1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về quy trình quản lý nội dung

60 420 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu về quy trình quản lý nội dung
Tác giả Vũ Đình Bổng
Người hướng dẫn TS. Quách Tuấn Ngọc
Trường học Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông, ĐHQG Hà Nội
Chuyên ngành Công nghệ Thông tin
Thể loại Báo cáo thực tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 906 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay khi phát triển các trang web(như các trang tin tức…) việc quản lý nội dung của những trang web này rất quan trọng.Thông tin của các trang này phải được quản lý một cách chặt chẽ cả về nội dung cũng như hình thức.Việc quản lý nội dung đẫn đến không thể sử dụng các trang html thuần tùy với mỗi lần đưa nội dung lên lại phải sửa một trang html rồi lại đưa lên server.Việc này đòi hỏi người sử dụng phải có một kĩ năng khá tốt về tin học mới có thể làm được.Việc sử dụng các ngôn ngữ lập trình web động để xây dựng các ứng dụng quản lý nội dung là một giải phần giúp cho việc quản lý nội dung các trang web trở nên đơn giản và linh hoạt hơn.

Trang 1

Báo cáo thực tập chuyên ngành Giáo viên hướng dẫn:TS.Quách Tuấn Ngọc

Sinh viên:Vũ Đình Bổng

Đề tài:Tìm hiểu về quy trình quản lý nội dung.

Mục lục Phần I Mở đầu 2

Trang 2

Phần I Mở đầu

Ngày nay khi phát triển các trang web(như các trang tin tức…) việc quản lýnội dung của những trang web này rất quan trọng.Thông tin của các trangnày phải được quản lý một cách chặt chẽ cả về nội dung cũng như hìnhthức.Việc quản lý nội dung đẫn đến không thể sử dụng các trang html thuầntùy với mỗi lần đưa nội dung lên lại phải sửa một trang html rồi lại đưa lênserver.Việc này đòi hỏi người sử dụng phải có một kĩ năng khá tốt về tinhọc mới có thể làm được.Việc sử dụng các ngôn ngữ lập trình web động đểxây dựng các ứng dụng quản lý nội dung là một giải phần giúp cho việcquản lý nội dung các trang web trở nên đơn giản và linh hoạt hơn

Vì vậy trong đợt thực tập này em quyết định chọn đề tài CMS để cóthể hiểu thêm về quản lý nội dung.Đồng thời qua đây em muốn nâng caokiến thức của mình về lập trình web

Em xin chân thành cám ơn TS.Quách Tuấn Ngọc đã tận tình giúp đỡhướng dẫn em hoàn thành bài thực tập này

Trang 3

Phần II Tìm hiểu CMS

1.Tổng quan CMS

CMS(Content Manage System) được tạm dịch là hệ thống quản lýcác thành phần nội dung.Như vậy một hệ CMS gồm các yếu tố cấu thànhnên nội dung và các quy trình quản lý nội dung của thống đó

2.Các khái niệm

a.CMS:

Như đó trình bày ở trên CMS là một hệ thống quản lý các thành phần nộidung.Bao gồm các yếu tố cấu thành nên nội dung,các quy trình quản lý nộidung của hệ thống đó

b.Nội dung:

Đối với các website nội dung bao gồm :-Thông tin được hiển thị trên các website khi truy cập ví dụ các hìnhảnh,các đoạn văn bản

-Các phần mềm chạy trên các server để hiển thị thông tin trên các Site.Vậy quản lý nội dung (CMS) là quản lý thông tin trên các trang web hayquản lý cả các ứng dụng?

Có thể nói việc quản lý thông tin sẽ mang đầy đủ ý nghĩa hơn nếu nó làquản lý cả các ứng dụng chạy trên server.Nhưng việc quản lý ứng dụng nhưthế nào có cần thiết phải quản lý các ứng dụng như quản lý thông tinkhông.Câu trả lời là không bởi lẽ :

Các nội dung hiển thị là phần quyết định cái gì sẽ được đưa ra còncác ứng dụng thì quyết định nó được đưa ra như thế nào.Vì vậy cần pháttriển hai hệ thống quản lý đó là quản lý nội dung thông tin và quản lý ứngdụng.Ngoài ra những người sử dụng của hai hệ thống này cũng hoàn toànkhác nhau.Trên thực tế những người làm về thông tin thường có khuynhhướng sáng tạo hơn,những người phát triển ứng dụng thì thường có kĩ thuậttốt hơn.Như vậy nếu ta xây dựng lồng gộp cả hai việc quản lý trên vào làmmột sẽ gây ra một sự khó chịu khi sử dụng hệ thống.Do những người làm

về thông tin sẽ không hiểu gì về kĩ thuật lắm khi sử dụng họ cần các thaotác đơn giản chứ không phải làm các công việc liên quan nhiều đến các kĩnăng kĩ thuật

Việc phát triển một CMS hoạt động bất kể là nội dung gì đều yêu cầu khảnăng bảo trì theo luồng của hai hệ quản lý trên tại cùng một thời điểm.Thực

tế thì cả hai hệ quản lý thông tin và ứng dụng có những sự tươngđồng:Cùng được tạo ra thay đổi phê chuẩn kiểm thử và triển khai bảotrì.Tuy nhiên chúng cũng có những điểm rất khác nhau:Việc tạo ra thôngtin và việc tạo ra các ứng dụng là hoàn toàn cần các kĩ năng khác nhau.Khiđến giai đoạn triển khai thì sự khác nhau càng bộc lộ rõ hơn

Trang 4

Các luồng công việc của quản lý nội dung thông tin và quản lý ứng dụngkhông giống nhau.Trong quản lý ứng dụng cần có thêm các luồng côngviệc và các công cụ sử dụng để phát triển.

c.Các thành phần của nội dung

Như đó trình bày ở trên nội dung cần quản lý được tạo thành từ các thànhphần đơn lẻ và dạng của chúng cũng rất khác nhau:ví dụ với một website nóbao gồm:Âm thanh,hình ảnh,các đoạn text,các video…Khi quản lý nộidung ta cũng chia nội dung đó thành các thành phần riêng biệt và quản lýtừng thành phần đó.Làm như vậy thì quản lý nội dung sẽ đơn giản hơn làquản lý tất cả chúng cùng một lúc đồng thời khi quản lý ứng dụng việcquản lý cũng sẽ linh hoạt và dễ dàng hơn.Một lý do rất quan trọng cần phảiquản lý nội dung thành các thành phần nhỏ đó là nó sẽ cho ph ép sử dụngcác công cụ thiết kế khác nhau tốt nhất đối với từng thành phần.Như vậyviệc thiết kế các thành phần sẽ có chất lượng tốt.Ví dụ một chuyên gia vẽhình minh họa thì chỉ cần lo đến việc nội dung hình ảnh của anh ta màkhông cần quan tâm đến viết câu chuyện…

Như vậy các CMS quản lý tổng thể các phần nhỏ của nội dung,các phầnnhỏ này được gọi là các thành phần nội dung.Ta có thể hiểu được thànhphần nội dung là dạng thể hiện một mảnh nhỏ hình thành nên một câuchuyện một bài báo,một thông tin đưa ra trên website

3.Yêu cầu của một hệ thống CMS

a.Các chức năng cơ bản của một hệ thống CMS phải có:

 Cung cấp công cụ phục vụ quá trình soạn thảo, biên tập, chỉnh lý nộidung

 Có hệ thống quản lý lưu trữ nội dung

 Kiểm soát phiên bản tài liệu, giám sát sự thay đổi,cho phép tìm lại nộidung thay tài liệu trước và sau khi thay đổi biên tập

 Cung cấp hệ thống quản lý quy trình xử lý nội dung thông tin

 Có khả năng kết xuất thông tin đầu ra tự động từ hệ thống quản lýlưu trữ nội dung chung

 Cung cấp khả năng cá nhân hóa thông tin cho người dùng

 Cung cấp cho người dùng những công cụ tìm kiếm tra cứu theo thuộctính, tìm kiếm toàn văn giúp nhanh chóng tìm kiếm và định vị được nộidung thông tin

b.Yêu cầu đối với các hệ thống CMS chuyên nghiệp hiện nay

 Cần có sự trao đổi thông tin với hệ thống bên ngoài

 Yêu cầu trong quá trình khởi tạo nội dung

Độc lập nội dung và các lớp giao diện thể hiệnCho phép nhiều người sử dụng làm việc trên một tài liệuMột nội dung chỉ có một nguồn duy nhất

Cung cấp khả năng quản lý các thuộc tính khác liên quan đến nộidung thông tin như tác giả, tiêu đề,từ khóa

Trang 5

Sử dụng không cần các kĩ năng đặc biệt về công nghệ và cụ thể là sửdụng các công cụ biên tập và xử lý nội dung.

Dễ sử dụng

 Yêu cầu trong quá trình quản lý nội dung:

Kiểm soát phiên bản làm việc và lưu trữQuản lý quy trình biên tập phê duyệt nội dungĐảm bảo tính bảo mật

Có khả năng tích hợp với hệ thống khácCung cấp dữ liệu báo cáo về tình trạng hoạt động đa dạng

 Xuất thông tin:

Đồng nhất về khả năng trình bày với những loại dữ liệu giống nhau.Cung cấp các mẫu, khuôn dạng giúp xuất bản nội dung nhanh chóngthuận lợi

Có khả năng cá nhân hóa thông tin

 Về công nghệ:

Hệ thống phải tiện dụng và thân thiện với người dùng

Công nghệ giúp hệ thống có khả năng tương thích và dễ dàng thích hợp mởrộng

Hệ thống phải tuân theo các chuẩn dữ liệu xuất bản thông tin trực tuyến.4.Các thành phần cơ bản của hệ thống CMS:

a.Ứng dựng quản lý nội dung CMA:

Nói một cách đơn giản hệ thống quản lý nội dung CMA quản lý đầy đủvòng đời của các thành phần nội dung.CMA tạo ra các thành phần nội dungtrong kho lưu trữ,bảo trì chúng trong thời gian tồn tại và loại bỏ các thànhphần nội dung này khi không cần thiết.CMA được coi là phần quản trị củamột hệ thống CMS

Các chức năng chính của một hệ thống CMA đối với quản lý nội dung cácthành phần:

 Thiết kế:

Đây là giai đoạn các thành phần nội dung sẽ được đưa lên Websiteđược xác định và mô tả.Trong một hệ thống CMS, các thành phầnnội dung trong giai đoạn này chỉ được nhập vào tựa đề,chú thích và

mô tả rồi sau này tác giả mới hoàn tất việc tập hợp nội dungGiai đoạn này thường không được xây dựng trong hệ thống CMS hỗtrợ bởi các công cụ của hãng thứ 3.Thông thường chỉ cần các trình

vẽ và soạn thảo bình thường cũng là đủ

 Soạn hợp :

Là quá trình thu được các thành phần nội dung cho một website Nóbao gồm cả viết một thành phần nội dung hoặc lấy từ các nguồnkhác đưa vào.Vì các thành phần này có nội dung cần phải được kiểmduyệt và chỉnh sửa nên chúng lưu trong các kho dữ liệu để có thểchỉnh sửa và xuất bản

 Chỉnh sửa

Trang 6

Sau khi một thành phần nội dung được tạo ra nó thường phải đi quanhiều vòng chỉnh sửa và viết lại cho đến khi tất cả những người cóthẩm quyền liên quan đều cho rằng chính xác,hoàn chỉnh và sẵn sàngchuyển sang giai đoạn tiếp theo.

 Dàn dựng

Sau khi kiểm thử nội dung sẽ được dàn dựng lên server để chờ đượchiển thị.Mục đích của server dàn dựng là để chuyển dữ liệu càngnhanh càng tốt để tránh những ảnh hưởng không tốt

 Khai triển

Đây là giai đoạn đưa nội dung ra công chúng thủ tục triển khai kháphức tạp phụ thuộc vào server ta có cho phép sự truy cập 24/7 haykhông

 Xóa bỏ

Khi một nội dung đó quá lỗi thời quá hạn và không thể update đượcnữa thì thành phần nội dung này có thể được xóa bỏ.Tuy nhiên cóthể xóa và lưu vào thựng rác như vậy khi cần ta vẫn có thể khôi phụclại được,hoặc cũng có thể được xóa hoàn toàn

b.Ứng dụng quản lý nội dung thông tin MMA:

MMA quản lý vòng đời đầy đủ nội dung thông tin.Ta có thể địnhnghĩa nội dung thông tin là các thông tin về thành phần nội dung đặc biệt là cácthành phần nội dung được hiện thị trên các website như thế nào

MMA khác với CMA ở chỗ MMA quản lý việc sinh ra nội dungthông tin thay vì các thành phần nội dung Cũng giống CMA sau mỗi giaiđoạn các nội dung thông tin ở trạng thái ổn định hơn

 Phê chuẩn

Trước khi mỗi giai đoạn hoàn tất và giai đoạn tiếp theo bắt đầu mộtngười có thẩm quyền cần phê chuẩn nội dung thông tin.Việc phêchuẩn các thay đổi quan trọng ở MMA thường do nhiều người thựchiện chứ không phải một người như ở CMA

Trang 7

 Phân tích

Trước khi tạo ra sự thay đổi,một vài nghiệp vụ phân tích cần đượctiến hành Công việc phân tích thường được tiến hành ngoài CMS vìvậy có rất nhiều công cụ tốt thực hiện công việc này

a.Kiểm soát phiên bản:

Một trong những vấn đề quan trọng trong quản lý nội dung là kiểmsoát phiên bản,nó quyết định chất lượng của một hệ quản lý nội dung là tốthay dở

Chức năng này giúp người sử dụng lưu trữ và khôi phục các phiênbản của trang thông tin kiểm soát phiên bản bao gồm Theo dõiphiênbản(version tracking) và cơ chế phục hồi(rollback) và nó là nền tảng để trên

đó ứng dụng quản lý nội dung CMS và ứng dụng quản lý nội dung thôngtin MMA hoạt động.Không có chức năng kiểm soát phiên bản CMS sẽ rấtkhó khăn trong việc đảm bảo tính nhất quán, toàn vẹn của nó Quá trìnhthêm ngẫu nhiên các thành phần nội dung và nội dung thông tin của các site

sẽ thay đổi làm cho các trang web thay đổi giúp người dùng không nhàmchán khi truy cập vào

Không có chức năng quản lý phiên bản thì các thành phần dữ liệuhoặc nội dung rất dễ mất tính đồng bộ.Ví dụ:

Một người đưa nội dung thông tin lên,một người khác thấy mộtthành phần nội dung này không hợp lý sửa đổi lại và cập nhật.Tác giả củanội dung này cập nhật thành phần đó được phê duyệt lên.Tuy nhiên nếuthành phần nội dung này có lỗi xảy ra như sai chính tả,tin tức sai lệch…Thì

Trang 8

quản lý phiên bản sẽ chỉ ra ai là người chỉnh sửa nội dung và còn cho phépphục hồi lại nội dung cũ.

Có nhiều cách để kiểm soát phiên bản:

CMS có thể tích hợp các gói kiểm soát phiên bản được cung cấp bởi cáccông ty thứ ba

CMS cũng có thể xây dựng kiểm soát phiên bản trực tiếp gắn vào quy trìnhquản lý nội dung

Quản lý phiên bản mang lại rất nhiều lợi ích không chỉ đối với việcquản lý một site có nhiều nhà thiết kế,viết phần mềm, các tác giả mà cả đốivới các trang web chỉ được quản lý bởi một người cũng mang lại lợi ích rất

to lớn

Các phương pháp tiếp cận quản lý phiên bản:Có hai phương pháptiếp cận đó là phương pháp tiếp cận đơn giản và phương pháp tiếp cận phứctạp.Hầu hết các CMS sử dụng phương pháp tiếp cận đơn giản,ngay cả cácCMS sử dụng phương pháp tiếp cận phức tạp thì vẫn có chứa phương pháptiếp cận đơn giản.Phương pháp tiếp cận phức tạp phải sử dụng các gói quản

lý phiên bản của các công ty thứ ba.Ta xem xột cả hai phương pháp tiếp cậnnày qua các hoạt động quản lý phiên bản

-Cơ chế quản lý tính duy nhất-kiểm tra vào ra(Check in,check out)của một hệ thống CMS.Đây là cơ chế khóa ở cấp độ tệp tin và cơ chế logcác tác động của người sư dụng của CMS nhằm giải quyết xung đột giữacác người dùng tránh người này ghi đố lên phần làm việc của người kiahoặc nếu có thì dễ dàng tìm được nguyên nhân và khôi phục lại Đây cũng

là một trong các tính năng quan trọng và cao cấp của CMS, hỗ trợ tối đacho người dùng, đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu.Đó là việc thông báođên người quản lý các tác động liên quan đến thông tin như:việc xóa bàisửa bài bài bị gửi trả… để cố giúp người dùng luôn có thể Theo dõikiểm trachặt chẽ nội dung sẽ được xuất bản

Đối vớiphương pháp tiếp cận đơn giản:

Phương pháp này hoạt động với giả thiết tại một thời điểm chỉ có thể

có một người sử dụng được phép tác động lên dữ liệu Dạng này hoạt độngdựa vào cơ chế khóa đối với nội dung: đơn giản một người muốn sửa đổi

dữ liệu thì phải check out dữ liệu nếu người khác đang checkout thì phảichờ để người đó chỉnh sửa xong cập nhật lại rồi mới check out được.Saukhi chỉnh sử xong cần check in để mở khóa dữ liệu cho phép người khácchỉnh sửa.Thật ra trong thực tế quy trình của việc quản lý nội dung là liêntiếp nhau do đó rất ít trường hợp tồn tại hai người cùng muốn chỉnh sử nộidung một lúc

Sơ đồ hoạt động của quy trình:

Trang 9

Quản lý phiên bản phức tạp: Hướng tiếp cận này giả thiết rằng tạimột thời điểm có thể có nhiều người được phép truy cập sửa đổi nộidung ,miễn sao tồn tại một bản sao chính của thành phần nội dung.Mọi hoạtđộng check out đều thực hiện trên thành phần được sao chộp ra và đế khicheck in nội dung thay đổi được gộp vào bản copy chính

Như vậy nhiều người có truy cập vào nội dung tại một thời điểmchỉnh sửa các thành phần cần thiết sau đó cập nhật lại.Ví dụ hệ thống trợgiúp trực tuyến của microsoft là một Ví dụ quản lý phiên bản phức tạp.Như đó phân tích ở trên một hệ thống CMS chỉ cần tiếp cận quản lý phiênbản theo hướng đơn giản là đó đủ rồi không cần thiết phải theo hướng phứctạp.Tuy nhiên thì một số CMS vẫn để tùy chọn quản lý phiên bản phức tạp

do các CMS vẫn luôn cho phép tích hợp hệ thống quản lý phiên bản củacông ty thứ ba

Sơ đồ hoạt động:

Tiến trình kiểm soát phiên bản và lưu trữ dữ liệu:

Trang 10

Mọi nội dung văn bản trước khi được đưa vào kho chứa sẽ được lưutrữ dưới dạng những phần nhỏ delta.Mọi thay đổi được tạo ra giữa thờiđiểm nội dung được đưa ra kho chứa với các tác động kiểm tra thời điểmnội dung được đưa trở lại kho chứa cũng có kiểm tra.Cách lưu trữ như vậyrất hiệu quả khi xột đến vấn đề không gian lưu trữ vì không cần lưu trữnhiều bản sao của nội dung ngay cả khi có nhiều phiên bản của nội dung đó

do không phải lưu trữ một bản sao của nội dung đầy đủ nên phần thông tinnho như vậy một cách một cách logic ta có thể lấy ra phiên bản bất kì nào

ta muốn.Tất cả những mà phần mền kiểm soat phiên bản cần làm là sắp xếpcác thông tin theo đúng trình tự để có được phiên bản theo yêu cầu

Nội dung nhị phân trước khi được đưa vào các kho chứa của các hệ CMScũng đôi khi sử dụng cơ chế delta,nhưng do sự phức tạp của file nhị phânnội dung nhị phân được lưu dưới file hoàn chỉnh tương ứng với các phiênbản mà không cần thiết một phép xử lý delta nào

Theo dõi phiên bản(version tracking):

Theo dõi phiên bản là bước tiến xa hơn của quản lý phiên bản.Có thểcoi nó là quá trình công chứng phiên bản của nội dung được đưa vào hoặclấy ra khỏi kho chứa.Mục đích chính của Theo dõi phiên bản là Theo dõiMọi thông tin liên quan đến những thay đổi của nội dung trong suốt vòngđời của nó.Tiến trình này bao gồm việc ghi chép lại khi nào có sự thay đổi

ai thay đổi,thay đổi gì,và có thể cả tại sao lại có những thay đổi đónữa.Theo dõi phiên bản cung cấp một cơ chế bảo vệ nghiêm ngặt,mà ta cóthể tưởng tượng như sau:Khi một người dùng đăng nhập vào hệ thống thì

mã của người đó sẽ tự động được ghi lại.Như vậy bất kĩ tác động xấu nàocủa anh ta lên hệ thống đều có thể được Theo dõi và chúng ta có thể thayđổi mật khẩu của anh ta hoặc xóa account của anh ta

Cơ chế phục hồi(rollback):

Cơ chế phục hồi cho phép thay đổi phiên bản hiện tại trở về phiênbản trước đó.Cơ chế này thường được thực hiện trên các thành phần nộidung hoặc những nội dung thông tin,còn đối với cấp độ website cơ chế nàyđưa website trở lại nội dung trước khi nó được update

Tiến trình phục hồi này thường rất an toàn vì nó lấy toàn bộ nội dung hiệntại thay thế bởi phiên bản ổn định trước đó.Khi phục hồi một websitethường ở trạng thái tạm thời ngừng làm việc nên không có cơ hội cho ngườidùng gây tổn họi cho hệ thống.Ví dụ khi người dùng đăng nhập dữ liệu vàomột form khi quá trình phục hồi bắt đầu khi đó nếu form đó thay đổi thì rất

có thể khi người dùng submit dữ liệu lên thì có thể làm hỏng hệ thống

-Vai trò của quản lý phiên bản:

Tại sao phải phục hồi lại hệ thống để làm gì?Phục hồi hệ thống để kiểm tramột điều gì đó,hoặc có thể do nhầm lẫn bên làm cho hệ thống bị mắc lỗibên muốn quay lại trạng thái ổn định trước đó của hệ thống.Quản lý phiênbản còn có rất nhiều lợi ích đối với một hệ thống CMS như cho phép hợp

Trang 11

tác theo nhóm tăng cường công tác quản lý website làm tăng tốc độ pháttriển nội dung…

Cho phép sự cộng tác nhóm: Đây là vai trò quan trọng chủ yếu của quản lýphiên bản trong CMS cung cấp một nền tảng tốt cho cộng tác làm việc theonhóm.Với vô số thành phần nội dung và các nội dung thông tin tạo nênwebsite thì không một ai có đủ khả năng để xây dựng cả một website,màcông việc này đòi hỏi nhiều kĩ năng con người

Nâng cao quản lý các Website:Một điều đó không được nói đến trong quátrình nói về quản lý phiên bản và Theo dõi phiên bản.Đó là sự xếp hạng cácbáo cáo mà quản lý phiên bản cung cấp.Một vài báo cáo tập chung vào mộtdãy thông tin mà một người quản lý biên tập site hoặc chủ site có thể sửdụng để quản lý nhân sự trong site

Tăng tốc phát triển nội dung:Bên không thể bắt các tác giả và biên tập viênlàm việc nhanh hơn khả năng mà họ có nhưng có thể làm giảm thời gian

Mà nội dung ở trong tình trạng không tích cực như là chờ được biên tậpchỉnh sửa phê duyệt,kiểm thử triển khai.Công việc đó được thực hiện dosinh tự động một sự kiện cho hệ thống,thông báo cho CMS thời khắc mànội dung được đưa trở lại kho chứa.Sự kiện này có thể khởi phát để sinh ramột thư điện tử để thông báo cho người kế tiếp có trách nhiệm phê duyệttrong quy trình quản lý nội dung.Không có hệ thống tự động này ngườiphát triển nội dung có thể phải bỏ ra nhiều thời gian để chờ đợi một ngườitrong hệ thống để làm việc tiếp với nội dung

Nâng cáo sự giao tiếp:Theo dõi phiên bản cho phép tự động quá trình giaotiếp giữa tất cả các bộ phận liên đới với một phần nội dung.Sự tự động tạo

ra và định tuyến thư điện tử khi tổng hợp thành phần nội dung hoặc nộidung thông tin kết hợp với tham gia tất cả các liên lêc được yêu cầu trong

hệ thống Theo dõi phiên bản khiến chuyển giao trôi chảy giữa các trạngthái trong vòng đời của nội dung

Nâng cao hiệu quả của quy trình làm việc:Mỗi giai đoạn của trình làm việc

có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc khác nhau vì chức năng khóađược cung cấp bởi hệ thống kiểm soát phiên bản Vì chỉ có một người làmviệc với nội dung trong một thời điểm cụ thể,không có sự chồng chéo trongquá trình phát triển và do đó không có sự phục hồi để một bộ phận,mộtphần của nội dung được đồng bộ

Kho chứa được bảo vệ:Sử dụng quá trình kiểm tra vào ra do có quản lýphiên bản bên có thể chắc chắn rằng nội dung được chia sẻ không bị ghi đốmột cách vô tình trong môi trường làm việc nhóm là một yêu cầu của pháttriển website

Cấu trúc hóa hệ thống:Môi trường để phát triển nội dung được cấu trúc hóa

và ổn định đối với tất cả các giai đoạn trong quy trình làm việc quản lý nộidung.Có mẫu kiểm tra nội dung ra kho chứa cố định cố định, thực hiện thayđổi kiểm tra nội dung vào rồi đưa nó trở lại kho chứa.Không có sự lựa chọnnội dung bừa bói không chấp nhận ngẫu nhiên nội dung vào trong hệ thống

Trang 12

Giảm thiểu các khuyết điểm:Đó là kết quả của môi trường được cấu trúc tốt

do có sự hoạt động của hệ thống quản lý phiên bản dùng cho cập nhật nộidung,các lỗi vô ý do ghi đố lên nội dung ghộp nội dung,thiếu liên lêc giữacác bộ phận bảo trì nội dung sẽ được giảm thiểu nếu như không phải nói làhoàn toàn bị loại trừ

b.Quy trình làm việc(Work flow)

Quy trình làm việc là quy trình nội dung đưa lên trên web.Quy trình nàythường được phân chia thành nhiều công đoạn từ khâu mới tạo tới khâuxuất bản.Tất cả các CMS đều có một quy trình làm việc.Một CMS tốt khiquy trình làm việc của nó đơn giản linh hoạt.Nhiều CMS cung cấp cho takhả năng tạo ra các quy trình làm việc tự người dùng định nghĩa,số còn lạicung cấp một quy trình làm việc chuẩn:Tạo,chỉnh sửa, phê duyệt,xuấtbản…

 Ta hãy xem hệ thống phát triển nội dung website của ta, những điều nàodưới đây là đúng?

-Vẫn phải phụ thuộc nhiều vào giấy tờ

-Hệ thống này cần nhiều người tham gia

-Thường xuyên nhiều thành phần nội dung bị mất mát do đặt nhầmchỗ

-Khi nội dung cần phải cần phải sửa chữa cách duy nhất để biết đượccần phải sửa chữa những gì là yêu cầu người dùng đưa nội dung đógiải thích vấn đề

-Không có cách nào để Theo dõi các thành phần nội dung của ta.-Và khi một nhân viên biết các quy tắc luân chuyển thành phần nôidung anh ta phải được đào tạo

-Quá trình tạo ra các thành phần nội dung không bao giờ được thựchiện như nhau hai lần

-Không có cách nào Theo dõi được chi phí phải bỏ ra là bao nhiêu

và trong bao lâu thì sẽ xây dựng được một thành phần nội dung

 Nếu một vài tình huống trên xảy ra thì đó là do CMS của ta chưa có một

hệ thống quy trình làm việc hoặc chưa sử dụng đúng đắn quy trình làmviệc của ta.Giải pháp rõ ràng là ta cần có một hệ thống quy trình làmviệc tốt

 Quy trình làm việc là gì:

Để hiểu quy trình làm việc là gì, ta chia từ quy trình làm việc ra haithành phần work-flow.Work cho ta liên tưởng tới đến một nhóm nhữngngười đang cố gắng hoàn thành một loại tác vụ hay hoạt động nào đó vàmỗi người thường được phân công một tác vụ hoặc một tập các tác vụ.Còn

từ flow cho ta một hoạt động thẳng tiến,ổn định mà hình ảnh đầu ta nghĩ tới

đó là luồng chảy.Như vậy work flow có thể hiểu như là một nhóm ngườilàm việc cùng nhau mỗi người phụ trách các thao tác và công việc của họ

cứ tiến hành xuôn xẻ để đạt được mục tiêu chung

 Các thành phần của luồng công việc:

Trang 13

Phần lớn luồng công việc của CMS được chia thành hai thành phần:Thành phần quản lý hành chính xác định luồng

Engine thực hiện luồng công việc cho hệ thống quản lý nội dung.Tên các thành phần đó sẽ khác nhau ở mỗi loại CMS nhưng chức năng

là như nhau và sẵn sàng ở một dạng nào đó

o Trình ứng dụng xác định luồng làm việc:

Trình xác định luồng công việc là thành phần của hệ thống luồngcông việc của CMS cho phép người dùng tạo ra sửa đổi và xóacác luồng công việc đó có Các thành phần này có thể có thêm rấtnhiều sức Mạnh cho CMS vì nó cho phép cấu hình CMS khảnăng tùy biến cách tạo các thành phần được tạo ra của người biêntập hay tác giả.Vì luồng công việc có thể cấu hình theo cách màbên thích luồng công việc được xác định rõ ràng trước khi thựchiện.Sẽ có ít sự cản trở cho luồng công việc được xắp xếp tốttheo cách đó Ngườii dùng sẽ thấy hệ thống luồng công việc làmột công cụ hữu ích

Trang 14

o Engine của luồng công việc:

Engine của luồng công việc là trung tâm của Mọi hoạt độngtrong các hệ thống quản lý nội dung Nó thường cung cấp phầnlớn,nếu như không phải tất cả,các chức năng đề cập đến trongphần sau:

Hệ thống kiểm tra vào/ra:Bất cứ khi nào nội dung được sửdụng bởi engine của luồng công việc nó cần được kiểm trara.Quá trình kiểm tra thực hiện một trong hai việc,phụ thuộc vào

hệ thống quản lý phiên bản.Quá trình kiểm tra ra xảy ra ngay cảkhi hệ thống giới thiệu một phần nội dung ban đầu.Việc đầu tiêncủa engine luồng công việc là tạo ra một không gian chứa nộidung và kiểm tra một phần rỗng của nội dung khi Mọi sự thayđổi được hoàn tất,nội dung cần được kiểm tra vào.Một lần nữaquá trình kiểm tra phụ thuộc vào hệ thống quản lý phiên bản.Nộidung vào sẽ được ghi đố phiên bản hiện tại hoặc được ghộp vớinội dung chính trong kho chứa

Giao diện đầu vào cho nội dung:Giai đoạn đầu tiên của Mọiluồng công việc là tạo bản nháp ban đầu cho thành phần nội dunghay nội dung thông tin.Một phần nội dung thường được tạo rabằng cách nhập các thông tin thích hợp vào một mẫu web doengine của hệ thống luồng công việc tạo ra.Thường thì mẫu webđầu tiên mà một tác giả thấy khi tham gia luồng công việc là mộtdanh sách tất cả nội dung anh ta đó tạo và trạng thái của nó.Từđó,tác giả có thể chọn lựa hoặc tiếp tục nhập thông tin cho nộidung dang dở hoặc tạo ra phần nội dung mới

là 1 ngôn ngữ server-side, mà có thể được nhúng vào trang HTML hoặcnhư một chương trình mã nhị phân chuẩn (mặc dự nó chỉ được phổ biếnvào thời kì trước kia) Những sản phẩm tương tự như PHP có thể kể tới là:Microsoft’s Active Server Pages (ASP), Macromedia’s ColdFusion vàSun’s Java Server Pages (JSP) Một vài nhà báo kĩ thuật đó gọi PHP “theopen source ASP” bởi vì các thuộc tính của nó rất tương tự với sản phẩmcủa Microsoft Nhưng PHP lại có những đặc tính riêng biệt và độc đáo hơncác ngôn ngữ khác

 PHP là Free!!!

Trang 15

Bên không cần phải trả tiền cho bất cứ ai để dựng PHP (trừ tiền net và tiềnmua CD) Sẽ không có chi phí cấp giấy phép, những chi phí hỗ trợ, chi phíbóo dưỡng…

 PHP là một dự án mã nguồn mở, PHP có thể cho bất cứ ai xem mã nguồn của

nó Nếu bên muốn tìm hiểu cách hoạt động hay làm sao người ta viết

ra được PHP, bên có thể xem thoải mái nhân của PHP để biết đượcnhững thứ mà bên muốn (nó được viết bằng ngôn ngữ C)

 PHP rất nhanh và dễ dàng

Tốc độ thì sao? Có 3 điểm để đánh giá tốc độ của một ngôn ngữ lập trìnhweb Thứ nhất, ứng dụng được viết bằng C sẽ là nhanh nhất Thứ hai, lậptrình bằng C quả là khá khó và cần nhiều thời gian hơn bất kì ngôn ngữ nàokhác Thứ ba, để so sanh giữa các ngôn ngữ thật chính xác là một công việc

vô cùng khó Từ những kinh nghiệm, có thể nói PHP là nhanh nhất Thôngthường, việc chọn ngôn ngữ lập trình không giống như việc chọn mua đôigiày Bên sẽ muốn đi với những cái tiện nghi đang hiện hành Bên sẽ thấy,PHP là sự kết hợp giữa sức Mạnh, cấu trúc và rất dễ sử dụng Một lần nữa,xin nhắc rằng, việc chọn lựa chỉ là dựa trên quan điểm nhưng chúng ta tintưởng rằng cú pháp của PHP cao cấp hơn ASP và JSP Và tin tưởng rằng nómạnh hơn ColdFusion và không khó học như Perl Cuối cùng, chúng ta tintưởng rằng việc lựa chọn PHP để phát triển ứng dụng web là rất đựng đắn.Mạnh và nhanh chóng, đó là PHP!

 PHP là đa hệ điều hành

Bên có thể sử dụng PHP với 1 máy chủ cài hệ điều hành Windows, Mac OS

X, Linux, Solaris, và những phiên bản khác của Unix Nếu bên muốn thayđổi hệ điều hành của máy chủ sang hệ điều hành khác thì bên không cầnphải sửa đổi gì thêm trong chương trình PHP cả Hãy chộp chúng từ máychủ Windows tới máy chủ Unix, và chúng vẫn sẽ làm việc

Hiện nay Apache (được sử dụng trên 60% các máy chủ trên thế giới) đang

là một chương trình web server được sử dụng nhiều nhất với PHP, bên cũng

có thể sử dụng Microsoft Internet Information Server và các web serverkhác có hỗ trợ chuẩn CGI PHP cũng làm việc với phần lớn các chươngtrình CSDL như MySQL, Oracle, Microsoft SQL Server, Sybase, andPostgreSQL Ngoài ra, nó cũng hỗ trợ chuẩn cơ sở dự liệu ODBC

 PHP truy cập được Mọi thứ

Bên cần truy cập gì trong quá trình tạo ra một ứng dụng web? LDAP,IMAP mail server, Oracle, Informix, DB2 hoặc có thể cần truy xuất XMLhay các hàm WDDX… PHP có rất nhiều hàm để giúp bên có thể truy cậpnhững thứ đó một cách nhanh nhất và tối ưu nhất!

 PHP được sử dụng một cách rộng rãi

Trang 16

Tính đến tháng 3 năm 2004, PHP đó được cài đặt trên 15 triệu web sites, từnhững trang cá nhân nhỏ đến những trang của các đại gia như Google,Yahoo! Có rất nhiều sách, tạp chí, và web sites dạy PHP để bên có thểkhám phá nó Cũng đó có trường, công ty hỗ trợ và huấn luyệt bên về PHP.Tóm lại, nếu bên là người dùng PHP, bên sẽ không lẻ loi đâu.

 PHP – Nơi chứa đựng Web World

PHP là một ngôn ngữ lập trình để xây dựng web sites Ngoài việc chươngtrình PHP có thể chạy trên máy để bàn, nó còn có thể chạy được trên cácmáy chủ và có thể cho người khác truy cập thông tin bằng trình duyệt trênmáy của họ Mục này sẽ giải thích sự tương tác giữa trình duyệt và máy chủthông qua PHP

có sẵn trong PHP) tiếp theo date là định dạng hiển thị ngày tháng, bao gồmngày, tháng, và năm

Các thẻ mở đầu và kết thúc của PHP được qui ước là <?php ?> Bêncũng có thể sử dụng những thẻ khai báo khác, Ví dụ như những thẻ sauđây: <??<% (thẻ dạng ASP) hoặc <SCRIPT LANGUAGE="php"> (thẻscript) Tuy nhiên, vào thời điểm này, theo qui ước của các lập trình viênPHP thì chúng ta nên dựng <?php ?> là chuẩn nhất, và nên hạn chế dựngcác thẻ kia, cũng như thẻ <? để tránh nhầm lẫn khi PHp xử lý!

Mọi thứ nằm trong thẻ của PHP sẽ được thực hiện thẳng tới Trình duyệt Vìvậy, trong Ví dụ trên, câu Hôm nay là sẽ xuất hiện trước khi câu lệnh tạongày tháng hiển thị

2.Tìm hiểu về Biến

 Hiểu thế nào là Biến

Biến chức đựng những giá trị mà có thể lưu trữ và có thể sử dụng sau đó và

là một phần không thể thiếu trong bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào

Để thay thế, bên hãy khai báo biến có tên là number có giá trị là 5 hoặc biến

có tên gọi là name và giá trị là Vietnam Sau đây là mã PHP có khai báo cácbiến với tên và giá trị của biến đó:

$number = 5;

$name = "Vietnam";

Trang 17

Trong PHP, tên biến luôn được thêm ở đâu ký tự đô-la Nếu bên nhớ điều

đó, thì việc khai báo biến là rất dễ dàng: Bên chỉ cần đánh ký tự đôla và gì

đó ở sau kí tự và cho nó bằng một cái gì đó là có thể khai báo một biếntrong PHP rồi

Khai báo Biến Không giống như một vài ngôn ngữ lập trình khác, biến củaPHP không cần phải khai báo trước khi có thể sử dụng Bên có thể đặt giátrị cho biến đó bất cứ lúc nào bên muốn sử dụng tới nó

Biến có thể sử dụng để đặt ở bất cứ đâu trong mã lệnh PHP Ví dụ bên dưới

sử dụng câu lệnh echo để hiển thị giá trị được lưu trữ trong biến là cách đểbên có thể dựng biến lưu trữ những gì mà bên muốn và có thể cho giá trị đóhiển thị ra nếu bên muốn:

Phân biệt chữ hoa và thường Tên biến trong PHP có phân biệt chữ hoa vàthường Ví dụ, $name thì khác với biến tên là $Name, và hai biến này sẽ cóthể chứa 2 giá trị khác nhau trong script

Tên biến chỉ được khai báo với chữ cái, số, và dấu gêch dưới, và nó chỉđược bắt đầu với chữ cái và dấu gêch dưới Bảng 2.1 cho thấy một vài Ví

dụ về tên biến hợp lệ và không hợp lệ

Bảng 2.1 Ví dụ về tên biến hợp lệ và không hợp lệ Tên biến hợp lệ

Tên biến không hợp lệ

Trang 18

Sử dụng dấu gêch dưới Sử dụng dấu gêch dưới là cách rất tốt để đặt tênbiến và cũng là cách để dễ phân biệt tên biến Ví dụ $first_name và

$date_of_birth là những tên biến sử dụng dấu gêch dưới

Một qui ước đặt tên biến khác là viết hoa những chữ cái đầu của từ, Ví dụ,

$FirstName và $DateOfBirth Nếu bên thích thì có thể sử dụng kiểu đặt tênbiến này, nhưng nên nhớ là tránh nhầm lẫn giữa những kí tự viết hoa vàthường

 Biểu Thức

Khi một tên biến được khai báo ở đâu đó, giá trị của nó không phải là mộtgiá trị cố định Nó có thể sử dụng trong biểu thức với hai hay nhiều giá trịđược nối với nhau bằng toán tử để thực thị ra một kết quả nào đó Sau đây

là một Ví dụ đơn giản về một biểu thức sử dụng toán tử:

$sum = 16 + 30;

echo $sum;

Biến $sum lấy giá trị bằng cách sử dụng dấu bằng Giá trị 16 và 30 đượcnối bằng phép cộng (+) và kết quả sẽ trả về giá trị của 2 giá trị được cộnglại đúng vậy, kết quả hiển thị ra sẽ là 46

Để thấy rằng biến có thể sử dụng để thay cho những giá trị cố định, bên cóthể thực hiện toán tử đối với 2 biến:

đó, vì vậy giá trị của biến sẽ không được hiện ra

Ví dụ sau đây sẽ nói rừ hơn về điều đó trong Ví dụ bên dưới, giá trị củabiến $name được bao gồm trong chuỗi và sẽ được hiển thị ra:

$name = "Vietnam";

echo "Xin chào, $name";

Kết quả hiển thị Xin chào, Vietnam

Còn trong Ví dụ sau đây, biến sẽ không được nhận ra và kết quả hiển thị làtên của biến chứ không phải là giá trị của biến:

$name = 'Vietnam';

echo 'Xin chào, $name';

Kết quả hiển thị Xin chào, $name

Trang 19

Lúc này, bên cần phải chỉ cho PHP biết đâu là bắt đầu và kết thúc của biến.Bên có thể làm điều này bắt cách sử dụng dấu ngoặc mốc ({}) Sau đây làmột Ví dụ:

echo "The total weight is {$weight}lb";

Nếu bên không sử dụng dấu ngoặc mốc $weight, PHP sẽ nghĩ rằng bên đódựng biến $weightlb, nhưng biến này lại không tồn tại, nói đúng hơn làkhông có giá trị trong script

Bên cũng có thể làm cách khác đó là sử dụng toàn tử ghộp nối, đó là dấuchấm, bên có thể sử dụng nó để ghộp 2 chuỗi với nhau và giữa đó là mộtbiến nào đó, bên dưới là Ví dụ:

echo 'The total weight is ' $weight 'lb';

Trong câu lệnh trên, biến $weight đó được nhận ra và kết quả sẽ là giá trịcủa biến chứ không phải tên biến Chuỗi đó được tách ra làm 3 phần, mộtphần trong đó có chứa biến $weight

Nếu $weight có giá trị là 99, câu lệnh sẽ xuất ra như sau:

The total weight is 99lb

 Kiểu Dữ liệu

Mỗi biến có giá trị và mỗi giá trị của biến đều có kiểu riêng của nó và kiểu

dữ liệu đó định nghĩa cho biến theo kiểu nào đó Các kiểu dữ liệu cơ bảntrong PHP được liệt kệ trong Bảng 2.2

Boolean A truth value; trả về giá trị TRUE hoặc FALSE

Integer Giá trị số nguyên; có thể xác thực hoặc phủ nhận số

Double (or float) Số giá trị số floating-point; có thể cho giá trị thập phân.String Một giá trị ký tự; có thể bao gồm các ký tự của ASCII

Bảng 2.2 Kiểu Dữ liệu trong PHP Kiểu Dữ liệu Chú thích

o Boolean

A truth value; trả về giá trị TRUE hoặc FALSE

o Integer

Giá trị số nguyên; có thể xác thực hoặc phủ nhận số

o Double (or float)

Số giá trị số floating-point; có thể cho giá trị thập phân

o String

Một giá trị ký tự; có thể bao gồm các ký tự của ASCII

Khi bên gán một giá trị tới biến, thì kiểu giá trị của biến cũng được thiếtđặt PHP xác định kiểu giá trị tự động, dựa trên giá trị mà bên gán Nếu bênmuốn kiểm tra giá trị mà bên đó gán, bên có thể sử dụng hàm gettype.Chạy đoạn mã dưới để thấy kiểu giá trị của số thập phân là double:

Trang 20

$value = 7.2;

echo gettype($value);

Hàm bổ sung cho hàm gettype là settype, nó cho phép bên đố lên kiểu giátrị của biến Nếu giá trị lưu trữ trong biến không thích hợp với kiểu giá trịmới mà bên muốn gán cho nó, nó sẽ được sửa đổi tới giá trị gần nhất có thể.éoên mã sau chuyển đổi một giá trị string (chuỗi) thành giá trị integer (sốnguyên):

$value = "29 January 2006";

settype($value, "integer");

echo $value;

Trong trường hợp này, chuỗi bắt đầu với số, nhưng chuỗi lại không phải là

số nguyên Sự chuyển đổi này số bỏ đi những phần không hợp lệ ở phầnsau của chuỗi, vì vậy khi xuất ra, giá trị sẽ là 29

Phân tích Kiểu Dữ liệu Trong phần này, bên sẽ không sử dụng settype vàgettype thường xuyên bởi vì sẽ hiếm khi bên cần thay dổi kiểu dữ liệu củabiến

echo 100 + "10 inches";

Biểu thức này cộng 100 và 10, và kết quả là 110

Điều tương tự xảy ra khi một toán tử kiểu chuỗi được sử dụng với dữ liệu số.Nếu bên thực hiện chuỗi toán tử với kiểu số, giá trị số sẽ được chuyển tới chuỗiđầu tiên

Kết quả của một thao tác chuỗi sẽ luôn là kiểu dữ liệu chuỗi, mặc dự ta trôngthấy nó là một số nào đó Ví dụ sau đây sẽ cho kết quả là 69, nhưng gettypecho thấy rằng nội dung biến $number là một giá trị chuỗi:

$number = 6 9;

echo $number;

echo gettype(6 9);

Chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về cách dựng giữa chuỗi và số trong Bài học 5,

"Làm việc với Số," và 6, "Làm việc với Chuỗi."

 Biến của Biến

éầy là cách để chúng ta cất giữ giá trị của một biến tới biến khác bằng têncủa biến đó Nếu bên cảm thấy khó hiểu, có thể xem qua thử Ví dụ sau:

$my_age = 17;

$varname = "my_age";

echo "Giá trị của biến $varname là ${$varname}";

Kết quả xuất ra sẽ là

Trang 21

Giá trị của biến my_age là 17

Vì chuỗi được chứa trong dấu nháy kép, nên tên của biến được PHP hiểurằng đó là lấy giá trị của biến trong chuỗi, giá trị đó là thành phần củachuỗi Cấu trúc ${$varname} chỉ ra rằng giá trị của biến có tên là $varnametrở thành một phần của chuỗi và nó được gọi là biến của biến

Dấu ngoặc mốc quanh $varname được sử dụng để chỉ ra rằng nó phải đượclấy giá trị đầu tiên; nó yêu cầu phải dựng dấu nháy kép nhưng bên có thểdựng cách khác Ví dụ sau đây sẽ cho thấy rừ điều đó, sử dụng toán tử xâuchuỗi:

echo 'Giá trị của biến ' $varname ' là ' $$varname;

3 Cấu trúc Điều khiển

Câu Lệnh Điều Khiển

Một câu lệnh điều khiển trong PHP bắt đầu với từ khóa if, đi theo đó là cácđiều kiện trong dấu ngoặc đơn Ví dụ sau sẽ kiểm tra xem có đúng hay khônggiá trị của biến $number là nhỏ hơn 10, và khi đó với hiển thị bằng câu lệnhecho, nó chỉ được hiển thị khi đúng với điều kiện đó:

Boolean Values Mỗi biểu thức điều kiện đều trả về giá trị Boolean value, vàmột câu lệnh khai báo if thực hiện về giá trị TRUE hay FALSE để quyết địnhkhối mã lệnh tiếp theo có nên được thực hiện hay không Mỗi giá trị zerotrong PHP là biểu thị giá trị FALSE, còn số không phải là zero thì trả về giátrị TRUE

Trở lại Ví dụ, Ví dụ sẽ thực thi giá trị là TRUE vì 5 nhỏ hơn 10, vì vậy câulệnh trong dấu ngoặc mốc sẽ được thực thi, và tương ứng sẽ có kết quả hiểnthị ra trên trình duyệt Bây giờ, nếu thay đổi giá trị của biến $number thành

10 hoặc lớn hơn trong script, đều kiện sẽ có giá trị sai, và sẽ không có kết quảđược hiển thị

Dấu ngoặc mốc trong PHP sử dụng để nhóm các câu lệnh lại Trong một câulệnh điều kiện, các câu lệnh nằm trong dấu ngoặc mốc sẽ được thực thi khikết quả trả về đúng với điều kiện đó định

Dấu ngoặc và ngoặc mốc Bên sẽ gặp 3 kiểu dấu ngoặc khi biết PHP scripts.Thường sử dụng cho các kiểu dấu ngoặc là dấu ngoặc đơn (()), ngoặc mốc({}), và ngoặc vuông ([])

Dấu ngoặc mốc không yêu cầu sau một câu lệnh if Nếu chúng bị bỏ xót, biểuthức sẽ được thực hiện nếu trả về giá trị đúng Bất kỳ câu lệnh nào sau đó đềuđược thực hiện mà không chú ý đến trạng thái của câu lệnh điều kiện

Trang 22

Toán Tử Điều Kiện

PHP cho phép bên thực hiện một số so sánh khác nhau, để kiểm tra sự cầnbằng hoặc cần xứng giữa 2 giá trị Bên có thể sử dụng các Toán tử Điều kiệntrong PHP, nó được liệt kê trong Bảng 3.1

Bảng 3.1 Toán tử Điều kiện trong PHP Toán tử

! a NOT đúng nếu a không đúng (không bằng a)

a && b AND đúng nếu cả a và b là đúng

a || b OR đúng nếu hoặc a hoặc b là đúng

a and b AND đúng nếu cả a và b là đúng

a xor b XOR đúng nếu a hoặc b là đúng, nhưng không phải cả hai

a or b OR đúng nếu hoặc a hoặc b là đúng

là zero, điều kiện sẽ luôn trả về giá trị đúng và nhớ rằng TRUE là giá trịnào đó không phải zero Luôn sử dụng == so sánh hai giá trị để tránh bị lỗichương trình

 Toán Tử Logical

Trang 23

Bên có thể nối nhiều biểu thức để kiểm tra hai hoặc nhiều tiêu chuẩn trongmột dòng câu lệnh điều kiện Ví dụ, câu lệnh bên dưới kiểm tra xem giá trịcũa biến $number có nằm giữa 5 và 10 hay không:

$number = 8;

if ($number >= 5 and $number <= 10) {

echo "$number is between five and ten";

}

Từ khóa and là một toán tử logical, mà nó biểu thị rằng điều kiện sẽ đúngchỉ khi biểu thức kia cũng có giá trị đúng Đó là, $number phải vừa lớn hơnhoặc bằng 5 và cũng phải nhỏ hơn hoặc bằng 10

Bảng 3.2 liệt kê các toán tử logical mà bên có thể sử dụng trong PHP

! a NOT đúng nếu a không đúng (không bằng a)

a && b AND đúng nếu cả a và b là đúng

a || b OR đúng nếu hoặc a hoặc b là đúng

a and b AND đúng nếu cả a và b là đúng

a xor b XOR đúng nếu a hoặc b là đúng, nhưng không phải cả hai

a or b OR đúng nếu hoặc a hoặc b là đúng

Bảng 3.2 Toán Tử Logical trong PHP Toán tửChú thích

Trang 24

đúng nếu hoặc a hoặc b là đúng

Có hai cách để thực hiện toàn tử logical AND và OR trong PHP Sự khácnhau giữa and và && (và giữa or và ||) là do thứ tự thực hiện của biểu thức.Bảng 3.2 liệt kê những thao tác được ưu tiên trước Với điều kiện bên dưới,

mà xuất hiện giống nhau, nhưng lại có sự khác nhau:

Kí tự Toán tử Ghi nhớ rằng toán tử logical AND và OR là hai kí tự && và

||, theo thứ tự định sẵn Những kí tự đó, khi sử dụng một cách khác thườngthì có ý nghĩa khác nhau, bên sẽ thấy điều đó trong Bài học 5, "Làm việcvới Số."

 Điều kiện nhiều nhánh

Bằng cách sử dụng mệnh đề else với câu lệnh if, bên có thể chỉ rừ một hànhđộng luân phiên để nắm bắt nếu đều kiện không thể tìm đúng giá trị đúng

để thực hiện Ví dụ bên dưới kiểm tra giá trị của $number và hiện thông báonói rằng nó nhỏ hoặc lớn hơn 10:

Mệnh đề else đưa ra nhưng cơ chế cho câu lệnh điều kiện khi điều kiện trả

về giá trị sai Để thêm nhiều nhánh hơn vào câu lệnh điều kiện, từ khóaelseif có thể sử dụng để thêm vào một điều kiện nữa mà nó sẽ kiểm tra nếuđiều kiện ở trước trả về giá trị sai

Ví dụ sau đây sử dụng hàm date để tìm giờ hiện tại trong ngày date("H")cho một số giữa 0 và 23 mà nó mô tả trên đồng hồ và hiển thị câu chàothích hợp:

Trang 25

Mã sẽ hiển thị Good morning nếu giờ máy chủ ở giữa mười hai giờ đêm và11:59, Good afternoon từ buổi trưa đến 4:59 p.m., và Good evening từ 5p.m trở đi

Ghi chú rằng điều kiện elseif chỉ kiểm tra khi $hour nhỏ hơn 17 (5 p.m.)

Nó không cần kiểm tra giá trị giữa 12 và 17 bởi vì lúc đầu điều kiện if đảmbảo rằng PHP sẽ không lấy xa hơn elseif nếu $hour nhỏ hơn 12

Mã trong mệnh đề else sẽ thực thi nếu tất cả điều kiện đề không đúng Chogiá trị của $hour lúc này là 17 hoặc cao hơn, thì cả điều kiện if hay elseif sẽkhông trả về giá trị đúng

elseif Versus else if Trong PHP bên cũng có thể viết elseif thành hai từ:else if Chương trình biên dịch PHP sẽ nhận ra khác đi chút ít, nhưng cuốicùng thì kết quả vẫn giống nhau

Ở đây có thể có một số câu lệnh case có trước PHP code mà nó liên quan.Nếu giá trị được kiểm tra bởi câu lệnh switch (trong trường hợp này là

$name) phự hợp với giá trị đó, mã PHP ở phía sau sẽ được thực thi khi đếncâu lệnh break thì dừng lại

Trang 26

Một giá trị khác của biến $name là phần default chứa mã lệnh thực thi Nhưmột mệnh đề else, default là một tùy chọn và cung cấp một hành động nếukhông có điều kiện nào thích hợp với các điều kiện có trong phần mã lệnh.

4 Tìm hiểu Hàm

Sử dụng Hàm

Một hàm là một số đoạn mã nào đó được khai báo trước hoặc do ngôn ngữlập trình hỗ trợ sẵn để bên có thể sử dụng nhiều lần và linh hoạt mà khôngcần phải viết lại mã lần nào nữa

PHP chứa đựng nhiều hàm hữu ích để bên sử dụng trong việc lập trình vớiPHP Một vài được tích hợp sẵn trong ngôn ngữ PHP; những hàm khácchuyên dụng hơn thì được kích hoạt khi PHP được cài đặt

Bên đó sử dụng hàm date tạo ra chuỗi hiển thị ngày hiện tại Chắc bên cònnhớ là đó sử dụng hàm này ở phần, "Tìm hiểu về PHP" Đây là một Ví dụ:echo date('j F Y');

Tài liệu của PHP sẽ cho bên biết cấu trúc của hàm này như sau:

string date (string format [, int timestamp])

Đó có ngió là date lấy một chuỗi là format và có thêm tùy chọn, là số nguyêntimestamp Nó sẽ trả về một giá trị chuỗi Ví dụ này gửi j F Y tới hàm để bảocho nó định dạng nào đó, và timestamp không cần bắt buộc khai báo Lệnhecho để hiển thị chuỗi

Tham số Mỗi hàm đều có tham số riêng để định nghĩa những gì sử dụngtrong hàm, có bao gồm các kiểu của hàm, và các giá trị được trả về Nhữngtùy chọn khác có trong dấu ngoặc đơn ([])

éịnh nghĩa Hàm

Ngoài những hàm có sẵn, PHP cho phép bên tạo ra những hàm cho chínhbên Sẽ có những lợi thế khi sử dụng hàm do chính bên tạo ra Hàm do chínhbên tạo ra sẽ giúp bên không phải đánh mã lệnh nhiều lần và còn rất dễ dàngsửa lỗi hay nâng cấp Nếu bên muốn sửa hay thay đổi cái gì đó trong hàm,bên chỉ cần sửa lại phần mã lệnh của hàm mà không cần phải sửa lại toàn bộmã

Mã Mô-đun Nhóm tất cả các nhiệm vụ vào hàm là bước đầu tiên cho việctạo modularizing của bên, đó cũng là một bước quan trọng đầu tiên để đểgiúp bên có thể dễ quản lý và tránh việc cồng kềnh cho script

Đây là Ví dụ cho thấy hàm được định nghĩa và sử dụng trong PHP:

Trang 27

echo "Price before tax: $price <br>";

echo "Price after tax: ";

và gán kết quả vào biến $total Từ khóa return được thêm sau bởi giá trị mà

nó trả lại giá trị đó khi hàm được gọi trong script Có nghĩa là đó là kết quảcuối cùng khi thực thi hàm

Khi chạy Ví dụ này thì kết quả hiển thị sẽ như sau:

Price before tax: 16

Price after tax: 17.44

Đây là một Ví dụ về hàm mà bên có thể sử dụng nhiều chỗ trong trang web;

Ví dụ, trên trang bán hàng trực tuyến có liệt kê các danh sách sản phẩm, bên

có thể gọi hàm này để thêm thuế vào mỗi sản phẩm và hiển thị cho ngườimua biết được Nếu có thay đổi gì về thuế, bên chỉ cần thay đổi công thứcbên trong add_tax để thay đổi giá trị trên trang

5 Làm việc với Số

 Số học

Như bên chờ đợi, PHP bao gồm tất cả các toán tử cơ bản mà bên muốn.Nếu bên có biết về những ngôn ngữ lập trình khác, những ký tự có thểkhông giống hoàn toàn lắm, vì vậy chúng ta sẽ nhanh chóng học về cáctoán tử cơ bản trong PHP

Dấu trừ cũng được dựng để phủ nhận một số nào (Ví dụ, 20)

Để thực hiện phép nhân bên sử dụng dấu sao (*) Ví dụ nhân 4 và 9:

echo 4 * 9;

Để thực hiện phép chia bên sử dụng dấu gêch chéo (/) Ví dụ sau chia 48cho 12:

Trang 28

echo 48 / 12;

Phép chia Khi bên chia hai số nguyên với nhau, kết quả sẽ là số nguyênnếu phép chia là đủ Nếu không thì, nó là một double Một kết quả thậpphân chưa được làm tròn thành số nguyên

Lấy phân dư của phép chia bằng cách sử dụng dấu phần trăm (%) Ví dụsau đây hiển thị phần dư của 21 chia cho 6:

echo 21 % 6;

Phân dư Toán tử lấy phần dư có thể sử dụng để kiểm tra xem số là lẻ haychẵn bằng cách sử dụng $number % 2 Kết quả 0 là số chẵn và 1 là số lẻ(bởi vì một số lẻ khi chia cho 2 sẽ còn dư lại 1)

Tăng và Giảm giá trị

Trong PHP bên có thể tăng hoặc giảm một số bằng cách sử dụng hai dấucộng (++) hoặc hai dấu trừ ( ) Hai câu lệnh sau đây thêm một vào biến

for ($count=1; $count<=10; $count++) {

echo "Count = $count<br>";

$count += 6;

Trang 29

Cách này lấy giá trị hiện tại của $count, sau đó cộng thêm sáu vào đó, vàgán giá trị đó cộng trở lại cho biến $count Thật ra thì cách này tươngđương với cách việc mã này:

$count = $count + 6;

Tất cả những toán tử được gộp lại được liệt kê ở Bảng 5.1

Bảng 5.1 Các toán tử được gộp Toán tử

Toán tử được ưu tiên

Trong việc thực hiện nhiều toán tử, sẽ có qui tắc ưu tiên thực hiện phép tínhnào trước và phép tính nào sau, tương tự như lúc đầu Mọi người học phéptính ở cấp I Ví dụ, câu lệnh sau đây là rất mơ hồ:

echo 3 * 4 + 5;

Nếu 3 và 4 nhân với nhau, sau đó cộng thêm 5 thì kết quả cuối cùng sẽ là 17?Nhưng có thể là cộng 4 và 5 đầu tiên và sau đó nhân tiếp với 3, kết quả lại là27? Khi chạy câu lệnh này với PHP, kết quả sẽ là 17

Lý do là phép nhân được ưu tiên cao hơn, vì vậy khi các toán tử xuất hiệntrong cùng một biểu thức, phép nhân sẽ được thực hiện trước, và sử dụngnhững giá trị được thực hiện bởi phép nhân ngay lập tức

Để nói cho PHP biết để thực hiện phép cộng trước, bên phải đặt những sốmuốn cộng và toán tử bên trong dấu ngoặc, như Ví dụ sau:

Trang 30

echo 3 * (4 + 5);

Trong trường hợp này, kết quả là 27

Trong PHP, mức ưu tiên các toán tử số học được qui định theo qui tắcPEMDAS giống như bên học ở trường: dấu ngoặc đơn, sự mã hóa(exponentiation), nhân (multiplication)/chia (division), và cộng (addition)/trừ(subtraction)

Ví dụ sau đây dựng điều kiện kiểm tra xem biến $number có phải là sốnguyên hay không:

$number = "6";

$number++;

echo "$number has type " gettype($number);

Hiểu thế nào là NULL

Giá trị NULL là một kiểu dữ liệu mà chính nó cũng không có giá trị Nókhông có giá trị số, nếu so sánh một giá trị số nguyên zero sẽ trả về giá trịđúng như vậy:

Ngày đăng: 02/08/2014, 22:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ hoạt động: - Tìm hiểu về quy trình quản lý nội dung
Sơ đồ ho ạt động: (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w