1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

những góp ý sửa đổi luật lao động

111 524 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Góp Ý Sửa Đổi Luật Lao Động
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 4,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

những góp ý sửa đổi luật lao động

Trang 1

V/v góp ý dự thảo Bộ luật lao động

U0

Phúc đáp Công văn số 1623/LĐÐTBXH-PC ngày 24/6/2011 của Bộ Lao động -

Thương bịnh và Xã hội về việc đóng góp ý kiến đối với dự thảo Bộ luật lao động

(sửa đổi) Sau khi nghiên cứu, Bộ Y tế xin tham gia một số ý kiến như sau:

I NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN Ý KIẾN KHÁC NHAU TẠI DỰ THẢO TỜ TRÌNH

1 Về đại diện tập thể lao động ở những doanh nghiệp chưa thành lập các tổ

chức công đoàn

Đồng tình với ý kiến thứ hai cho rằng cần quy định vai trò của Đại diện tập

thể lao động trong những doanh nghiệp không thành lập công đoàn cơ sở vì phù

hợp với thực tiễn và bảo đâm quyền lợi của người lao động một cách tối ưu

2,:Vẻ thỏa ước lao động tập thể ngành _ a

Đồng tình với ý kiến thứ hai cho rằng cần quy định thỏa ước lao động tập thể

ngành trong Bộ luật sẽ tạo khuôn khổ pháp lý cho việc thương lượng, giảm bớt nội dung thương lượng Tuy nhiên Luật cần làm rõ khái niệm ngành để xác định được phạm vi hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể ngành

3 Về thời giờ làm thêm:

Đồng tình với ý kiến thứ hai cho rằng tăng thời giờ làm thêm của người lao động để người lao động tăng thêm thu nhập và doanh nghiệp có thể phát triển sản

xuất nhưng vẫn phải giới hạn thời gian làm việc tối đa của người lao động để bảo đảm sức khỏe, tái sản xuất sức lao động

_- 4 Van dé bình đẳng giới và tuổi nghỉ hưu:

Đồng tình với ý kiến thứ hai cho rằng cần nâng tuổi nghỉ hưu đối với người lao động nam và nữ để bảo đảm bình đẳng giới và giảm thiểu nguy cơ vỡ Quỹ bảo

hiểm xã hội

Đồng thời, để nghị bổ sung quy định đối với trường hợp, cán bộ y tế là điều

dưỡng viên, bác sĩ, được sĩ khi đến tuổi nghỉ hưu mà tình nguyện tiếp tục làm việc

thì cho phép được kéo đài tuổi nghỉ hưu đối với nữ là 60 tuổi và đối với nam là 65

tuổi.

Trang 2

IL GÓP Ý CỤ THỂ VÀO DỰ THẢO BỘ LUẬT LAO ĐỘNG (SỬA ĐỔI)

1 Điều 1 Phạm vi điều chỉnh: Đồng tình với phương án thứ nhất: giữ nguyên

như Bộ Luật Lao động hiện hành vì việc liệt kê các nội đung quy định như phương

án thứ hai không mang tính bao quát và việc liệt kê còn chưa đầy đủ

2 Điều 30 Thử việc: đồng tình với phương án 2 Tuy nhiên, đề nghị bố sung

nội dung thỏa thuận về bồi thường thiệt hại trong quá trình thử việc

3 Khoản 2, Điều 49 Trách nhiệm của người sử đung lao động trong trường

hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế: Đề nghị làm rõ các trường

hợp nào được coi là lý do kinh tế để bảo đảm tính minh bạch khi áp dụng, tránh

trường hợp các doanh nghiệp dựa vào lý do này để cho người lao động thôi việc tùy

tiện Đồng thời sửa việc liệt kê các biện pháp tại khoản này như sau: "người sử

dụng lao động phải áp dụng một hoặc nhiều các biện pháp sau: " để bảo đảm tính

quy phạm

4 Điều 57 Hợp đồng lao động vô hiệu: Đề nghị quy định cụ thể cơ quan

quản lý nhà nước nào có thẩm quyển tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

5 Đề nghị sửa đổi một số từ đùng trong văn bản để bảo đảm tính quy phạm

của văn bản quy phạm pháp luật như: từ "cúp lương" tại Điều 128; từ "phạm lỗi”

tại Điều 188; từ " các phần tử quá khích" tại Điều 234; từ "trả thù" tại Điều 236

Trên đây là một số ý kiến tham gia của Bộ Y tế, kính chuyển Quý Bộ tham

khảo và hoàn thiện dự thảo Bộ luật lao động (sửa đổi)

Trang 3

V/v lẫy ý kiến Dự thảo Nà Nội, ngày-2 4y hông WCU ao

PEN

Phúc đáp công văn số 4871/LDTBXH-PC ngày 23 tháng 12 năm 2010 của

Bộ Lao động — Thương binh và Xã hội vê việc lây ý kiên dự án vào Dự thảo Bộ luật lao động (sửa đôi) Bộ Thông tin và Truyện thông có ý kiến như sau:

1 Nhất trí về kết cầu và các nội dung cơ bản của Tờ trình Chính phủ và Dự thảo Bộ luật lao động sửa đổi,

2 Về Dự thảo Bộ luật:

- Điều 1 đề nghị thực hiện phương án 1 để đảm bảo tính khái quát cao, đơn

giản, dễ hiểu, còn những nội hàm của quan hệ lao động sẽ được thể hiện ở các điều

- Tại Điều 57 khi quy định hợp đồng tuyên bế vô hiệu, chưa quy định rõ và công nhận thời gian người lao động đã làm; có hình thức chế tài kèm theo

- Điều 107, đề nghị thực hiện phương án 1 để đảm bảo tính linh hoạt trong việc sử dụng lao động của doanh nghiệp, phù hợp với nhiễu loại hình đoanh nghiệp

Trang 4

3 if’ Viv voy da he he ae Lao BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BÌNH VÀ XÃ HỘI

động (sửa đổi) so Hà Nội, ngày 27 tháng 6 hăm 7 20K a 4151 j

(4 Ca Pb¿ Kính gửi: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hột &** chuygn: PC? " ĐẾN cau TẾ

Trả lời Công văn số 1623/LĐTBXH- -PC ngày 24 tháng 5 năm 2010 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về viéc gép ý dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi (sau

đây gọi tắt là dự thảo Bộ luật, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

I Về sự cần thiết ban hành Bộ luật

Bộ luật Lao động được ban hành ngày 23 tháng 6 năm 1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1995, đến nay đã qua ba lần sửa đổi, bỗ sung vào các

năm 2002, 2006 và 2007 (sau đây gọi chung là Bộ luật Lao động) Để Bộ luật này đi

vào thực tiễn, các cơ quan có thâm quyển đã ban hành các văn bản hướng dẫn nhằm

cụ thể hóa các nội dung mang tính định hướng trong Bộ luật Lao động

Qua 15 năm thi hành, Bộ luật Lao động đã cơ bản đi vào thực tiễn cuộc sống;

tạo hành lang pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho các chủ thể thiết lập quan hệ lao động;

góp phần bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao

động; là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước

về lao động Tuy nhiên, trong quá trình thi hành Bộ luật Lao động đã bộc lộ những

hạn chế, bất cập sau đây:

1 Bộ lật Lao động đã qua 3 lần sửa đổi, bỗ sung nhưng mới chỉ sửa đổi đề đáp ứng một số yêu cầu bức thiết nhất mà chưa có điều kiện dé chỉnh sửa một cách toàn

diện; một số quy định của Bộ luật Lao động còn mang tính nguyên tắc, do đó, dé thi

hành được Bộ luật này thì phải ban hành nhiều văn bản hướng dẫn; một số văn bản

hướng dẫn ban hành chậm, thậm chí chưa được ban hành nên không đảm bảo tính

đồng bộ, tính thống nhất trong hệ thống các văn bản pháp luật về lao động

Mặt khác, một số nội dung quy định trong Bộ luật Lao động như dạy nghề, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động ổi làm việc có thời hạn ở nước ngoài đã được tách ra

thành các luật riêng Bên cạnh đó, thời gian qua, có rất nhiều luật ban hành có nội

dung liên quan đến Bộ luật Lao động như Bộ luật Dân sự năm 2005, Iật Tố tụng Dân

sự năm 2004, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật #t Thuong mại năm 2005, Luật Hop

tác xã, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức

2 Bộ luật Lao động được ban hành trong thời kỳ nền kinh tế nước ta vừa mới chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đến nay,

tình hình kinh tễ - xã hội nói chung và thị trường lao động nói riêng đã có những bước

phát triển mới, một số quy định của pháp luật lao động không còn phù hợp với sự phát

triển kinh tế - xã hội; ảnh hưởng đến thị trường lao động

Trang 5

mh, at

3 Khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tệ và khu vực; gia nhập Tả chức thương

mại thế giới (WTO); tham gia Công ước của Tô chức Lao động quôc (ILO) thì một số

nội dung của Bộ luật Lao động chưa phù hợp thì can phải nội luật hoá cho phù hợp với

việc hội nhập và gia nhập này

Để tiếp tục cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992 đã được Quốc hội khoá X, kỳ họp

- thứ 10 tháng 12 năm 2001 sửa đổi, bổ sung; thể chế hoá đường lối đổi mới của Dang

trong Văn kiện Đại hội đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết của các Hội nghị Ban

chấp hành Trung ương về thúc đây xây dựng đông bộ thê chế kinh tê thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý Nhà nước, trong đó có thê chê thị trường lao

động và quan hệ lao động Đông thời, khắc phục được những hạn chế, bất cập nêu

trên, thì việc sửa đổi Bộ luật Lao động là can thiệt

TI Về nội dung của dự thảo Bộ luật

Về cơ bản, chúng tôi nhất trí với nội dung của dự thảo Bộ luật Tuy nhiên, về cụ

thể, để nghị xem xét một số điểm sau đây:

1 Về đỗi tượng áp dụng (Điều 2)

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 dự thảo Bộ luật thì người giúp việc gia đình là (

một đối tượng riêng không thuộc nhóm đối tượng lao động đặc thù, nhưng theo quy

định tại Chương XI dự thảo Bộ luật thì người giúp việc gia đình thuộc nhóm đôi tượng

lao động đặc thù Dé dam bao tinh nhất quán trong dự thảo Bộ luật, tại khoản 1 Điều 2

dự thảo Bộ luật, đê nghị bỏ đoạn “người giúp việc gia đình `

2 Về tổ chức dịch vụ việc làm (Điễu 17)

Để Chính phủ có căn cứ quy định điều kiện, thủ tục cấp và thu hồi giấy phép

hoạt động dịch vụ việc làm, tại điểm b khoản 1 Điều 17 dự thảo Bộ luật nên thê hiện

lại cho rõ hơn theo hướng, Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục cập và thu hôi giây

phép hoạt động dịch vụ việc làm

3 Về thử việc (Điều 30)

Theo chúng tôi, có hay không thử việc phụ thuộc vào công việc cụ thể mà người

ir dung lao động cần tuyển và khả năng đáp ứng (kỹ năng nghệ) của người lao động,

nên vân để này do người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận Vì vậy, (

chúng tôi nhất trí quy định tại khoản 2, Điều 32 dự thảo Bộ luật

4 Về thời gian thử việc (Điều 31)

Để khắc phục tình trạng khi hết thời gian thử việc người sử dụng lao động

không ký hợp động lao động đôi với người lao động đạt kêt quả thủ việc mà lại tiệp

tục thử việc nhiêu lần, tại Điều 31 dự thảo Bộ luật, đề nghị bô sung quy định sô lân

thử việc theo hướng, nếu hết thời gian thử việc mà người lao động không đạt kêt quả

thì sẽ tiếp tục thử việc nhưng thời gian thử việc không quá thời gian đã làm thử việc

5 Về các trường hợp don phương chấm đứt hợp động lao động (Điều 41)

Trang 6

Tại điểm d, Khoản 1, Điều 41 dự thảo Bộ luật, đề nghị bỗ sung thêm trường hợp

được tuyển dụng vào công chức, viên chức

6 Về các trường hợp người sử dụng lao động không được đơn phương chấm

đứt hợp động lao động (Điểu 44)

Theo quy định tại khoản 4 Điều 44 dự thảo Bộ luật thì khi người lao động bị sây thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu, lao động nữ sinh con sẽ bị người sử dụng lao động đơn phương chấm đứt hợp đồng lao động Để bảo đảm việc làm cho người lao động trong thời _pian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản, tại khoản 4 Điều 44 dự thảo Bộ luật, đề nghị thê hiện lại theo hướng, người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội

7 Về trách nhiệm của người lao động khi chấm đút hợp đồng lao động (Điều

48)

Tại Điều 48 dự thảo Bộ luật, đề nghị bỗ sung quy định khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại Điều 46, dự thảo Bộ luật thì không được trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 52, dự thảo Bộ luật

8 ve trách nhiệm của người sử dụng lao động khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển quyền quản lý, quyên sử dụng tài sản, quyên sở hữu doanh nghiệp (Điều

50)

Dé bao dam quyén lợi của người lao động và trách nhiệm của người sử dụng lao động trước và sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển quyền quản lý, quyên sử dụng tài sản, quyền sở hữu doanh nghiệp; đồng thời, trách nhiệm của người sử dụng lao động trong các trường hợp này là khác nhau do đó, theo chúng tôi, nên quy định các trường hợp sáp nhập hợp-nhất doanh nghiệp thành một khoản; chia, tách doanh nghiệp” thành một khoản và chuyển quyền quản lý, quyền sử dụng tài sản, quyền SỞ hữu đoanh nghiệp thành một khoản Trên cơ sở đó sẽ quy định trách nhiệm cụ thể của người sử dụng lao động trước và sau khi sáp nhập, hợp nhất; chia, tách; chuyển quyền quản lý, quyên sử dụng tài sản, quyền sở hữu doanh nghiệp trong việc xây dựng phương án sử dụng lao động, tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động và giải quyết các chế độ của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

9 Về trợ cấp thôi việc (Điều 52)

- Tại khoản 1 Điều 52 dự thảo Bộ luật, đề nghị bổ sung trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại Điều

46 dự thảo Bộ luật

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 52 và khoản 1, Điều 53 dự thảo Bộ luật thì

thời gian được hưởng trợ cấp thôi việc nhiều nhất là 10 tháng, trợ cấp mất việc làm nhiều nhất là 20 tháng, nhưng dự thảo Tờ trình lại không giải trình lý do dé đưa ra thời gian tối đa được hưởng trợ cấp thôi việc và mất việc làm này Đề nghị giải trình rõ về vấn đề này

Trang 7

10 VỀ trách nhiệm thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp chấm dút hoạt

động, giải thể, phá sản (Điều 56)'

Để đảm bảo quyền lợi của người lao động về bảo hiểm xã hội trong trường hợp

doanh nghiệp chấm đứt hoạt động, giải thể, phá sản, theo chúng tôi, tại Điều 56, dự

thảo Bộ luật nên thể hiện lại cho rõ hơn theo hướng, trong trường hợp doanh nghiệp

chấm đứt hoạt động, giải thể, phá sản thì tiền nợ bảo hiểm xã hội của người lao động

được ưu tiên thanh toán đầu tiên

11 Về xử lý thỏa ước lao động tập thể vô hiệu (Diéu 77)

Tại Điều 77 dự thảo Bộ luật mới chỉ quy định quyền và nghĩa vụ của các bên

khi thỏa ước lao động tập thé bị tuyên bế vô hiệu; thời hạn các bên để các bên làm lại

thỏa ước lao động nhưng lại chưa quy định khi nào thì cơ quan quản lý nhà nước về

lao động hoặc Tòa án ra quyết định tuyên bế thỏa ước lao động tập thể vô hiệu Vì

vậy, để nghị bổ sung quy định về thời hạn để cơ quan quản lý nhà nước về lao động

hoặc Tòa án ra quyết định tuyên bố thỏa ước láo động tập thể vô hiệu

12 Về tiền lương (Điều 88)

Chúng tôi cho rằng, tiền lương của người lao động là do hai bên thỏa thuận và (

được ghi trong hợp đồng lao động nhưng không thấp hương mức lương tối thiểu vùng

mà tiền lương ghi trong hợp đồng lao động là tiền lương theo tháng, không phải là tiền

lương theo tuần, ngày hoặc theo giờ; tiền lương trả cho người lao động lại phải phụ

thuộc vào số ngày công, chất lượng và năng suất lao động chứ không phụ thuộc vào

mức lương tối thiểu vùng Theo quy định tại khoản 2, Điều 88, dự thảo Bộ luật thì,

trong trường hợp người lao động chỉ làm việc một hoặc hai ngày công trong tháng

cũng sẽ được trả mức lương bằng mức lương tối thiểu vùng là chưa hợp lý Vì vậy, tại

khoản 2, Điều 88, dự thảo Bộ luật đề nghị bỏ cụm từ: “nhưng không được thấp hơn

mức lương tối thiểu ving”

13 Về nguyên tắc trả lương ( Điều 89)

Quy định tại khoản 1, Điều 89, dự thảo Bộ luật mâu thuẫn với khoản 2, Điều

này vì, theo quy định tại khoản 1, Điều 89, dự thảo Bộ luật thì tiền lương có thể trả

qua tài khoản ngân hàng hoặc một phan bằng séc, tức là tiền lương có thê không trả

trực tiếp bằng tiền mặt cho người lao động, nhưng theo quy định tại khoản 2, Điều này L

thì tiền lương được trả trực tiếp Vì vậy, tại khoản 2, Điều 88, dự thảo Bộ luật, đề nghị

bỏ cụm từ: “trực tiếp”

14 Tiên lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm (Điễu 08)

Tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm trong các ngày nghỉ hàng tuần,

nghỉ lễ, ngày nghỉ hàng năm quy định tại các khoản 2 và khoản 3, Điều 98, dự thảo Bộ

luật bằng tiên lương làm việc vào ngày nghỉ hàng tuần, nghỉ lễ, ngày nghỉ hàng năm

quy định tại Điều 97, dự thảo Bộ luật là chưa hợp lý Theo chúng tôi, tiên lương làm

thêm giờ vào, làm việc vào ban đêm trong những ngày nghỉ hàng tuần, nghỉ lễ, ngày

nghỉ hàng năm phải cao hơn tiền lương làm việc vào ngày nghỉ hàng tuân, nghỉ lễ,

4

Trang 8

ngày nghỉ hàng năm Vì vậy, tại các khoản 2 và khoản 3, Điều 98, dự thảo Bộ luật, đề

nghị nghiên cứu và nâng mức cao hơn

15 Về chế độ phụ cắp, nâng lương (Điều 103)

Theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội và Luật Bảo hiểm tế thì phụ cấp và trợ

cấp không phải đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tê nên khi ký hợp đông lao động

người sử dụng lao động đã thỏa thuận với người lao động ghi mức lương thập đi và có nhiều loại phụ cấp khác nhau, mức phụ cấp cao lên Trong khi đó Bộ luật Lao động hiện hành lại không không chế tông tiên của các loại phụ cập, trợ cấp so với tiên lương, tiền công trong hợp đông lao động Đề khắc phục được tình trạng này, theo chúng tôi, tại Điêu 103, dự thảo Bộ luật nên quy định theo hướng không chê tông mức phụ cấp, trợ cấp so với tiên lương, tien công

16 Về thời giờ làm việc (Điều 105)

Theo quy định tại khoản 1, Điều 105, dự thảo Bộ luật thì thời giờ làm việc

không quá 48 giờ trong một tuần, nhưng theo quy định tại khoản 2, Dieu nay thi thoi giờ làm việc không quá 60 giờ trong một tuân Đề tránh sự mâu thuần về thời giờ làm việc trong tuần, đề nghị xem lại quy định tại khoản 2, Điêu 105, dự thảo Bộ luật

17 Về thời giờ làm thêm (Điều 107)

Tại khoản 2 Điều 107 dự thảo Bộ luật đưa ra 02 phương án làm thêm gIỜ, nhưng dự thảo Tờ trình lại chưa thể hiện lý do của việc đưa ra 2 phương án và ưu, nhược điểm của từng phương án Vì vậy, đề nghị bỗ sung trong Tờ trình về vấn đề này

18 Về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức đổi với an toàn lao động, vệ sinh

- Tại khoản 2, Điều 134, dự thảo Bộ luật, đề nghị bỏ Hội đồng quốc gia về bảo

hộ lao động vì các lý do sau đây:

Thứ nhất, thêm một tổ chức mới nhưng dự thảo Độ luật lại chưa quy định rõ vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Hội dong này; môi quan hệ giữa Hội đồng với các cơ quan quản lý nhà nước về lao động, Tông Liên đoàn Lao động Việt Nam và tô chức đại điện người sử dụng lao động trong an toàn lao động, vệ sinh lao động;

_ Thứ hai, nếu Hội đồng với tư cách là tô chức tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ

vé an toàn lao động, vệ sinh lao động thì do Thủ tướng Chính phủ thành lập chứ không

thê đưa vào dự thảo Bộ luật

.—“ Theo chúng tôi, hồ sơ quốc gia cần phải công khai, minh bach và nội dung của

ho sơ cân được quy định trong Bộ luật do đó, tại khoản 3, Điều 134, dự thảo Bộ luật,

đề nghị làm rõ hô sơ quốc gia bao gồm những tải liệu gì

19 Về tổ chức kiểm định kỹ thuật an toàn lao động (Điều 149)

Trang 9

Theo chúng tôi, hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động là một hoạt

động kinh doanh có điều kiện vì nó liên quan trực tiếp đến tính mạng và sức khoẻ của

người lao động mà theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì tổ chức hoạt

động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động chỉ được hoạt động sau khi được cấp giấy

phép và điều kiện, thẩm quyền cấp, thu hồi giấy phép là do Chính phủ quy định Vì

vậy, tại khoản 2, Điều 149, dự á án Bộ luật, đề nghị quy định lại theo hướng Chính phủ

quy định điều kiện và trình tự cấp, thu hồi giấy phép hoạt động kiểm định kỹ thuật an

toàn lao động

20 Về những quy định riêng đối với lao động nữ (Chương X)

Để đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống pháp luật về chế độ thai sản, chế độ

nghỉ để chăm sóc con ốm quy định tại Bộ luật này với Luật Bảo hiểm xã hội, tại khoản

1, Điều 156, dự thảo Bộ luật đề nghị bỏ phương án 2; Điều 158, dự thảo Bộ luật nên

thể hiện lại theo hướng viện din sang Luat Bao hiểm xã hội

21 Vé những quy định riêng đối với lao động đặc thù (Chương XJ)

- Theo quy định tại Điều 162, dự thảo Bộ luật thì người sử dụng lao động chỉ

được sử dụng người lao động chưa thành niên làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm

nhưng lại chưa quy định định số giờ làm thêm giờ Để bảo đảm sự phát triển về sức

lực và trí tuệ của người lao động chưa thành niên, tại khoản 2, Điều 162, dự thảo Bộ

luật nên quy định sô giờ làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm

~ Theo quy định tại khoản 1, Điều 132, Bộ luật Lao động thì doanh nghiệp được

tuyển lao động nước ngoài cho một thời hạn nhất định khi công việc đòi hỏi kỹ thuật

cao hoặc công việc quản lý mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được và việc tuyên

dụng này cũng chỉ có một tỷ lệ nhất định, nhưng theo quy định tại Mục IV, Chương

XI, dự thảo Bộ luật thì việc tuyển dụng lao động nước ngoài này không bị hạn chế về

tỷ lệ và dự thảo Tờ trình cũng không giải trình về việc không hạn chế về tỷ lệ này

Theo chúng tôi, lao động của chúng ta đang dư thừa, nhằm bảo vệ việc làm cho lao

động là người Việt Nam thì dự thảo Bộ luật nên quy định theo hướng hạn chế tỷ lệ lao

động nước ngoài

- Tại Điều 176, dự thảo Bộ luật giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

hướng dẫn việc cap, cấp lại, thu hồi giầy phép lao động nhưng lại chưa quy định thẩm ( (

quyền, hồ sơ cấp, cấp lại, thu hỏi, điều kiện cấp lại Vì vậy, tại Điều 176, dự thảo Bộ

luật giao nên thê hiện lại theo hướng giao cho Chính phủ quy định

- Về người lao động khuyết tật (Điều 182)

+ Để bảo đảm cho người lao động khuyết tật được làm việc như người lao động

bình thường, tại Điều 136, dự thảo Bộ luật quy định về trách nhiệm của người sử dụng

lao động bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc đề nghị bổ sung

trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc bảo đảm nơi làm việc cho phù hợp

với người lao động khuyết tật (khoản 1); trong việc cải tạo điều kiện, môi trường làm

việc cho phù hợp với đạng tật của người lao động khuyết tật (khoản 2)

Trang 10

+ Tại khoản 2, Điều 127, Bộ luật Lao động quy định cắm sử dụng người khuyết

tật bị suy giảm khả năng lao động từ 51 %4 trở lên làm thêm giờ, làm việc vào ban

đêm; cũng tại Khoản 3, Điều này quy định người sử dụng lao động không sử dụng người lao động khuyết tật làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 107, dự thảo Bộ luật thì người lạo

động khuyết tật cũng được làm thêm giờ như người lao động bình thường và được làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, nhưng dự thảo

Tờ trình lại không giải trình lý đo tại sao lại đưa ra quy định này

Chúng tôi cho rằng, người lao động khuyết tật là lao động yếu thế trong xã hội,

sức khỏe của họ bị giảm sút so với người lao động bình thường, theo tỷ lệ mất sức lao

động và theo tuôi, nếu người lao động khuyết tật đã bị suy giảm khả năng lao động mà

được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm hoặc làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại như lao động bình thường thì về lâu dài vừa

không đảm bảo sức khỏe cho họ đến khi được nghỉ bưu và sẽ ảnh hưởng đến an sinh

xã hội Mặt khác, do nhu cầu sản xuất, kinh doanh người sử dụng lao động yêu cầu người lao động khuyết tật làm thêm giờ, làm vào ban đêm hoặc làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại nhưng vì sức khỏe yếu nên người lao động khuyết tật không thể làm được theo yêu cầu của người sử dụng lao động thì sẽ dẫn đến tình trạng chấm dứt hợp đồng lao động (hạn chế việc làm của người lao động khuyết tật) Để đảm bảo sức khỏe về lâu dài cho người lao động

khuyết tật, vừa đảm bảo việc làm cho họ, dự thảo Bộ luật nên bỗ sung quy định người lao động bị suy giảm khả năng lao động dưới 51 %4 sức khỏe được làm thêm giờ, làm vào ban đêm, nhưng thời gian làm thêm giờ ít hơn so với thời gian làm thêm giờ của

người lao động bình thường; cấm sử dụng người lao động khuyết tật bị suy giảm khả năng lao động từ 51 % trở lên làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm; không sử dụng

người lao động khuyết tật làm những công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại và công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại

+ Theo quy định tại Điều 5, Nghị định §1/CP ngày 23 tháng 11 năm 1995 của

Chính phủ quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động

về lao động là người tàn tật đã được sửa đổi, bổ sung thì, các tỉnh, thành phố trực

thuộc Trung ương lập Quỹ việc làm cho người tàn tật để trợ giúp người tàn tật phục

hôi chức năng lao động và tạo việc làm Quỹ này sử dụng vào việc hỗ trợ cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người tàn tật để xây dựng, sửa chữa nhà xưởng, mua máy móc, thiết bị kỹ thuật và phát triển sản xuất theo đự án được cấp có thâm quyền phê duyệt; doanh nghiệp nhận số lao động là người tàn tật vào làm việc cao hơn tỷ lệ

theo quy định của pháp luật hoặc có dự án phát triển sản xuất; cơ quan quản lý để đào

tạo nâng cao năng lực đối với người làm công tác đạy nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm

cho người tàn tật; cho vay với lãi suất thấp đối với sơ sở dạy nghề, sản xuất kinh

đoanh đành riêng cho người tàn tật, cá nhân và nhóm lao động là người tàn tật; các hoạt động phục hồi chức năng lao động cho người tàn tật

Trang 11

~

Theo quy định tại khoản 5 và khoản 6, Điều 33, Luật Người khuyết tật thì

người khuyết tật tự tạo việc làm hoặc hộ gia đình tự tạo việc làm cho người người

khuyết tật được vay vốn với lãi suất ưu đãi để sản xuất, kinh doanh; cũng theo quy

định tại Điều 34 Luật này thì cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30 % tông số lao

động trở lên là người khuyết tật được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù

hợp cho người khuyết tật Mặt khác, do Điều 10 Luật Người khuyết tật quy định quỹ

trợ giúp người khuyết tật là quỹ xã hội từ thiện nên quỹ này không chi cho việc thực

hiện chính sách đối với người khuyết tật và doanh nghiệp sử dụng người lao động

khuyết tật quy định tại Điều 33 và 34, Luật Người khuyết tật

Dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một

số điền của Luật Người khuyết tật đã được Bộ Tư pháp thẩm định cũng không quy

định nguồn kinh phí cho việc thực hiện chính sách đối với người khuyết tật và doanh

nghiệp sử dụng người lao động khuyết tật quy định tại Điều 33 và 34, Luật Người

khuyết tật

Có thể nói rằng, Luật Người khuyết tật mới chỉ quy định chính sách ưu đãi đối

với người khuyết tật và doanh nghiệp sử dụng nhiều người lao động khuyết tật mà

chưa quy định nguồn kinh phí để đảm bảo cho việc thực thi chính sách này đối với + ˆ

người khuyết tật, doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật

Dự thảo Bộ luật Lao động cũng không quy định nguồn kinh phí cho vay vốn

với lãi suất ưu đãi đối với người khuyết tật tự tạo việc làm hoặc hộ gia đình tự tạo việc

làm cho người người khuyết tật hoặc doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật;

nguồn kinh phí hỗ trợ cho doanh nghiệp cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù

hợp cho người khuyết tật

Để khắc phục được vấn đề nêu trên, dự án Mê luật nên bộ sung quy ‹ định về

_dụng người lao động khuyết tật quy định tại Điều 33 và 34, Luật Người

- Theo quy định tại khoản 1„ Điền 185, dự thảo Bộ luật thì người sử dụng lao

động và người giúp việc phải hợp đồng lao động và nội dung của hợp đồng lao động

tuân theo quy đi định tại Điều 26, dự tháo Bộ luật

không thé giống như nội ee hop dong lao động tuân theo quy yđịh tại Điều 26,

dự thảo Bộ luật và nên giao chọ Chính phủ quy định thì sẽ linh hoạt hơn

- Về cho thuê lại lao động (Mục VID

+ Theo chúng tôi, hoạt động cho thuê lại lao động là một hoạt động kinh doanh

có điều kiện vì nó liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người lao động mà theo

quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì tổ chức hoạt động cho thuê lại lao

động chỉ được hoạt động sau khi được cấp giấy phép và để bảo đảm quyền lợi của

8

Trang 12

người lao động khi doanh nghiệp thuê lao động vi phạm thì tại Điều 190, „dự thảo Bộ

: : ˆ pm SH vế 1

luật nên quy định theo hướng doanh-nghiệp.hoạt động cho thuê Ja) lao đổHg PHải có

tiễn ký quỹ do Chính phủ quy định _

+ Theo quy định tại Điều 189, dự thảo Bộ luật thì doanh nghiệp thuê lao động

có quyền sử dụng, điều hành người lao động nhưng lại không duy trì quan hệ lao động với người lao động mà do doanh nghiệp cho thuê lại lao động thực hiện Do việc thuê

lại lao động thể hiện mối quan hệ tay ba giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động,

người lao động và doanh nghiệp thuê lại lao động nên có nhiều nội dung như nội dung

của hợp đồng lao đông; nội quy lao động; th

15o động, trách nhiệm vặt chat; chi trả trợ cấp tai nạn lạo động; tiên thưởng; tỉ Fa eos xo on HH TỰ

kha thi Vì vậy, tại Mục VIH, dự thao Bộ luật cần quy định rõ quyền c2 và nghĩa vụ của

thêm giờ, lãm Vào Bạn đêm cần được cụ thể trong dự thảo Bộ luật thì mới có tính

: thực hiện thỏa ước lao động tập thê; kỷ luật ~

doanh nghiêp.cho thuê lại lao đến - người lao động và doanh nghiệp thuê lại lao ‹ động

về các nội dung này

+ Để đảm bảo quyền lợi của người lao động và tránh tỉnh trạng người lao động

luôn luôn là lao động đi làm thuê cho doanh nghiệp cho thuê lại lao động, tại Mục

VII, du thảo Bộ luật nên quy định theo hướng người lao động và doanh nghiệp cho

thuề TạiTao động không được ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn

Để đâm bảo tính đồng bộ trong hệ thống pháp luật về điều kiện tuổi đời để được hưởng lương hưu quy định tại dự thảo Bộ luật này với Luật Bảo hiệm xã hội, vừa đảm bảo tính nhất quán tại Điều 164 dự thảo Bộ luật về người lao động cao tuôi, đê nghị bỏ

23 Về Ban đại điện tập thể lao động (Điều 202) Tại khoán 1, Điều 202, dự thảo Bộ luật, đề nghị bổ sung quy định trách nhiệm của Ban đại diện tập thể lao động trong việc báo cáo cơ quan lao động địa phương và

tổ chức công đoàn cập trên cơ sở

24 Vé thim quyén giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyên của Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp huyện (Điêu 222)

Tại khoản 2, Điều 222, dự thảo Bộ luật, đề nghị bể sưng trường hợp hết thời hạn

giải quyềt quy định tại điểm a, khoản 1, Điểu này mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết thì mỗi bên có quyên yêu câu Tòa án giải quyết

25 và công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại : f ue 1 hep 5

Căn cứ vào quy định tại Bộ luật Lao động, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành đanh mục các công việc đặc biệt năng nhọc, độc hại, nguy hiểm và danh mục các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm Trên cơ sở các danh mục này

đã ban hành các chế độ bôi dưỡng khác nhau tùy theo tính chất Theo quy định tại dự

thảo Bộ luật thì có điều quy định công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và

9

Trang 13

các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, nhưng có điều lại không quy định công

việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm Để đảm bảo tính nhất quan trong du thao

Bộ luật về công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và công việc nặng nhọc,

độc hại, nguy hiểm, để nghị rà soát và bổ sung công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại,

nguy hiểm

Trên đây là ý kiến của Bộ Tư pháp về dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi), xin

gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để nghiên cứu và tham khảo /

Nơi nhận:

~ Như trên;

- Bộ trưởng (để báo cáo);

- IT Dinh Trung Tung (dé b/c);

Trang 14

BO QUOC PHONG CONG HOA XA HOI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Số:4445 /BQP-PC Hà Nội, ngày/Ð thắng 6ăm-20 ¡ BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BÌNH VÀ XÃ HỘI

Viv tham gia ý kiến Dự thảo s6: CRT

động (sửa đổi), Bộ Quốc phòng có ý kiên như sau:

L VE NHUNG VAN ĐÈ CÓ Ý KIÊN KHÁC NHAU

1 Nhất trí phương án quy định “Đại điện tập thể người lao động” ở những doanh nghiệp chưa thành lập tổ chức công đoàn là quy định cân thiệt, bởi trong quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động có rât nhiều

vấn đề phát sinh cần giải quyết

2 Đề nghị bổ sung việc giải thích cụm từ "Thod ude lao động tập thể

ngành" tại Điều 3 dự thảo và quy định vân đề này với những nguyên tắc cơ bản, trong Bộ luật, đồng thời giao Chính phủ quy định chỉ tiệt

3 Vấn đề thời gian làm thêm, đề nghị có quy định mở, không nên cứng nhắc Cần cho phép doanh nghiệp sử dụng thời gian làm thêm giờ như quy định biện hành là 200 giờ/năm; tuy nhiên nếu người lao động và người sử dụng lao động có nhu cầu thì có thể thoả thuận sử đụng thời gian làm thêm giờ của người

lao động, nhưng tối đa không quá 300 giờ/năm

4 Vấn đề tuổi nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức dự thảo quy định là 62

tuổi đối với nam và 60 tuổi đối với nữ là phù hợp với thực tiễn hiện nay ở nước

ta, cũng như khu vực và thế giới; vấn đề này cũng thống nhất với luật Cán bộ

công chức, bởi khoản 1 Điều 60 Luật này quy định: “Công chức được nghỉ hưu theo đi định của Bộ luật lao động `

IL NHUNG VAN DE CU THE

1 Điều 1 Phạm vi điều chỉnh; Điều 30 Thử việc và Điều 33 Chấm dứt thử việc, nhất trí như phương án 2 dự thảo Việc quy định như dự thảo Điều 1 đảm bảo rõ ràng và thuận tiện trong nghiên cứu, áp dụng Luật, Điều 30 thể hiện rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động, quyền lợi của người lao động trong

Trang 15

2

giai đoạn thử việc, Điều 33 thể hiện sự đơn giản hoá thủ tục trong giai đoạn thử

việc và chấm dứt thử việc

2 Khoản 3 Điều 37 đề nghị chỉnh lý lại như sau: “Người lao động không

thể thực hiện hợp đồng lao động trong thời gian phải chấp hành các biện pháp

: xử lý vi phạm hành chính khác theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm

hành chính”, bởi có nhiều trường hợp, người lao động vẫn có thể thực hiện hợp

đồng lao động trong thời gian họ chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính

3 Đề nghị bổ sung thêm 01 điều sau Điều 37, quy định về quyền và nghĩa

vụ của người lao động và người sử dụng lao động, trong thời gian hoãn thực

hiện hợp đông lao động

4 Điều 48, đề nghị chỉnh lại tiêu đề là “Trach nhiệm của người lao động

khi đơn phương chấm đút hợp đông lao động trái pháp luật”, cho phù hợp với

nội dung Điều này và thống nhất với Điều 46 và 47

5 Điều 115, đề nghị nghiên cứu bỗ sung quy định về nghỉ lễ khác (ví dụ

ngày truyền thông ngành ), do người lao động và người sử dụng lao động

thoả thuận

6 Điều 156 dự thảo, nhất trí với phương án 1, người lao động được nghỉ

khi sing con tông cộng 6 tháng trước và sau khi sinh là phù hợp Van dé nay da

rõ, không cần thiết giao Chính phủ quy định chỉ tiết

Đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, hoàn thiện dự thiol

Trang 16

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

V/v góp ý Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) Hà Nội, ngày¿ÈÔ t tháng 6 nam 2011

BỘ LAO ĐỘNG - THUONG BINH VA XA HỘI

1 Về cơ bản nhất trí với Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) do Quý Bộ

nghị nghiên cứu bổ sung nội dung này trong Dự

thảo Bộ luật L2 Tao động (

Trang 17

sốz2/2/ /BNV-PC Ha Noi, ngay.20 thang 6 năm 2011

sau khi nghiên cứu, Bộ Nội vụ có ý kiến tham gia như sau:

- Đề nghị quy định lại Điểm đ Khoản 1 Điều 41 như sau: “Được bầu cử,

tuyển dung làm cán bộ, công chức, viên chức”

- Về Điều 52: Tại Khoản 1, đề nghị sửa cụm từ “nửa tháng lương và phụ

cấp lương (nếu có)” thành “2 tiền lương tháng”

Tại Khoản 3, đề nghị sửa lại như sau: “Tiền lương tháng để tính trợ cấp thôi việc là bình quân tiền lương tháng của 6 tháng liền kề trước khi chấm đứt hợp đồng lao động”

- Tuong tự, đề nghị s sửa lại Khoản 1 Điều 53 như sau: “Tiền lương tháng đề

tinh tro cap mat việc làm là bình quân tiền lương tháng của 6 tháng liền kề trước

khi người lao động mắt việc làm”

- Đề nghị quy định rõ hơn mối quan hệ của mức lương tối thiểu và nhu cầu sống tối thiểu, cũng như mỗi quan hệ giữa mức lương tối thiểu chung và mức

lương tối thiểu vùng (Khoản 1, 2 Điều 90)

- Về thời giờ làm thêm (Điều 107): đề nghị giữ như hiện hành: quy định

thời gian làm thêm tối đa 200 giờ trong một năm, tuy nhiên để tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp mang tính đặc thù như đệt, may, giày da, chế biến thuỷ hải ản, thì Chính phủ cần có quy định riêng về thời gian làm thêm tối đa 300 giờ

- Về quy định tuổi đời hưởng lương hưu (Điều 198): Đề nghị không nên quy định tuổi nghỉ hưu đối với những người lao động thuộc khu vực quản lý nhà

nước và hành chính sự nghiệp vì không thuộc đối tượng áp dụng của Bộ luật này,

mà thuộc đối tượng áp dụng của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức

Số: 484 "¬—

Trang 18

- Điều 259, 260, 261: Đề nghị thay cụm từ “cơ quan quản lý nhà nước về

_ lao động cấp tỉnh”, “cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương” bằng

cụm từ “cơ quan tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng

quản lý nhà nước về lao động tại địa phương” để đảm bảo phù hợp với quy định

- của Luật Tổ chức Hội đồng nhân đân và Uỷ ban nhân đân

- Đề nghị cân nhắc việc thành lập tổ chức thanh tra về lao động ở cấp

huyện (Khoản 2 Điều 267) vì chưa phù hợp với quy định của Luật Thanh tra năm

2010

Trên đây là ý kiến tham gia của Bộ Nội vụ về dự án Luật Phòng, chồng tác \ )

hai của thuốc lá, để nghị Bộ Lao động — Thương binh và Xã hội tổng hợp, hoàn

Trang 19

Lyf VW góp ý dự thảo Bộ Luật lao động BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BÌNH VÀ XA HOH |

sửa đổi Hà Nội, ngày “É thing End 2011 PAGS,

be 1) / Kính gửi: Bộ Lao động - Thương binh và OF Chuyéh: Pz~ hoi

mức Yep Céng van sé 1623/LDTBXH-PC ngay 24 tháng 5 năm 2011 của

Bộ Lao động — Thương bính và Xã hội về việc góp ý dự thảo Bộ Luật lao động

(sửa đổi), Bộ Giáo duc và Đào tạo có ý kiên như sau:

1 Góp ý chưng: Do nhu cầu hội nhập quốc tế, tình hình kinh tế - xã hội phát

triển, các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ lao động cũng có những bước phát

triển mới, một số quy định của pháp luật về lao động chưa theo kịp với sự phát

triển chung này Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sưng Bộ Luật lao động là cần thiết

2 Góp ý cụ thể:

- Về phạm vi điều chỉnh: Bộ luật lao động là một hệ thống các quy phạm trong quan hệ lao động Vì vậy, nếu không liệt kê được hết các quan hệ lao động cần điều chỉnh (Phương án 2) thì nên giữ như quy định hiện hành Tức là “Bộ luật lao động điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công hưởng lượng

- Về đối tượng áp dụng: Cần giải thích rõ thế nào là “tập nghề”

- Khoản 4 Điều 6: Dự thảo quy định người sử dụng lao động có quyền đóng

cửa tạm thời doanh nghiệp theo quy định của Bộ luật lao động Tuy nhiên, nên cân

nhắc vấn đề này, vì hiện nay các quy định về thành lập, giải thể liên quan đến

doanh nghiệp được điều chỉnh ở Luật doanh nghiệp và các quy định khác Vì vậy,

Bộ luật lao động chỉ nên đừng lại ở những quy định liên quan trực tiếp đến quan hệ

lao động mà thôi

Trang 20

- Điều 21 về trách nhiệm cung cấp thông tin:

+ Khoản 1: Không nên quy định người sử dụng lao động phải có trách

nhiệm cung cấp thông tin về bí mật kinh đoanh cho người lao động

._ + Khoản 2: Cần bổ sung quy định về việc tự chịu trách nhiệm của người lao

động đối với người sử dụng lao động và pháp luật về thông tin mình cung cấp

- Khoản 1 Điều 22: Nên sửa thành “Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn

bằng, chứng chỉ của người lao động”

- Về tuổi đời nghỉ hưu (Điều 198): Đề nghị cân nhắc thêm về tuổi nghỉ hưu

đối với người lao động thuộc khu vực quản lý nhà nước và hành chính sự nghiệp:

62 tuổi đối với nam và 60 tuổi đối với nữ

- Về đại diện tập thể lao động ở những doanh nghiệp chưa thành lập tổ chức

công đoàn: Ở doanh nghiệp chưa có công đoàn cơ sở thì nên thành lập Đại diện tậ

thể lao động trong phạm vi doanh nghiệp Đại diện tập thể lao động sẽ phối hợp

với Công đoàn cấp trên cơ sở đề bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của người lao

động và của tập thể người lao động

Trên đây là ý kiến của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kính chuyển quý Bộ nghiên

Trang 21

3° Kính gửi: Bộ Lao động - Thương binh và XÃ hội; ĐỀN quai cực

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhận được cổwg:.văn sỐ

1623/BLDTBXH-PC ngày 24/5/2011 của Bộ Lao động — Thương binh và Xã hội

về việc góp ý dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) và góp ý kiến như sau:

L Về một số vấn dé còn có ý kiến khác nhau

1 Vẻ đại diện tập thể lao động ở những doanh nghiệp chưa thành lập tổ

chức công đoàn

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng ý với ý kiến cho rằng ở doanh

nghiệp chưa có công đoàn cơ sở thì thành lập “Đại diện tập thể lao động” trong phạm vi doanh nghiệp Đại diện tập thể lao động trong doanh nghiệp phối hợp

chặt chẽ với công đoàn cấp trên cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

người lao động và của tập thể người lao động thuộc doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Đối với trường hợp không thành lập Đại điện tập thể lao động lao động ở doanh nghiệp thì tập thể người lao động kiến nghị Công đoàn cấp trên cơ

sở cử người đại điện để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình

2 Về Thỏa ước lao động tập thể

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng ý với ý kiến cho rằng cần có những

quy định khuyến khích tập thể lao động và người sử dụng lao động xây dựng

thỏa ước lao động tập thể trong doanh nghiệp nhưng về lâu đài vẫn nên quy định

vẻ Thỏa ước lao động tập thể ngành để tạo khuôn khổ pháp lý cho việc thương

lượng, ký kết thỏa ước lao động ngành, vì vậy những quy định về thỏa ước lao

động tập thể ngành chỉ nên quy định mang tính nguyên tắc và Chính phủ sẽ quy

định cụ thể việc này

3 Về thời giờ làm thêm

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng ý với ý kiến cho rằng tăng thời giờ

làm thêm của người lao động để người lao động tăng thêm thu nhập và doanh nghiệp có thể phát triển sản xuất, nhưng người sử dụng lao động phải đảm bảo số giờ làm thêm của người lao động tối đa không quá 50% số giờ làm việc chính thức trong một ngày và không quá 36 giờ trong một tháng

Trang 22

4 Về vấn đề bình đẳng giới và tuổi nghỉ hưu

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thống nhất với ý kiến đẻ nghị tuổi đời

hưởng lương hưu đối với lao động giữ nguyên như hiện hành, nghĩa là 60 tuổi

đối với nam và 55 tuổi đối với nữ trong điều kiện lao động bình thường và bổ

sung quy định trong trường hợp cần kéo lđài tuổi làm việc do Chính phủ quy

II Một số ý kiến khác trong nội dũng dự thảo

1 Khoản 1 Điều 30 và Điều 33 quy định vẻ thử việc và chấm đứt thử

việc: nhất trí với phương án 1 thử việc trong hợp đồng vì như vậy sẽ tạo điều kiện

thuận lợi cho cả người sử đụng lao động và người lao động trong việc giao kết

hợp đồng lao động và bảo vệ được quyền lợi cho người lao động

2 Điều 98 quy định tiền lượng làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm: Điều

96 về tiền lương làm việc vào ban đêm và Điều 97 về tiền lương làm việc vào

ngày nghỉ hàng tuần, nghỉ tết, lễ, nghỉ hàng năm, nghỉ hàng tuần, nghỉ việc

riêng, đề nghị nghiên cứu quy định để tránh trùng lặp các quy định

3 Khoản 2 Điều 123 thay từ “vì” thành cụm từ “đối với một” cho dễ hiểu

và được áp dụng chính xác

4 Điều 156: nên chọn phương án 1 quy định người lao động nữ được nghỉ

trước và sau khi sinh con, cộng lại 6 tháng và được hưởng trợ cấp thai sản theo

quy định của Luật Bảo hiểm xã hội vì thời gian nghỉ cộng lại 6 tháng mới đảm

bảo để người mẹ phục hồi sức khỏe sau khi sinh và đứa trẻ đủ cứng cáp để xa mẹ

khi người mẹ quay trở lại làm viéc_¥

ơi nhận:

-_ Như trên;

-_ Bộ trưởng (để báo cáo):

- _ Thứ trưởng Huỳnh Vĩnh Ái (để báo cáo);

Trang 23

Hà Nội, ngày Z2tháiRÔ (6QñÐNG2(MÙỶNG BH VÀ Xà tội

Bộ Lao động - Thuong bi PEN hoi: a p Able

CONG HOA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

1 Về vấn đề bình đẳng giới và tuổi nghỉ hưu:

Chỉ nên quy định tuổi nghỉ hưu đối với người lao động thuộc đối tượng điêu chỉnh của Bộ luật Lao động, còn tuổi nghỉ hưu của các đối tượng khác thì

do luật khác qúy định Quy định vẻ tuổi nghỉ hưu trong Bộ luật Lao động cũng

phải thống nhất với những quy định đã có trong Luật Bảo hiểm xã hội

2 Một số ý kiến để nghị xem xét sửa đổi, hoàn chỉnh dự thảo luật:

- Sửa cụm từ “Trung tâm giới thiệu việc làm” thành “Trung tâm dịch vụ

việc làm” tại điểm a), khoản 1, Điều 17 để nội dung điều luật được chặt chế và

- Sửa đoạn đâu của Điều 22 như sau: Những hành vi của người sử dụng lao

động bị cấm khi giao kết hợp đồng lao động;

- Sửa khoản 3 Điều 25 như sau: Không được giao kết hợp đồng lao động

theo mùa vụ ñoặc theo một cõng việc nhất định mà thời hạn dưới 12 tháng để

làm những công việc không có tính chất mùa vụ có thời hạn trên 12 tháng , trừ trường hợp để tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ

theo chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm

Trang 24

A6

| bp V/v góp ý dự thảo Bộ luật BO LAO DONG - THUONG BINH VA XA HOI

3 Kính gửi: Bộ Lao động - Thương binh và <ã hội Lưu:

Phúc đáp công văn số 1623/LDTBXH-PC ngày 24 tháng 5 năm 2011 của

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc lây ý kiên góp ý cho dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đôi), Bộ Công Thương có ý kiên như sau:

1 Chương I: Những quy định chung

- Về pham vi điều chỉnh

Bộ Công Thương nhất trí với phương án 2: “Bộ luật Lao động quy định quyền, nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động, điêu chỉnh quan hệ lao động

và các quan hệ xã hội có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động”

- Về giải thích từ ngữ ee

Trong dy thao Bộ luật có sử dụng thuật ngữ “người thât nghiệp” nhưng lại

không có ở phân giải thích từ ngữ, dẫn đến gây khó hiu trong quá trình áp

dụng Vì vậy, đề nghị bo sung thêm thuật ngữ “người thất nghiệp” vào Điêu 3 vê giải thích từ ngữ

2 Chương II: Việc làm

Về tổ chức địch vụ việc làm

_ Khoản 1 Điều 17 sử dụng cụm từ “Trung tâm dịch vụ việc làm”, nhưng

điểm a lại sử dụng cụm từ “Trung tâm giới thiệu việc làm” Đề nghị sử dụng thống nhất cụm “Trung tâm địch vụ việc làm” trong dự thảo Bộ luật

3 Mục ï chương III: Hợp đồng lao động Về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: Đoạn 2 khoản 2 đề nghị sửa

đổi, bd sung như sau: “Trường hợp cần nhiều người lao động để giải quyết công việc theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định ” 4

- Về điểm c khoản 1 Điều 25 dự thảo quy định hợp đồng lao động theo mùa

vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn đưới 12 tháng, nhưng khoản 3 lại quy định “không được giao kết hợp đồng lao động lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới 12 tháng để làm những

công việc có tính chát mùa vụ, có thời bạn dưới 12 tháng ” Bộ Công Thương

đề nghị quy định lại khoản 3 Điều 25 để cho thống nhất với điểm c khoản 1

Trang 25

- Về thử việc (Điều 30)

Khoản 1 Điều 30: Nhất trí chọn phương án 1: “Hai bên phải thỏa thuận về

thử việc trong nội dung hợp đồng lao động”

- Về Chấm dứt thử việc (Điều 33): Nhất trí chọn phương án 1: “Trong thời

gian thử việc, mỗi bên có quyền đơn phương chấm đứt hợp đồng lao động mà

không cần báo trước và không phải bồi thường”

4 Mục II Chương IITI

Và thực hiện công việc theo hợp đồng lao động

Điều 34 dự thảo Bộ luật quy định “Công việc theo hợp đồng lao động phải

do người lao động giao kết trực tiếp thực hiện” Quy định này chưa bao hàm hết

các trường hợp vì trong trường hợp giao kết hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo

một công việc nhất định có thời hạn kết thúc dưới 12 tháng với nhiều người,

khoản 2 Điều 20 dự thảo cho phép người sử dụng lao động ký kết với người

được ủy quyền hợp pháp thay mặt cho nhóm người lao động Do đó, đề nghị giữ

nguyên như khoản 4 Điều 30 Bộ luật Lao động: Công việc theo hợp đồng lao

động phải do người giao kết thực hiện, không được giao cho người khác, nếu

không có sự đồng ý của người sử dụng lao động

5 Chương IV: Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho

người lao động làm việc tại doanh nghiệp

Đề nghị quy định thống nhất về độ tuôi đối với người học nghề là trẻ em

giữa đoạn 2 khoản 1 Điều 61 và Điều 163 dự thảo Bộ luật

6 Mục II Chương V: Thỏa wdc lao động tập thé

Đoạn 2 khoản 2 Điều 77: Đề nghị sửa lại như sau “ -thời hạn 10 ngày làm

việc hoặc trong trường hợp ký kết không đúng quy trình

7 Chương VII: Thời giờ làm tiệc, thời giờ nghỉ ngơi

Khoản 2 Điều 107: Đề nghị chọn phương án 1: “Đảm bảo số giờ làm thêm

của người lao động tối đa không quá 50% số giờ làm việc chính thức trong một

ngày và không quá 36 giờ trong một tháng”

8 Chương VIII: Kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chat

- Về kỷ luật lao động

Tiêu để của Chương VI là kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất Tiêu đè

của mục I là Kỷ luật lao động nhưng nội dung của từng | điều trong mục chủ yếu

nói về nội quy lao động Do đó, đề nghị làm rõ khái niệm kỷ luật lao động như

sau: “kỷ luật lao động” là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ

và điều hành sản xuất, kinh doanh thể hiện trong nội quy lao động để tránh bị

hiểu nhằm

- Tên Điều 120 nên sửa từ “đăng ký nội quy lao động” thành “Trình tự, thủ

tục đăng ký nội quy lao động”

Trang 26

3

9 Chương X: Những quy định riêng đối với lao động nữ

Đề nghị quy định khoản 2 Điều 154 thống nhất với khoản 1 Điều 159 về

quy định đôi với người lao động nữ làm công việc nặng nhọc

10 Về kỹ thuật lập pháp

- Khoản 1 Điều 51: Đề nghị sửa như sau “Phương án sử dụng lao động gồm

nội dung chủ yêu như ”

- Điều 55: Đề nghị sửa lại tên điều như sau: “Trách nhiệm của người sử

dụng lao động khi châm dứt hợp đồng lao động”

- Khoản 1 Điều 8§: đề nghị làm rõ thêm định nghĩa về tiền lương

- Điều 147: Đề nghị sửa lại tên Điều thành: “Bồi dưỡng bằng hiện vật”

- Điều 126: Tên Điều nên sửa thành “Sa thải”

Trên đây là ý kiến của Bộ Công Thương về dự thảo Bộ luật Lao động (sửa

đổi) gửi Quý Bộ nghiên cứu, tông hop./

Lé Danh Vinh

Trang 27

V/v lấy ý kiến góp ý cho dự Hà Nội, ngày3Z tháng C-năn -

thảo Bộ luật Lao động (sửa BO LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

Kính gửi: Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội Ý

Trả lời công văn số 1623/LDTBXH- PC ngày 24/5/2011 của Bộ Lao động Thương bình và Xã hội về việc lấy ý kiến cho dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đối), Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

1 Tại Điều 1 về phạm vi điều chỉnh, nhất trí với phương án 1 quy định

“Bộ luật Lao động điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công hưởng lương với người sử đụng lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp voi người lao: -động” như quy định của Bộ luật Lao động hiện hành vì phù hợp về phạm vi và tên của Bộ luật

2 Tại Điều 14 về chương trình việc làm, đề nghị không quy định cụ thể trong Bộ luật Lao động về việc Chính phủ lập chương trình mục tiêu quốc gia

vì chương trình mục tiêu quốc gia là một tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đồng bộ về kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ, môi trường, cơ chế, chính sách, pháp luật, tổ chức để thực hiện một hoặc một số mục tiêu ưu tiên da

được xác định trong chiến lược 10 năm và kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã

hội của đất nước trong một thời gian nhất định Bộ luật Lao động chỉ nên quy định có tính nguyên tắc về chính sách của nhà nước về việc làm

3 Tai Diéu 15 vé Quy quéc gia vé việc làm và Điều 16 về Quỹ việc làm địa phương, đề nghị chỉ quy định nguyên tắc như Điều 15 của Bộ luật Lao động hiện hành, không tách thành 2 Điều và quy định chỉ: tiết như dự thảo Quy trình

cụ thể sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước hiện

“hành

4 Tại Điều 21 về trách nhiệm cung cấp thông tin khi tiến hành giao kết

- hợp đồng lao động, đề nghị bổ sung thêm quy định khi người lao động giao kết nhiều hợp đồng lao động phải có trách nhiệm báo cho người sử dụng lao động biết; trong trường hợp cần thiết, phải có sự đồng ý của người sử dụng lao động

5 Tại Điều 33 về chấm đứt thử việc, nhất trí với phương án 1 (thử việc trong hợp đồng lao động) đề dam bao người lao động trong thời gian thử việc van được hưởng những quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định

Trang 28

6 Tại Điều 49 về trách nhiệm của người sử dụng lao động trong trường

hợp thay đổi cơ cầu công nghệ hoặc lý do kinh tế, cần quy định cụ thé những

trường hợp thay đổi cơ câu công nghệ để tránh tình trạng một số doanh nghiệp

lạm dụng để chấm dứt hợp đồng lao động ` với người lao động, hoặc có thê giao

trách nhiệm cho Chính phủ quy định chỉ tiết nội dung này

1 Tại Điều 54 về Quỹ dự phòng trợ cấp mắt việc làm, trợ cấp thôi việc:

Về vân đề này Bộ Tài chính thấy răng kế từ khi Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu

lực có quy định về Quy tro cap thất nghiệp thì việc tồn tại song song Quỹ dự

phòng trợ cấp mất việc làm (tại Bộ luật Lao động) và Quỹ trợ cấp thất nghiệp

(tại Luật Bảo hiểm xã hội) đề thực hiện nhiệm vụ chỉ trả trợ cap cho người lao

động sẽ phức tạp cho công tác quản lý và kiểm soát thực hiện chỉ trả đối với cơ

quan quản lý chỉ trả; đồng thời, cũng khó khăn phức tạp cho người lao động vì

việc nhận trợ cấp không tập trung theo một đầu mối Vì vậy, đề nghị bỏ quy

định về Quỹ, dự phòng trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc tại dự thảo Bộ luật

lao động Đồng thời, nghiên cứu đề có quy định cho phép thực hiện chỉ trả trợ

cấp cho người lao động mất việc, thôi việc cho thời gian không tham gia bảo

hiệm thất nghiệp từ Quỹ trợ cấp thất nghiệp

8 Tại Điều 106 về thời giờ làm việc ban đêm, đề nghị sửa như sau cho rõ

hơn “Giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ hôm trước đến 6 giờ bôm sau”

9 Tại Điều 107 về làm thêm giờ, nhất trí với phương án 2 giờ làm thêm

như quy định của Bộ luật lao động hiện hành là đề bảo vệ sức khoẻ và chất

lượng làm việc của người lao động,

10 Tại khoản 4 Điều 151 về chính sách của Nhà nước đối với lao động

nữ, đề nghị sửa lại như sau “Nhà nước có chính sách ưu đãi giảm thuế tu nhập

doanh nghiệp đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ theo quy định

của pháp luật về thuế” cho phù hợp

11 Tại Điều 153 về trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với lao

động nữ, đề nghị sửa “phụ nữ” thành “lao động nữ” cho thống nhất

12 Tại khoản 1 Điều 154 về bảo vệ thai sản đối với người lao động nữ,

đề nghị bổ sung thêm đối tượng là người lao động nữ làm công việc trong môi

trường độc hại

13 Tại Điều 156 về nghỉ thai sản, nhất trí với phương án ] quy định

“Người lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con, cộng lại 6 tháng và

được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội”

14 Tại chương XI (rang 60), đề nghị sửa tên chương thành “Bảo hiểm

xã hội và bảo hiểm y tế" vì bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là 2 chế độ khác

nhau và được điều chỉnh bởi hai luật khác nhau (Luật Bảo hiểm xã hội và Luật

Bao hiém y tế)

15 Tại Điều 195 về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, đề nghị sửa lại như :

sau “Người sử dụng lao động, người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bất

buộc và bảo hiểm y tế theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và Luật Bảo

Trang 29

17 Tại Điều 198 về tuổi đời hưởng lương hưu có quy định “Người lao động thuộc đối tượng điều chỉnh của Bộ luật này thì tuổi đời nam da 60 tuổi, nữ

đủ 55 tuổi”, đề nghị xem lại vì thực tế có một số đối tượng làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ sô 0,7 trở lên, tuổi nghỉ hưu thập hơn so quy định (nam từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi, nữ từ đủ 45 tuổi đến đủ 50 tuổi) Theo đó, Bộ luật Lao động chỉ nên quy

định có tính nguyên tắc về BHXH, cồn các vấn đề cụ thể (rong đó có tuổi đời

hưởng lương hưu) đề nghị thực hiện theo quy định của Luật BHXH

Trên đây là ý kiến tham gia của Bộ Tài chính, đề nghị Bộ Lao động -

Thương binh và Xã hội nghiên cứu, tông hợp hoàn thiện dự án Bộ luật lao động

- Vu HCSN, TCCB;

- Lưu: VT, PC

Trang 30

BÓ KẺ HOẠCH VÀ ĐÀU TƯ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Sé: 4298 BKHĐT-LĐVX ° Hà Nội, ngày0{ thang Fndm 2011

sửa đổi

A i Weeenle nh gui ite Lao động — Thương binh và Xã St

tê húc đáp công văn số 1623/LĐTBXH-PC của Bộ Lao động — Thuong binh va

Xã hội ngày 24/5/2011 về việc lấy ý kiến dự thảo Tờ trình Chính phủ vẻ dự án Bộ

luật Lao động sửa đổi (sau đây gọi tắt là dự thảo Tờ trình) và dự thảo Bộ luật Lao

động sửa đổi (sau đây gọi tắt là dự thảo BLLĐ), Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến

như sau:

1 Về Điều 1 (Trang 1}:

Đề nghị xem xét và thống nhất nội dung quy định vẻ đối tượng áp dụng của i) — BLLĐgiữa Điều 1 dự thảo BLLĐ và thuyết minh tại dự thảo Tờ trình Do tại dự thảo ¿

cờ trình, đi tượng lao động là mọi người lao động (bao gồm cả cán bộ công chức), l2

ôn tại dự thảo BLLĐ thì đối tượng lao động là người lao động, Việt Nam làm việc l theo hợp đồng lao động (không bao gồm cán bộ công chức)

Các Chương trình mục tiêu Quốc gia được Chính phủ xây dựng để thực hiện

oc mục tiêu quốc gia cụ thể trong từng thời kỷ cụ thể Vi vay, để nghị xem xét L ông quy định “cứng” việc Chính phủ trình Quốc hội quyết định chương tr ình mục \ têu “Quốc gia a vệ việc làm (tại Khoản l Điêu 14) như là một chương trình cô định trong BLLD

4 Về Điều 20 (Trang 7):

Khoản 2 Điều 20 dự thảo BLLĐ quy định: “trường hợp cần nhiều người lao động để giải quyết theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn kết thúc dưới 12 tháng thì người sử dụng lao động có thê lý kết hợp đồng lao động với rie người được ủy quyền hợp pháp thay mặt cho nhóm người lao động; trong trường hợp : này hợp đồng có hiệu lực như ký kết với từng người”

Tuy nhiên, khoản 3 Điều 25 dự thảo BLLĐ lại quy định: “không được s giao kết hợp đông lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới

12 tháng”,

Do đó, để nghị cân nhắc quy định thống nhất về loại hợp đồng này

Trang 31

5 Về Khoản 3 Điều 50 (Trang 17):

Đề nghị sửa đổi thành: “phải trả trợ cấp mát việc làm cho người lao déng theo

quy định tại Điều 5 3 của Bộ luật này”

6 Về Điều 53 (Trang 18):

Đề nghị cân nhac bổ sung cả trường hợp người lao động bị mắt việc làm theo X

khoản 2 Điều 50 dự thảo BLLĐ cũng thuộc đổi tượng được hưởng trợ cập mất việc

làm

7 Về Mục III Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp (Trang 26):

Về thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp quy định tại Mục III dự thảo

BLLĐ, đề nghị dùng thông nhất cụm từ /hóa ước lao động tập thể doanh nghiệp khi

quy định từng điều trong Mục nảy để tránh nhằm lẫn giữa thỏa ước lao động tập thể

và thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp

8 Về Chương IV (Trang 20):

Đề nghị mở rộng phạm vi quy định tại Chương IV thành đảo tạo, bôi chưỡng

nâng cao trình độ nghề nghiệp (kiến thức, kỳ năng ) do hiện nay tại Việt Nam việc

dao tao nghé không bao g6m các phạm vị đào tạo đại học, cao đẳng

9, Về Điều 87 (Trang 27):

Đề nghị cân nhắc sửa đổi tên Điều §7 dự thảo BLLĐ thành: ''Quan hệ giữa

thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp với thỏa ước lao động tập thể ngành”

10 Về Điều I12 (T rang 34):

Đề nghị cân nhắc bỏ sung trường hợp người lao động có đủ 12 tháng làm việc

liên tục cho một người sử dụng lao động nêu không nghỉ hàng năm thì dược thanh

toán bằng tiền tương ứng với mức lương của số ngày được nghỉ theo quy định Điều

này cho tương ứng với nội dung quy định tại Khoản 5 Điều 112

11 Về Điều 116 (Trang 35):

Đề nghị bô sung quy định như Khoản 3 Điều 115 dự thảo BLLĐ đề tránh thiệt

thỏi cho người lao động

12 Về Điều 156 (Trang 49):

Đê nghị sử dụng phương án 1 đề đảm bảo sức khỏe cho người lao động nữ ˆ

sau khi sinh con

13 Về một sô vần đề còn ý kiên khác nhau:

- Những vấn dé chưa có sự thống nhất của nhiều cơ quan liên quan đã được

trình bay trong dự thảo Tờ trình của Bộ Lao động — Thuong binh và Xã hội Tuy

nhiên, cân giải trình chỉ tiết hơn về các van dé chưa thông nhật này và các quy định

của một sô nước có trình độ phát triển tương tự như Việt Nam để so sánh vả đối

chiến, đặc biệt quy định về tuôi nghỉ hưu của phụ nữ và nam giới có liên quan đến

sức khỏe, tuổi thọ, phong tục tập quán

Trang 32

- Về tuổi nghỉ hưu: Đề nghị Bộ luật Lao động chỉ nên quy định tuổi nghỉ hưu đổi với người lao động thuộc đôi tượng điều chỉnh của Bộ luật Lao động, còn tuôi ;

Xin chuyên quý Bộ tham khảo, tổng hople-

Trang 33

Kính gửi: Bộ Lao động Thương|binh vàtã hột !

Phúc đáp Công văn số 1623/LĐTBXH-PC ngày 24 tháng 5 năm

2011 của Bộ Lao động thương bình và xã hội về việc góp ý Dự thảo Bộ

luật Lao động (sửa đổi) Thanh tra Chính phủ có ý kiến như sau:

1 Về sự cần thiết

Bộ luật Lao động được ban hành đã tạo hành lang pháp lý, chuẩn

mực pháp lý cho các chủ thể quan hệ lao động, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội hiện nay, quan hệ lao động

mới đang hình thành và ngày càng hoàn thiện, để phù hợp với kinh tế thị trường và hội nhập Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động nhằm

bảo vệ quyền lợi của chủ thể người lao động, tạo điều kiện thông thoáng cho đơn vị sử dụng lao động phát triển; xác định đẩy đủ quyền và trách

nhiệm của chủ thể đại diện thực sự cho các bên theo quan hệ lao động

đúng nguyên tắc v.v là hết sức cần thiết

2 Về các vấn đề cụ thể

- Điều 80 Dự thảo Bộ luật Lao động quy định “Đại diện tập thể lao động” tại doanh nghiệp chưa có tổ chức công đoàn được tham gia tất cả các vấn đề liên quan đến quan hệ lao động trong doanh nghiệp sẽ không

đáp ứng được yêu câu cả về lý luận và thực tiễn, vì “Đại diện tập thể lao

động” theo Bộ luật Lao động (được sửa đổi, bổ sung năm 2006) là để giải quyết vụ việc cụ thể (tổ chức và lãnh đạo đình công) Hơn nữa, “Đại diện

tập thể lao động” thực tế là đo một số người lao động tự nguyện lap ra,

không có điều lệ, không có hệ thống tổ chức thống nhất, có kết cấu không

chặt chế, nhưng lại có chức năng, nhiệm vụ như một tổ chức công đoàn

cơ sở tại đoanh nghiệp là không đồng bộ, không thống nhất với một số

Luật có liên quan (Luật Công đoàn); việc hình thành “Đại diện tập thể lao

động” cũng sẽ hạn chế quyền thành lập gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc thêm về vấn

Trang 34

- Tại khoản 1, Điều 125 để nghị bỗ cụm từ: “bằng lời nói”, vì

không bảo đấm tính răn đe—~

- Điều 126 qui định về áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải

Nghiên cứu cho thấy trong các hình thức kỷ luật lao động được quy định

ˆ tại Bộ luật Lao động, thì sa thải là hình thức kỷ luật nặng nhất, riếu xử lý

theo hình thức này thì người lao động sẽ mất việc làm, mất thu nhập, ảnh

hưởng rất lớn đến cuộc sống của bản thân và gia đình Vì vậy, cần có quy

` định cụ thể, chỉ tiết và chặt chế về vấn để này Trong khi đó, Dự thảo quy

định còn nhiều điểm chưa rõ, ví dụ: “có hành vi khác gây thiệt hại

nghiêm trọng ” (khoản 1), vậy hành vi khác theo quy định này là hành

vi nào? mức thiệt hại bao nhiêu là nghiêm trọng? “Người lao động tự ý bỏ

việc không có lý do chính đáng 3 ngày làm việc cộng dồn trong một

tháng hoặc 5 ngày làm việc cộng dồn trong một quý, tính từ ngày bỏ

việc” (khoản 3), quy định như Dự thảo là quá nặng Do vậy, để nghị Ban

soạn thảo cân nhắc thêm

- Dự thảo quy định về người lao động chưa thành niên tại Mục I

Chương XIL trong đó nghiêm cấm lạm dụng sức lao động và không được

sử đụng lao động làm công việc nặng nhọc, độc hại của người chưa thành

niên Tuy nhiên, thực tế hiện nay vẫn có tình trạng người sử dụng lao

động sử dụng quá sức đối với một số trẻ em ở vị thành niên Vì vay, dé

nghị bổ sung thêm quy định trường hợp mà người sử dụng lao động vẫn

phạm vào những điều cấm nêu trên thì cần có biện pháp, có chế tài xử

phạt thích đáng

3 Về vấn đề còn có ý kiến khác nhau

a) Về đại diện tập thể lao động ở những doanh nghiệp chưa thành

lập tổ chức công đoàn Thanh tra Chính phủ đồng ý với ý kiến thứ nhất là

khẳng định vị trí pháp lý, vai trò của tổ chức công đoàn là người đại điện

và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công đoàn, người lao động và tập

thể người lao động và phù hợp với Luật công đoàn

b) Về thoả ước lao động tập thể ngành Nhất trí với ý kiến thứ hai,

tuy nhiên vẻ lâu dài cân xác định chủ thể thoả ước lao động tập thể vẫn

phải là tổ chức công đoàn

c) Về thời giờ làm việc Nhất trí như ý kiến thứ hai của Dự thảo tăng thời giờ làm thêm của người lao động để người lao động tăng thêm

thu nhập và doanh nghiệp có thể phát triển sản xuất

d) Về vấn đề bình đẳng giới và tuổi nghỉ hưu Nhất trí ý kiến thứ

nhất là tuổi nghỉ hưu nam và nữ giữ nguyên như cũ Trường hợp quy định

nâng tuổi nghỉ hưu đối với các đối tượng áp dụng Luật cán bộ, công chức

và người lao động làm việc trong khu vực hành chính sự nghiệp không chỉ

Trang 35

có ý nghĩa quan trọng về chính trị, xã hội mà còn đảm bảo cân đối quỹ

BHXH lâu đài Tuy nhiên, vấn để này cần phải được xem xét một cách kỹ lưỡng, kết hợp hài hòa các yếu tố kinh tế-xã hội và tâm tư của người lao

Trang 36

Số ọ GOH eee ee

Kính gửi: Bộ Lao động, Thương bình và Xã BIỂN Ngày: oe

Uy ban Dân tộc nhận được công văn số: 1623/BLĐIBXH-PCTIEäÿ 2+ & 5

năm 2011 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc tham gia ý kiến dự thảo

Bộ Luật Lao động (sửa đổi) Sau khi nghiên cứu, Uý ban Dân tộc có ý kiến như sau:

1 Về cơ bản Uÿ ban Dân tộc đồng ý với dự thảo Bộ Luật Lao động sửa đỗi

2 Tham gia ý kiến:

- Tai Chương X Những quy định riêng đối với lao động nữ, trong Điều 156 Nghỉ thai sản: Uỷ ban Dân tộc đồng ý với phương án l tại dự thảo Bộ Luật Lao động, cụ thể: “Người lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con, cong lai la 6 tháng va được hưởng trợ cập thai sản theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội”

-_Tại Chương XI Bảo hiểm xã hội, trong Điều 198 Tuổi đời nghỉ hưu: Đồng

ý với dự thảo về tuổi đời hưởng lương hưu đôi với người lao động thuộc khu vực

quản lý nhà nước và hành chính sự nghiệp thì tuổi đời nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi

Tuy nhiên đề nghị bổ sung: Tuổi đời được hưởng chế độ hưu trí của những

người làm các công việc nặng nhọc, độc hại hoặc làm việc ở vùng cao, biên giới, hải đảo và một số trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định

Trên đây là gop ý của Uỷ ban Dân tộc tham gia ý kiến du thao Bộ Luật Lao

động (sửa đổi), kính gửi Quý Bộ tổng hợp 48

Trang 37

HOI LIEN HIEP PHU NU VIETNAM CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ĐOÀN CHỦ TỊCH Độc lập - Tự đo - Hạnh phúc

Số: 503 /DCT - CSLP

Hà Nội, n poy LS thẳng 6 Hăm 2011

BO LAO ĐỘNG - HƯƠNG BINH VA XA HO

quý Bộ về việc lấy ý kiến góp ý cho dự thảo Bộ Luật lao động (sửa đổi), Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã tổ chức nghiên cứu, cơ bản nhất trí với hầu hết

các-quy định của đự thảo và có ý kiến tập trung thêm vào các van dé:

1 Về vẫn đề bình đẳng giới và tuỗi nghỉ hưu

Cơ bản đồng tỉnh với loại ý kiến thứ hai như dự thảo Tờ trình đã lý giải, nhưng để nghị nghiên cứu điều chỉnh thêm cho phù hợp hơn với pháp luật về bình đẳng giới theo hướng thiết kế cụ thể vào Điều 198 dự thảo như sau:

- Khoản 1: Đồng ý đỗi tượng điều chữnh của Bộ luật sẽ nghỉ hưu ở tuổi

55 đãi với nữ và 60 déi với nam, nhưng cần tính thêm 2 trường hợp:

+ Khi nam, nit nghỉ hưu chênh nhau 5 năm nhưng điểu kiện về năm đông 2

bảo hiểm xã hội dé được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng lại bằng nhau sẽ dẫn

đến sự thiệt thời cho phụ nữ Do đó, trong trường hợp này cần có quy định giảm

điều kiện về năm đóng bảo hiểm đề bảo đàm quyên lợi cho phụ nữ

+ Đối với những người lao động có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên cẩn có quy định hợp lý hơn để bảo đảm quyền làm việc và tận dụng được năng

lực của những người được đào tạo cơ bản

- Khoản 2: Để quy định được trong Điều này cần bỗ sung (hêm một Điều

ngay sau Diéu 2 về áp dụng một số quy định của Bộ luật đối với cắn bộ, công chức và viên chức đề bảo đâm tính logic của các quy định pháp luật trong Bộ

luật này và phù hợp với những quy định liên quan trong các văn bản quy phạm

pháp luật khác Khoản này nên thiết kế theo hướng bảo đảm bình đẳng giới, nam, nữ như nhau, nếu ưu tiên cho nữ thì thiết kế thêm quy định nữ được | lựa chọn nghĩ hưu trong khoảng từ 5% - 60 tuổi

2 Về tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đại điện cho người lao động trong doanh nghiệp

Ngày 23/11/1996 của Ban chấp hành TW Đảng đã ban hành Chỉ thị số 07

- CT/TW về việc tăng cường công tác xây đựng Đảng và các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cô phần

Trang 38

tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Kết luận số 80 - KL/TW

ngày 29/7/2010 của Ban Bí thư về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 07

- CT/TW của Bộ chính trị (khóa VI) trong tình hình mới, đề nghị Ban soạn

thảo nghiên cứu, quản triệt sự chỉ đạo của Đảng về vẫn đề này dé thiét ké bb

sung thêm các quy định về trách nhiệm thành lập tô chức chính trị, chính trị -

xã hội trong doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp và quyền tham gia các tỗ

chức này của người lao động Quy định này sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc hình

thành các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội (rong đó có cả Công đoàn) đại

điện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người lao động

Trên cơ sở đó, để nghị nghiên cứu:

- Điều chỉnh lại tên và bổ sung nội dung Điều 8: thay “Vai trò của công

đoàn và tổ chức đại điện người sử dụng lao động” bằng “Vai trò của các tô

chức chính trị, chính trị - xã hội và và tễ chức đại diện người sử dụng lao

động” và bổ sung thêm quy định đối với các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội

trong doanh nghiệp thành Khoản 2 Điều này, Khoản 2 dự thảo chuyển thành

Điều 3

- Bổ sung thêm cụm từ “và các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội" sau

cụm từ “tham gia công đoàn” tại Khoản 1 Điều 9

- Đổi tên Chương XIII từ “Công đoàn - đại điện tập thể lao động tại doanh

nghiệp” thành “Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp ” và bỗ sưng

các nội dung phù hợp Theo đó, các quy định đã có trong dự thảo cần điều chỉnh

lại cho phù hợp với tên gọi mới

3 Vấn để nhà trẻ, mẫu giáo

Chính sách xã hội hóa giáo dục của Nhà nước ta đã mở ra cơ hội để nhiều

nhà trẻ, mẫu giáo dân lập, tư thục ra đời, đáp ứng nhu cầu, mong muốn của các

gia đình Tuy nhiên, lao động nữ, nhất là lao động nữ trong các doanh nghiệp

trong các khu công nghiệp, khu chế xuất thì việc tìm được một nhà trẻ, mẫu giáo

có người chăm sóc và nuôi dưỡng thay thế để yên tâm lao động và làm việc thực

sự khó khăn vì phân lớn chi phí quá cao so với thu nhập thực tế, ở những nơi chỉ

phí thấp thì chất lượng chăm sóc, nuôi dạy không bảo đảm Do đó, việc dự thảo

Bộ luật lao động tiếp tục quy định vấn đề nhà trẻ, mẫn giáo là rất tốt và có ý

nghĩa quan trọng trong VIỆC tiếp tục bảo đảm quyền lợi cho lao động nữ và sự

phát triển hài hòa của trẻ em Xuất phát từ quan điểm của Đảng và Nhà nước đặc

biệt quan tâm đến trẻ em, dành những gì tốt nhất cho trẻ em và để bảo đảm tính

khả thi của luật, Hội LHPN Việt Nam đề nghị Bộ Luật Lao động (sửa đổi) quy

định vấn đề này fhteo hướng xác định việc tỗ chức nhà trẻ, mẫu giáo là trách

nhiệm của Nhà nước, các doanh nghiệp có trách nhiệm hỗ trợ

Trang 39

4 Vấn đề nghỉ thai sản Chính sách nghỉ thai sản của lao động nữ đã được Đảng và Nhà nước ta

quan tâm từ rất sớm tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội thực tế của đất nước

mà có thay đổi cho phù hợp trong từng giai đoạn cụ thể Đến nay, trong điều kiện lao động hiện tại và nhu cầu bảo đâm chất lượng nguồn nhân lực tương lai, việc xem xét điều chỉnh hợp lý thời gian nghỉ thai sản là cần thiết và quan trọng Trong thời gian qua vấn đề này cũng đã được quy định khác nhau, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam để nghị nghiên cứu để đảm bảo hài hòa các điều kiện về việc làm của lao động nữ và tránh không phải sửa nhiều lần Doi với dự thảo Bộ luật, Hội LHPN VN đồng tình quan điểm quy định chung vê thời gian nghỉ thai

sản của lao động nữ là 6 thắng cộng cả trước và sau khi sinh theo phương án

1 (khoản 1) Điều 156 và đề nghị bỗ sung thém doan “Néu sinh di tré lén ” của phương án 2 (khoản 1) dự thảo Điều này

Đầ nghị nghiên cứu bỗ sung thêm một Khoản quy định về việc khuyến khích người chồng được nghỉ tôi đa một khoảng thời gian trước và sau khi

lao động nữ sinh con cho phù hợp với quy định tại Điểm g, Khoản 2 Điều 32 Luật Bình đẳng BớI và bảo đảm quyền làm cha, sự chia sẻ thực tế của chồng đối với vợ trong thời điểm nhạy cảm của quá trình sinh con và nuôi con sơ sinh

Đồng thời đề nghị nghiên cứu có một số chính sách thai sản cho người lao động là phụ nữ nông dân, nông thôn để đảm bảo tất cả phụ nữ, tré em đều được bình đẳng

5, Mật số vẫn đề khác liên quan dén lao động nữ

Điều 6: Để bảo đảm phù hợp với các quy định trong pháp luật vẻ bình

đẳng giới, đề nghị bổ sung quy định “Không được áp đụng các điều kiện khác

nhau trong tuyển dụng lao động nam và nữ đối với cùng một công việc mà nam,

nữ đều có trình độ và khả năng thục hiện như nhau, trừ trường hợp có lý do chính đáng theo quy định của Luật Bình đẳng giới” và “Không được từ chối

tuyển dụng hoặc tuyén dung han ché lao động ' vì lý do giới tính hoặc do việc

mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ” vào cuối Khoản 5 hoặc kết hợp cùng Khoản 5 để thiết kế lại quy định về nghĩa vụ của người sử đụng lao động

Điều 9: Đề nghị bổ sung thêm các hành vì “phân biệt đối xử về giới dựa trên giới tính"; “phân biệt về độ tuổi ” vào Khoản 1

Điều 105: Đề nghị nghiên cứu bố sung thêm Khoản 3 quy định về thời gian làm việc hàng ngày được rút ngắn ] giờ đổi với lao động nữ trong thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 thắng tuôi, lao động nữ trong thời gian 3 ngày có kinh nguyệt, lao động nữ mang thai dén tháng thứ ‘bay làm công việc nặng nhọc

và người lao động có con trong độ tuôi nhà trẻ, mẫu giáo

Trang 40

Lao động nữ có trách nhiệm thông báo tình trạng để thực hiện quy định

này Trường hợp một lao động nữ trong, một ngày trùng cả 3 chế độ thì được rút

ngắn 2 giờ làm việc

+ Đề nghị bổ sung thêm Khoản 4 quy định về thời gian làm việc hàng,

ngày được rút ngăn 2 giờ môi ngày đối với người còn 2 năm trước khi nghỉ hưu

Điều 151: Đề nghị nghiên cứu chuyển các nội dung quy định trong Điều

này về Điều 4 và Điều 152 như sau:

- Khoản 1 và 2 chuyển lên Điều 4, hình thành một Khoản quy định chính

sách của Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ và nam giới theo

nguyên tắc bình đẳng, có tính đến những đặc thù nêng về giới tính nữ và thiên

chức làm mẹ của phụ nữ; và khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện

để lao động nữ có việc làm thường xuyên với chế độ làm việc theo thời gian

biểu linh hoạt, giao việc làm tại nhà

- Khoản 3 và 4: Đưa xuống Điều 152, trong đó Khoản 3 cần quy định rõ

các nhóm chính sách theo cách thiết kế của Khoản 4 để tránh hình thức

Điều 152: Ngoài quy định tại Khoản 4 chuyển từ Điều 151 xuống, đề

nghị lựa chọn để quy định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước theo hướng xác

định cụ thể từng cơ quan như cách thiết kế của một số văn bản quy phạm pháp

luật khác Các chính sách của nhà nước nên tập trung vào việc:

+ Tạo thêm việc làm, cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức khoẻ,

tăng cường phúc lợi về vật chất và tính thần của lao động nữ nhằm giúp lao

động nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hoà cuộc sống

lao động và cuộc sông gia đình

+ Đào tạo nghề và nghề dự phỏng cho lao động nữ

+ Cài tiến một số thủ tục trong đào tạo, bồi đưỡng đối với cán bộ, công

chức, viên chức và lao động nữ theo hướng lĩnh hoạt trong việc đến lớp đối với

các khóa đào tạo, bồi dưỡng chính quy; lĩnh hoạt về thời điểm và thời

lượng bồi đưỡng kỹ năng nghề nghiệp

+ Công nhận thời gian và giá trị lao động gia đình đo lao động nữ

các cơ

quan, tổ chức hoặc đối tác thực hiện

Điều 154:

- Khoản 1: Đề nghị nghiên cứu điều chỉnh lại theo hướng quy định quyền

cho lao động nữ và mở để giải quyết những trường hợp đặc

biệt có thể nảy sinh

4

Ngày đăng: 20/03/2013, 14:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w