắn lại và hiệu quả của công tác lu
lèn bị giảm Trong những lần lu cuối cùng khi mà sức cản nhớt của đất tăng lên, ảnh
hưởng của tốc độ lu đặc biệt rõ Vì vậy, theo kiến nghị của V.M.Xiđencô, những lần lu
cuối cùng nên chạy với tốc độ thấp
Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của các loại lu của nước ngoài dùng để tham khảo
cho ở bảng 5-7 Các chỉ tiêu này tính toán để đầm nén loại đất dính đến K=(0,95-0,98)
Max
δ với chiều dài đoạn lu lèn là 500-600m và chiều dày lớp đầm lèn tốt nhất
Bảng 5-7a Các loại lu của Liên Xô trước đây
Loại lu
Trọng lượng
lu (T)
Chiều dày của lớp
đất đầm nén (m)
Năng suất (m3/ca)
Giá thành lèn 10m3
đất (rúp)
Tiêu hao năng lượng để đầm 1m3 đất (ngựa)
Lu bánh lốp kéo theo
Trang 3Có nước
Có cát
ướt
Khôn
g chất tải
Có nướ
c
Có cát
ướt Ghi chú
sau150lb mỗi inch dài
ở bánh trước
Trang bị vối lốp cao
su để đổi thành xe mốc hậu
di chuyển
đến công trường Khoảng cách 2 cầu xe:
128inch Tốc độ: số chậm 1,4m/phút
Số trung bình
2,9m/phút
Số nhanh 5,0 m/phút Trọng lượng toàn
bộ 14000lb Chiều rộng lu 84inch
Tốc độ sử dụng 15m/phút
Trang 4129( 3)
331(3)
117( 3)
Chất đầy 50T
5.4.2 Đầm đất bằng đầm rơi tự do
Đầm là một phương pháp nén chặt đất có hiệu quả Khi đầm tiếp xúc với mặt đất
thì bắt đầu hiện tượng va chạm và trong đất sẽ xuất hiện trạng thái ứng suất biến dạng
Sau khi va chạm, động lượng của đầm sẽ mất đi trong khoảnh khắc còn ứng suất ở mặt
tiếp xúc giữa đầm và đất sẽ phát triển nhanh và lan truyền trong khối đất làm cho đất chặt
Trang 5- 87 -
lại Tốc độ lan truyền của sang ứng suất biến dạng trong đất đạt đến 200 - 350m/sec và tác
dụng trên chiều sâu 10-12m (với loại đầm trọng lượng 0,5- 1T) Như vậy quá trình đầm
đất là một quá trình động học, xẩy ra nhanh chóng, được đặc trưng bằng thời gian tác
dụng ứng suất rất ngắn và chiều sâu lan truyên trạng thái ứng suất biến dạng thì lại rất
sâu
Phương trình cơ bản của quá trình đầm đất có thể tìm được từ định luật cân bằng
động lượng và xung lượng xuất hiện khi đầm va chạm tới mặt đất:
)VV(M
V1, V2- tốc độ của đầm lúc bắt đầu và lúc kết thúc hiện tượng va chạm (cm/sec)
τ -Thời gian va chạm (sec), có thể tra bảng 5-8
Chia hai vế của phương trình trên cho diện tích đầm F và xem tốc độ V2 lúc kết thúc va
chạm bằng 0, ta có:
gF
gH2QF
MViF
Pdt
d 1
Xung lượng đơn vị là đặc tính cơ bản của quá trình đầm Qua nghiên cứu thực
nghiệm người ta thấy sự nén chặt của đất khi đầm tỉ lệ thuận với trị số xung lượng đơn vị
Để đảm bảo độ chặt yêu cầu thì trị số xung lượng đơn vị phải lớn hơn trị số xung
lượng đơn vị giới hạn igh một giá trị nào đó tuỳ theo loại đất;
Trị số xung lượng đơn vị giới hạn của đất có độ ẩm tốt nhất như sau:
Cát và á cát bột 0,05-0,07 kgsec/cm2
Trang 6sét 0,20-0,27
Đã biết trị số xung lượng đơn vị giới hạn và các thông số của đầm thì có thể xác
định được chiều cao rơi đầm từ công thức tính xung lượng đơn vị i đã nêu ở trên
áp suất cực đại σMax tác dụng trên mặt đất khi đầm va chạm với đất có thể xác
định theo công thức thực nghiệm sau đây của N.YA Khacrkhuta:
τ
=τ
=σ
gF
gH2Q7,1
i7,
0 Min
W
WB1,1
Khi đầm nén đất không dính thì có thể tăng chiều dày tốt nhất tìm được theo công
thức trên lên 1,2-1,5 lần Nếu chiều dày lớp đất đầm nén dưới 1m thì tăng 1,5 lần, chiều
Khio
gh (5-18)
Với : n – Số lần đầm cần thiết
h - Chiều dày thực tế của lớp đất đầm nén(cm)
Ho – Chiều dày tốt nhất của lớp đất đâm nén, (cm) tính theo công thức
(5-17b)
k-hệ số phụ thuộc vào độ chặt yêu cầu và loại đất,trị số của nó cho ở bảng (5-9)
Trang 7Ví dụ: Hãy xác định chế độ làm việc hợp lý của máy đầm khối lượng 1800kg, kích
thước 100x100cm, chiều cao đầm 1m để đầm đất á sét nặng ở độ ẩm tốt nhất với igh = 0,15
sec/cm2.
Tính xung lượng đơn vị:
10000.981
100.981.21800gF
gh2QF
0e1W
Khi cần đầm nén đến độ chặt yêu cầu (0,98-1) δ max: thì chiều dày tốt nhất của lớp
đất đầm nén phải lấy bằng 45cm
Số lần đầm để đạt được các độ chặt khác nhau là:
a)Với độ chặt 0,95 δ max:
08,0.90
15,0.90.4i
H
i
h.K0
15,0.45
Dùng máy đầm thì có thể đầm nền đường đắp bằng các loại đất khác nhau, kể cả
đất cục và có thể đầm được các lớp có chiều dày lớn Phương pháp đầm đất sử dụng thích
hợp ở những nơi chật hẹp khó sử dụng các phương tiện đầm nén khác, nhưng năng suất
thấp giá thành thì lại cao hơn so với phương pháp lu lèn
Bản đầm lắp trên máy đào là loại đầm phổ biến nhất Quá trình thao tác của bản
đầm này như sau: máy đào có mắc bản đầm di chuyển dọc theo tim đường (hình 5-14) và
đầm chặt với số lần đầm tính toán tại một chỗ đứng của máy Những lần đầm đầu tiên
thường chỉ nâng bản đầm lên độ cao bằng nủa độ cao tính toán vì đất còn xốp rời nên
cường độ còn thấp Tại một chỗ đứng của máy cho cần máy đào có mắc đầm tuần tự quay
và đầm chặt một dải đất bằng chiều rộng của bản đầm
Để đảm bảo đầm nén được đều, nên lấy góc hợp thành giữa hai vị trí ngoài cùng
của cần máy đào không nhỏ hơn 90o và tiến hành quá trình đầm bằng cách cho cần máy
Trang 8đào quay dần từ mép vào tim đường, bảo đảm cho vệt đầm sau đè lên vệt đầm trước một
chiều rộng quy định
Hình 5-14: Sơ đồ đầm nén đất bằng bản đầm (2T)
Lắp trên máy đào kiểu E-505
Năng suất của bản đầm, m3/ca, tính theo công thức:
τ
=
n
H K F K T 3600
(5-19)
Trong đó:
T – Thời gian trong một ca (h)
Kt – Hệ số sử dụng thời gian trong
loại máy đầm tự hành và máy đầm hơi nhỏ
đẩy tay để đầm đất Loại máy đầm tự hành
kiểu D-471 dùng để đầm đất với khối lượng lớn và di chuyển theo sơ đồ ở hình (5-15)
Năng suất của máy đầm này cũng tính theo công thức (5-19) Khi dùng máy đầm yêu cầu
các vật đầm sau phải đè lên các vật đầm trước khoảng 0,1-,15 m và lần đi đầu tiên phải
các vai đường 0,6 m để đảm bảo sự ổn định của máy Loại máy đầm hơi nhỏ đẩy tay (đầm
cóc) dùng để đầm đất ở những nơi hẹp và khối lượng ít
1 1 3
3 2 1
Hình 5-15: Sơ đồ đầm đất bằng máy đầm
tự hành 1-3 trình tự nén đất
Trang 9- 91 -
5.4.3 Đầm nén đất bằng chấn động
Chấn động là phương pháp thích hợp để đầm nén đất rời Khi chấn động các hạt và
các cục đất bị dao động, phân ly, lực ma sát và lực dính giữa các hạt và các cục đất giảm
xuống Dưới tác dụng của trọng lượng bản thân và trọng lượng của bộ chấn động, các hạt
đất sẽ di chuyển theo hướng thẳng đứng và sắp xếp lại chặt chẽ hơn Chấn động thích hợp
để đầm nén đất rời, vì tác dụng tương hỗ giữa các hạt của đất rời chủ yếu là do lực ma sát
Khi chấn động các hạt đất được tách rời làm cho lực ma sát động xuất hiện khi các hạt đất
chuyển vị sẽ nhỏ hơn nhiều so với lực ma sát tĩnh Với đất dính thì lực dính do các màng
nước giữa các hạt sinh ra trong khi chấn động giảm rất ít, vì vậy sức kháng của đất khi
chấn động giảm xuống không đáng kể, do đó hiệu quả đầm nén bằng chấn động rất thấp
Hiệu quả của việc đầm nén bằng chấn động phụ thuộc vào các thông số sau đây:
tần số và biên độ dao động, gia tốc, tải trọng tác dụng lên đất
Theo lý thuyết của viện sĩ P.A.Rebin-đi thì mỗi cỡ hạt tương ứng với một tấn số
dao động nhất định, chấn động với tần số này thì hiệu quả đầm nén sẽ cao nhất Hạt càng
nhỏ thì tần số đó càng lớn Vì trong đất có các hạt và các cục kích cỡ khác nhau cho nên
chấn động với các tần số khác nhau thì hiệu quả đầm nén sẽ cao nhất
Khi chấn động một phần năng lượng của máy chấn động hao phí vào việc di
chuyển các hạt và các cục đất, một phần khác thì phân tán đi và cuối cùng sẽ biến thành
nhiệt Tăng trị số gia tốc khi chấn động thì sẽ giảm bớt sự phân tán năng lượng và làm cho
việc đầm nén có hiệu quả Theo N.Y.A.Khackhuta, biên độ dao động chỉ ảnh hưởng đến
quá trình đầm nén trong một mức độ nào đó so với ảnh hưởng của việc gia tốc Vì vậy
trong quá trình chấn động cần phải thay đổi gia tốc
Khi đầm nén đất bằng máy chấn động, bộ phận chấn động sinh ra một áp suất
tương đối nhỏ: bằng 0,5-0,8 KG/cm2, nhưng áp lực đó lại có một hiệu quả đầm nén cao do
lực kích thích xuất hiện khi dao động
Hiệu quả của việc đầm nén được xác định bằng tỷ số của lực kích thích Pk trên
trọng lượng của bộ chấn động Q Trị số của lực kích thích tỷ lệ với biên độ dao động còn
trọng lượng của bộ chấn động phải đủ để cho áp lực tĩnh đơn vị, (bằng tỷ số Q/F, với F là
diện tích đáy của bộ chấn động) không nhỏ hơn các trị số sau:
Quan hệ giữa độ chặt của đất và tỷ số Pk/Q vẽ ở hình 5-16
Nhìn hình vẽ ta thấy trong phần đầu
do biên độ dao động tăng nên lực kích thích
-Pk và tỷ số Pk/Q đều tăng: hiệu quả đầm nén
tăng lên, độ chặt đạt trị số cực đại ở điểm A
Sau đó nếu tăng biên độ lên nữa, dao động sẽ
từ trạng thái điều hoà chuyển sang trạng thái
p k
Q
C A
Trang 10hỗn loạn và hiệu quả đầm nén sẽ giảm xuống (đoạn AB) Nếu tiếp tục tăng biên độ lên
nữa, bộ chấn động sẽ rời khỏi mặt đất và khi đó quá trình chấn động thực tế sẽ trở thành
quá trình chấn động - đầm và hiệu quả đầm nén sẽ tăng lên (đoạn BC) Thời gian mà bộ
chấn động có thể rời khỏi mặt đất bị giới hạn bởi tấn số dao động, vì vậy việc tăng biên độ
dao động chỉ có thể làm tăng chiều cao đầm đến một giới hạn nào đó (điểm C) và khi đó
hiệu quả đầm nén sẽ ổn định
Các máy chấn động được tính toán với tỷ số Pk/Q tương ứng với điểm A, còn các
máy chấn động đầm thì tương ứng với điểm C Tỷ số Pk/Q tốt nhất có những giá trị số
khác nhau phụ thuộc vào tần số dao động (xem bảng 5-10)
do đó hiệu suất đầm nén sẽ giảm Nếu tỉ số
Q
Pk lớn thì máy chấn động sẽ trở thành máy
chấn động - đầm và trong giai đoạn đầu (ứng với giai đoạn AB trên hình 5-16) hiệu suất
đầm nén cũng giảm
Khi tần số dao động của máy chấn động trùng hoặc gần trùng với tần số dao động
riêng của hệ thống máy chấn động - đất sẽ xuất hiện cộng hưởng và đạt được hiệu xuất
đầm nén tốt nhất Hiện nay chưa có phương pháp tính toán tần số giao động riêng của hệ
thống máy chấn động - đất nào đáng tin cậy nên việc chọn tần số dao động của máy chấn
động chỉ có thể dựa trên cơ sở thực nghiệm Theo kết quả thí nghiệm, tần số tần số dao
động tốt nhất của máy chấn động phụ thuộc vào áp lực tĩnh đơn vị, áp lực càng nhỏ thì tần
số dao động cần phải cao (bảng 5-11)
Trong đó:
C – Số lần đặt tải trọng cần thiết khi trấn động để được độ chặt quy định
m – tần số giao động của máy (lần/phút)
Với đất rời trị số thay đổi từ 1,5 x 103 đến 5 x 103. Giới hạn dưới ứng với máy chấn
động có thông số tốt nhất, giới hạn trên tương ứng với máy chấn động có trọng lượng nhỏ
Trang 11- 93 -
có thông số tốt nhất, giới hạn trên tương ứng với máy chấn động có trọng lượng nhỏ hoặc
với đất có độ ẩm nhỏ
Độ ẩm của đất khi chấn động phải lớn hơn độ ẩm tốt nhất từ 10-20%
Chiều dày của lớp đất đầm nén bằng chấn động H xác định theo công thức:
425p
25,5p85,
n -Thành phần của nhóm hạt sét trong đất,(%)
Bmin - Cạnh ngắn của bàn chấn động, (cm)
Năng suất của bàn chấn động có thể xác định theo công thức
N=
n
K.H.v)2,0B
Trong đó:
(B-0,2) - Chiều rộng của bản chấn động kể đến vệt đầm trùng lên nhau, (m)
v - Tốc độ di chuyển của máy, (m/h)
H - Chiều dày của lớp đất đầm bằng chấn động xác định theo công thức (5-21)
n - Số lần đầm cần đi qua một chỗ, thường n=2
Kt – Hệ số sử dụng thời gian, thường bằng 0,7-0,8
ở nước ngoài khi xây dựng nền đường người ta thường dùng loại lu chấn động và
máy chấn động tự hành để đầm nén đất
Lu chấn động thích hợp để đầm các lớp đất chiều dày dưới 1,5m và chiều dài đoạn
lu lèn là 200-300m, còn loại máy chấn động tự hành thì để đầm các lớp đất có chiều dày
dưới 0,8m trên các đoạn thẳng chiều dài 50-100m Độ dốc dọc của đoạn lu lèn không
được quá 10%, độ dốc ngang không quá 5%
Các loại lu chấn động kiểu kéo theo thường làm việc theo sơ đồ lu khép kín,các lu
tự hành thì làm việc theo sơ đồ con thoi Năng suất của lu chấn động và của máy chấn
động tự hành có thể xác định theo công thức xác định năng suất của lu
5.5 Các phương pháp kiểm tra độ chặt và độ ẩm của đất ở hiện
trường
Công tác kiểm tra chất lượng đàm nén đất ở hiện trường gồm có hai nội dung
chính: xác định độ ẩm thực tế của đất (nhằm đảm bảo đầm nén đất ở độ ẩm gần độ ẩm tốt
nhất) và xác định độ chặt thực tế của đất (nhằm kiểm tra xem đất đã đầm nén đến độ chặt
yêu cầu như thiết kế quy định hay chưa) Yêu cầu với công tác kiểm tra là phải xác định
chính xác và kịp thời hai chỉ tiêu trên để đảm bảo tiến độ thi công và có những biện pháp
xử lý thích đáng trong trường hợp cần thiết
Sau đây là một số phương pháp thường dùng:
Trang 125.5.1 Phương pháp dao đai, đốt cồn:
Dung trọng khô của đất (là chỉ tiêu để
đánh giá độ chặt) được xác định bằng cách lấy
mẫu đất không phá hoại kết cấu trong một dao
đai có miệng vạt nhọn, đã biết trước thể tích
(hình 5-17)
Kỹ thuật lấy mẫu nguyên dạng như sau:
đặt dao đai trên mặt đất nơi định lấy mẫu kiểm
tra để cho đầu vạt nhọn xuống, úp mũi dao lên
đầu kia rồi dùng búa đóng qua mũ dao để dao
đai lún sâu vào đất cho đến khi mặt dao đai thấp hơn mặt đất Sau đó đào đất xung quanh
dao đai, bứng dao đai và đất trong dao lên khỏi mặt đất rồi gọt phần đất thừa cho ngang
bằng với mặt dao đai Đem cân cả dao đai lẫn đất trong đó, chính xác đến 1g Dung trọng
của đất ẩm tìm được theo công thức:
V
PP
V – Thể tích đất trong dao đai (cm3)
Sau khi cân xong thì chọn một mẫu đất có độ ẩm trung bình, đổ ra đĩa trộn cẩn thận và lấy
chừng 50-80g bỏ vào ống nhôm có nắp đậy để sấy khô (hoặc đổ cồn đốt khô) cho đến khi
trọng lượng không đổi để tìm độ ẩm
Sau khi xác định được độ ẩm thì tìm được dung trong khô thực tế theo công thức:
W1
W+
γ
=δTrong đó:
w - độ ẩm theo trọng lượng của đất, tính đến hai số lẻ (%)
Đem so sánh δ đã tính với độ chặt tiêu chuẩn tìm được bằng thí nghiệm đầm nén tiêu
chuẩn để xem đã đầm nén đến độ chặt yêu cầu hay chưa
5.5.2 Phương pháp xác định nhanh độ chặt và độ ẩm của đất ở hiện trường bằng phao
Côvalep (hình 5-18)
Việc xác định độ ẩm bằng cách sấy khô hoặc đốt cồn có một nhược điểm rất lớn là
mất nhiều thời gian hoặc tốn kém Vì vậy hiện nay người ta thường dùng phao Côvalep để
xác định nhanh độ chặt và độ ẩm của đất ở hiện trường
Nguyên tắc làm việc của phao Côvalep là dựa vào sức đẩy của nước để xác định
trọng lượng Dùng dao đai lấy mẫu nguyên dạng như ở trên đã nêu sau đó đổ đất vào phao
rồi thả phao vào thùng nước Căn cứ vào ngấn nước mà phao chìm xuống ta đọc được
dung trong ẩm của mẫu đất γωở thang B λ
Hình 5-17: Dao đai cắt đất