ĐỀ tài tìm HIỂU về QUY TRÌNH xử lý nƣớc THẢI BỆNH VIỆN ĐỀ tài tìm HIỂU về QUY TRÌNH xử lý nƣớc THẢI BỆNH VIỆN ĐỀ tài tìm HIỂU về QUY TRÌNH xử lý nƣớc THẢI BỆNH VIỆN ĐỀ tài tìm HIỂU về QUY TRÌNH xử lý nƣớc THẢI BỆNH VIỆN ĐỀ tài tìm HIỂU về QUY TRÌNH xử lý nƣớc THẢI BỆNH VIỆN ĐỀ tài tìm HIỂU về QUY TRÌNH xử lý nƣớc THẢI BỆNH VIỆN ĐỀ tài tìm HIỂU về QUY TRÌNH xử lý nƣớc THẢI BỆNH VIỆN ĐỀ tài tìm HIỂU về QUY TRÌNH xử lý nƣớc THẢI BỆNH VIỆN ĐỀ tài tìm HIỂU về QUY TRÌNH xử lý nƣớc THẢI BỆNH VIỆN ĐỀ tài tìm HIỂU về QUY TRÌNH xử lý nƣớc THẢI BỆNH VIỆN ĐỀ tài tìm HIỂU về QUY TRÌNH xử lý nƣớc THẢI BỆNH VIỆN ĐỀ tài tìm HIỂU về QUY TRÌNH xử lý nƣớc THẢI BỆNH VIỆN ĐỀ tài tìm HIỂU về QUY TRÌNH xử lý nƣớc THẢI BỆNH VIỆN ĐỀ tài tìm HIỂU về QUY TRÌNH xử lý nƣớc THẢI BỆNH VIỆN ĐỀ tài tìm HIỂU về QUY TRÌNH xử lý nƣớc THẢI BỆNH VIỆN ĐỀ tài tìm HIỂU về QUY TRÌNH xử lý nƣớc THẢI BỆNH VIỆN
Trang 1TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
VIỆN KHCN- QL MÔI TRƯỜNG
ĐỒ ÁN KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
GVHD : TRẦN THỊ NGỌC DIỆU NHÓM T/H : LÂM THỊ ANH KIỀU 10242881
NGUYỄN VĂN LÂM 10079051 LỚP : DHMT6B
Tp Hồ Chí Minh, Tháng 12, Năm 2013
ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU VỀ QUY TRÌNH XỬ LÝ NƯỚC THẢI
BỆNH VIỆN
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG 3
DANH MỤC HÌNH 3
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 5
1.1 Thực trạng nước thải bệnh viện ở Việt Nam 5
1.2 Nguồn gốc phát sinh nước thải [2] 7
1.3 Thành phần, tính chất của nước thải bệnh viện [3] 7
1.4 Tình hình xử lý nước thải ở một số bệnh viện [4] 8
1.5 Những khó khăn chính trong việc xử lý nước thải bệnh viện ở nước ta [2] 11
1.6 Tác động của nước thải bệnh viện đến môi trường và sức khỏe con người [3] 11
1.7 Qui định chung về xử lý nước thải bệnh viện [5] 12
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÍ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN 14
2.1 Phương pháp cơ học [6] 14
2.1.1 Song chắn rác 14
2.1.2 Lưới lọc rác 14
2.1.3 Bể tách dầu 14
2.1.4 Bể điều hòa 15
2.1.5 Bể lắng 15
2.1.6 Bể lọc 15
2.1.7 Tuyển nổi 16
2.2 Phương pháp hóa lí 16
2.2.1 Hấp phụ [6] 17
2.2.2 Keo tụ, tạo bông [7] 17
2.3 Phương pháp sinh học [8] 19
2.3.1 Xử lý sinh học trong điều kiện tự nhiên [8] 20
2.3.2 Xử lý sinh học trong điều kiện nhân tạo [8] 21
2.3.2.1 Xử lý sinh học trong điều kiện hiếu khí 21
2.3.2.2 Xử lý sinh học trong điều kiện kị khí 27
2.3.2.3 Xử lý sinh học trong điều kiện thiếu khí 29
2.4 Phương pháp hóa học [6] 29
Trang 3CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH XỬ LÝ NƯỚC THẢI CỦA MỘT SỐ BỆNH VIỆN 31
3.1 Bệnh viện Quân Y 4, Thành phố Vinh – Nghệ An [3] 31
3.1.1 Đặc điểm nước thải 31
3.1.2 Quy trình công nghệ 31
3.1.3 Thuyết minh công nghệ xử lí 32
3.1.4 Ưu, khuyết điểm của quy trình xử lý 32
3.2 Bệnh viện Nhân Dân 115 [9] 33
3.2.1 Đặc điểm nước thải 33
3.2.2 Quy trình công nghệ 34
3.2.3 Thuyết minh công nghệ xử lí 34
3.2.4 Ưu, khuyết điểm của quy trình xử lý 35
3.3 Bệnh viện Thống Nhất [9] 35
3.3.1 Đặc điểm nước thải 35
3.3.2 Quy trình công nghệ 36
3.3.3 Thuyết minh công nghệ xử lí 36
3.3.4 Ưu, khuyết điểm của quy trình xử lý 37
3.4 So sánh các quy trình công nghệ 38
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BOD : Nhu cầu oxi sinh hóa COD : Nhu cầu oxi hóa học
SS : Chất rắn lơ lửng TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam QCVN : Quy chuẩn Việt Nam TCXD : Tiêu chuẩn xây dựng
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Định mức sử dụng nước tính theo giường bệnh 5
Bảng1.2 Đặc trưng nước thải tại các bệnh viện 8
Bảng 1.3 Danh sách một số bệnh viện trên địa bàn TP Hồ Chí Minh bị xử phạt do hệ thống xử lý nước thải không đạt tiêu chuẩn 10
Bảng 3.1 Đặc trưng của nước thải bệnh viện Quân Y 4 31
Bảng 3.2 Kết quả phân tích nước thải bệnh viện Nhân Dân 115 33
Bảng 3.3 Tính chất nước thải đầu vào bể Aerotank của bệnh viện Thống Nhất 35
DANH MỤC HÌNH Hình 3.1 Quy trình xử lý nước thải Bệnh viện Quân Y 4 – Nghệ An 31
Hình 3.2 Quy trình xử lý nước thải Bệnh viện Nhân Dân 115 34
Hình 3.3 Dây chuyền xử lý nước thải bệnh viện Thống Nhất 36
Trang 5MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển toàn diện của đất nước, chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện và nâng cao, con người quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Bên cạnh đó, môi trường ngày càng bị ô nhiễm làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân.Vì vậy, nhu cầu khám chữa bệnh của người dân cũng theo đó không ngừng tăng lên Theo chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về việc chú trọng xây dựng và phát triển toàn diện mạng lưới dịch vụ y tế cộng đồng trên phạm vi
cả nước, các bệnh viện trạm y tế được mở rộng cải tạo và nâng cấp nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân
Song song với việc tăng cường khả năng phục vụ khám chữa bệnh cho người dân, các hoạt động của bệnh viện cũng thải ra một lượng lớn nước thải chứa các chất hóa học, hỗn hợp chất hữu cơ, vi sinh…Nước thải bệnh viện, ngoài những yếu tố ô nhiễm thông thường như chất hữu cơ, vi khuẩn, còn có những chất bẩn khoáng và hữu
cơ đặc thù như các chế phẩm thuốc, các chất khử trùng các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh và có thể có cả các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chuẩn đoán và điều trị bệnh…Như vậy, nếu không được xử lý triệt để, song hành với chức năng chữa bệnh, hệ thống bệnh viện lại trở thành nguồn lây bệnh vì phát tán loại nước thải nhạy cảm dễ gây phản ứng mạnh mẽ trong cộng đồng dân cư Mặt khác, trong nước thải còn chứa một số vi khuẩn gây bệnh, các độc tố gây nguy hại đến sức khỏe con người và hệ thủy sinh của nguồn tiếp nhận
Chính vì vậy, việc xử lý nước thải bệnh viện là một vấn đề cấp bách và cần thiết hiện nay Nhằm góp phần cải thiện môi trường, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường do nước thải y tế gây ra, đồng thời bảo vệ sức khỏe của con người
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Thực trạng nước thải bệnh viện ở Việt Nam
Việt Nam hiện có 1.263 bệnh viện các tuyến và trên 1.000 cơ sở Viện, Trung tâm
y tế dự phòng các tuyến và hệ thống y tế xã phường Tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế vào khoảng 350 tấn/ngày (ước tính đến năm 2015 là 600 tấn/ngày); trong đó 10-20% (trung bình 40,5 tấn/ngày) là chất thải rắn y tế nguy hại phải được xử lý bằng các biện pháp phù hợp Riêng về nước thải, mỗi một ngày đêm các cơ sở y tế thải ra trên 150.000m3
[1]
Tuy nhiên, hiện có tới 56% số bệnh viện trên toàn quốc chưa có hệ thống xử lý nước thải và 70% số hệ thống xử lý nước thải hiện có không đạt tiêu chuẩn cho phép Theo kết quả khảo sát trong thời gian 1997-2002 của trung tâm tư vấn và chuyển giao công nghệ nước sạch và môi trường, định mức sử dụng nước tính trên giường bệnh nước ta như bảng sau
Tính cả nhu cầu phát triển 650-950
(Nguồn: Trung tâm tư vấn chuyển giao công nghệ nước sạch và môi trường)
Từ lượng nước sử dụng đó sinh ra nước thải Thực tế hiện nay lượng nước sử dụng trong đô thị và khu công nghiệp từ năm 1992 đến năm 1998, của Bộ môn cấp thoát nước- môi trường nước thuộc trường Đại Học Xây Dựng Hà Nội trong 2 năm 1996-1997 và của Ban chỉ đạo quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường năm 1998 đều cho thấy lưu lượng nước thải các bệnh viện vượt quá công suất thiết kế nhiều lần
Trang 7Phần lớn lượng nước thải sau sử dụng đều xả vào hệ thống thoát nước Lượng nước thực tế thải ra tính cho một giường bệnh trong một ngày đêm vượt tiêu chuẩn của các nước Đức, Nga, Mỹ và lớn hơn rất nhiều so với các tiêu chuẩn Việt Nam
Tiêu chuẩn dùng nước của một số bệnh viện do Chính Phủ Thụy Điển tài trợ xây dựng như bệnh viện Uông Bí là 2.500 l/giường bệnh/ngày đêm, Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em là 1.700 l/giường bệnh/ngày đêm, của các bệnh viện quân đội và công
an khoảng 1.000 l/giường bệnh/ngày đêm Do đặc điểm chữa bệnh và nghiên cứu khác nhau, tiêu chuẩn nước cấp của các bệnh viện là rất khác nhau Nhìn chung, đối với các bệnh viện đa khoa cấp tỉnh, tiêu chuẩn cấp nước ở mức 600-800 l/ giường bệnh/ngày đêm
Đối với các bệnh viện chuyên khoa hoặc các bệnh viện trung ương, lượng nước sử dụng tương đối cao (đến 1.000 l/giường.ngày đêm) do nước sử dụng cho cả mục đích nghiên cứu đào tạo Tại các bệnh viện chuyên khoa, tỉ lệ số bác sĩ và nhân viên phục vụ trên một giường bệnh tương đối cao (1,2-1,4), số bệnh nhân điều trị nội trú cũng lớn hơn số giường bệnh theo thiết kế rất nhiều Ngoài ra còn một nguyên nhân khác làm cho lượng nước thải tăng là tổn thất do thiếu ý thức của người nhà bệnh nhân khi sử dụng khu vệ sinh hoặc vòi nước công cộng
Theo tính toán của Bộ môn Cấp thoát nước - môi trường nước của trường Đại Học Xây Dựng Hà Nội, dựa trên cơ sở khảo sát một số bệnh viện, thì nhu cầu sử dụng nước tại các bệnh viện như sau:
Trang 8Như vậy ở nước ta, theo các nghiên cứu thì tiêu chuẩn thải nước bệnh viện từ 600-1000l /giường bệnh.ngày đêm phụ thuộc vào loại và các cấp bệnh viện Phần lớn các bệnh viện, phòng khám, cơ sở điều trị… đều nằm ở các khu đô thị Đây là nơi tập trung đông người, có lượng nước tiêu thụ lớn Do đó, có thể thấy nước thải bệnh viện
là một dạng của nước thải sinh hoạt đô thị Trong nước thải chứa chủ yếu các chất hữu
cơ và chất ô nhiễm có nguồn gốc từ sinh hoạt của con người Tuy nhiên, do nước sử dụng trong quá trình chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân nên về mặt vệ sinh và dịch tễ học, trong nước thải bệnh viện chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh và dễ lây lan [2]
1.2 Nguồn gốc phát sinh nước thải [2]
Thông thường chất thải bệnh viện gồm 3 loại: chất thải rắn, nước thải và khí thải với mức độ độc hại khác nhau Nguy hiểm nhất là các bệnh phẩm gồm các tế bào, các
mô bị cắt bỏ trong quá trình phẫu thuật, tiểu phẫu, các găng tay, bông gạc có dính máu
mũ, nước lau rửa từ các phòng thiết bị, phòng mổ, khoa lây, khí thoát ra từ các kho chứa, nhất là các kho chứa radium, khí hơi từ các lò thiêu… Sau đó là các chất thải từ các dụng cụ y tế như kim tiêm, ống thuốc, dao mổ, lọ xét nghiệm, túi oxy… Cuối cùng
là nước thải sinh hoạt
Nước thải bệnh viện là một dạng nước thải sinh hoạt và chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số lượng nước thải sinh hoạt của khu dân cư Nước thải bệnh viện phát sinh
từ nhiều khâu và quá trình khác nhau
Nước thải sinh hoạt của bác sĩ, y tá, công nhân viên bệnh viện, của bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân
Nước thải vệ sinh, lau chùi, làm sạch các phòng bệnh và phòng làm việc
Nước thải từ giặt quần áo, chăm mền, drap trải giường, khăn lau … từ các khâu pha chế thuốc, nấu ăn, rửa chén bát, dụng cụ…
Tùy theo từng khâu và quá trình cụ thể, nước thải sẽ có tính chất và mức độ ô nhiễm khác nhau
1.3 Thành phần, tính chất của nước thải bệnh viện [3]
Trong nước thải bệnh viện có hàm lượng chất hữu cơ và các các chất ô nhiễm khác rất cao Đặc biệt lượng vi khuẩn có khả năng gây bệnh truyền nhiễm rất lớn, đáng quan tâm là nước thải từ các phòng mổ, phòng xét nghiệm và các khoa truyền nhiễm
Trang 9Thành phần chính của nước thải gồm:
- Các chất hữu cơ: các chất hữu cơ trong nước thải bệnh viện đa phần là những chất dễ phân hủy và khó phân hủy sinh học Sự có mặt của chất hữu cơ là nguyên nhân chính làm giảm lượng oxi hòa tan trong nước ảnh hưởng đến đời sống động thực vật thủy sinh
- Các chất dinh dưỡng của N, P: là nguyên nhân gây ra hiện tượng phú dưỡng cho nguồn tiếp nhận dòng thải, làm ảnh hưởng đến sinh vật sống trong môi trường thủy sinh
- Các chất lơ lửng: gây ra độ đục của nước, đồng thời trong quá trình vận chuyển sự lắng đọng của chúng sẽ tạo ra cặn làm tắc nghẽn đường ống, cống rãnh
- Các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh: nước thải bệnh viện là nguồn điển hình chứa lượng lớn các vi sinh vật có khả năng gây ra những căn bệnh rất nguy hiểm Chúng là nguyên nhân chính của các dịch bệnh truyền nhiễm như: thương hàn,
Nguồn : Trung tâm khoa học kĩ thuật và công nghệ quân sự, hội nghị về khoa học môi
trường lần I tại Hà Nội 2004
1.4 Tình hình xử lý nước thải ở một số bệnh viện [4]
Theo khảo sát của chi cục bảo vệ môi trường, trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh hiện có 109 bệnh viện và trung tâm y tế gồm: 83 bệnh viện tập trung chủ yếu ở quận 1,
3, 5, 10, Tân Bình Tổng lượng nước thải bệnh viện và trung tâm y tế khoảng 17.276
m3/ ngày, tuy nhiên phần lớn đều không được xử lý tốt Cụ thể hiện nay chỉ có khoảng 3.120 m3 nước thải/ ngày được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường và chỉ có
Trang 1078/109 bệnh viện, trung tâm y tế quận, huyện là có hệ thống xử lý nước thải Nước thải
thành phố đang bị ô nhiễm nặng về mặt hữu cơ và vi sinh với hàm lượng BOD5 vượt tiêu chuẩn 7-8 lần, hàm lượng chất rắn lơ lửng SS vượt 2,5-3 lần, hàm lượng vi sinh cao gấp 100-1000 lần tiêu chuẩn cho phép Nơi khám chữa bệnh đang sản sinh ra nguồn lây bệnh cho nhiều người khỏe mạnh khác trước sự thờ ơ, lúng túng của các
bệnh viện và cơ quan có chức năng
Hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình được xây dựng từ năm 1998 theo thiết kế của đại học Bách Khoa có công suất 300 m3/ ngày, tính cho 200 giường bệnh Nay tăng lên 500 m3 / ngày phục vụ cho 450 giường bệnh Bệnh viện muốn đầu tư xây dựng mới nhưng không còn mặt bằng Mới xây dựng như bệnh viện Mắt thì do không có chuyên môn về vận hành, bảo trì nên cũng không đảm bảo về chất lượng Duy nhất có Bệnh viện Nhiệt Đới được đánh giá là làm tốt việc này do có mặt bằng đủ rộng cho thiết kế nên dễ lựa chọn công nghệ, vận hành
Hệ thống của bệnh viện An Bình đã hư hỏng, không vận hành 6 năm nay, trạm
xử lý nước thải trên mặt đất đã được trưng dụng làm nhà kho Suốt 6 năm, bệnh viện này áp dụng phương pháp xử lý cục bộ là ngâm tất cả nước thải vào hóa chất rồi xả ra hệ thống cống chung Thành phố từng cấp 20 tỉ để bệnh viện sửa chữa, nâng cấp toàn bệnh viện Khi làm dự án, bệnh viện có đính kèm danh mục xử lý nước thải nhưng bở gạt ra Năm 2000, bệnh viện đã làm dự án riêng nhưng đến nay vẫn còn nằm trên giấy
Bệnh viện Đại học y dược trực thuộc trung ương gồm 5 cơ sở thì cả 5 cơ sở đều không đạt yêu cầu Đăc biệt, khoa phụ sản trên đường Hoàng Văn Thụ, công suất thiết kế là 40 m3/ ngày nhưng thực tế vận hành tới 130 m3/ngày, kết quả kiểm nghiệm gây ô nhiễm nặng nhất Nơi này từng bị xử phạt, đình chỉ hoạt động nhưng trên thực tế, đã không bị đình chỉ vì bệnh viện đã xin gia hạn để khắc phục Theo ban giám đốc bệnh viện, thực trạng trên xuất phát từ lịch sử hình thành, đa số được nâng cấp từ các phòng khám Nơi này kêu khó trong việc chọn công nghệ, đã cho mời chuyên gia từ nước ngoài vào tư vấn nhưng vẫn không biết công nghệ nào là công nghệ chuẩn nên quyết định chọn phương án gom tất cả nước thải và cả mẫu bệnh phẩm ngâm hóa chất rồi xả vào hệ thống cống chung
Trang 11Bệnh viện Chợ Rẫy vẫn thuộc trung ương, được xây dựng từ năm 1971, có hệ thống xử lý nước thải cho 850 giường Nay công nghệ đã quá cũ, số giường tăng lên đến con số 1.700, hệ thống này rơi vào tình trạng có cũng như không Năm
2000, bệnh viện đã làm dự án xây dựng mới khoảng 30 tỉ gửi Bộ Y tế nhưng không được phê duyệt Hiện bệnh viện đã làm đề án mới, giảm còn 27 tỉ, trình UBND thành phố Hồ Chí Minh và đang chờ phê duyệt
Bảng 1.3 Danh sách một số bệnh viện trên địa bàn TP Hồ Chí Minh bị xử phạt do
hệ thống xử lý nước thải không đạt tiêu chuẩn
11 TT chuẩn đoán Y khoa Medic 18.9.2006 2
Trang 12(Nguồn: Việt Nam net)
1.5 Những khó khăn chính trong việc xử lý nước thải bệnh viện ở nước ta [2]
Dựa vào tình hình khảo sát tại một số bệnh viện, có thể thấy những khó khăn chính trong việc xử lý nước thải bệnh viện ở nước ta là:
1.6 Tác động của nước thải bệnh viện đến môi trường và sức khỏe con người [3]
Nếu nước thải được thải trực tiếp ra ngoài sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh bệnh viện, khu dân cư lân cận gây ô nhiễm cho nước mặt, nước ngầm và thấm vào đất gây ô nhiễm đất, gây nên các bệnh tật, dịch bệnh cho con người, làm mất cân bằng sinh thái Mặt khác, nước thải trong các mương hở bốc mùi vào khu vực xung quanh gây ảnh hưởng không khí trong bệnh viện và các khu vực lân cận Mùa mưa, nước thải theo nước mưa chảy tràn có thể gây ô nhiễm môi, lây lan dịch bệnh Nước thải có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe con người Các nhà y học trên thế giới cho rằng 80% các loại bệnh tật của con người đều liên quan đến nước và vệ sinh môi trường Trong vòng 30 năm qua, có khoảng 40 bệnh tật mới đã phát sinh và đều
có nguồn gốc từ ô nhiễm môi trường, trong đó có những bệnh rất nguy hiểm như SARS và H5N1 vì đây là các loại virus nguy hiểm lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp
Nước thải bệnh viện còn là nơi "cung cấp" các vi khuẩn gây bệnh, nhất là nước thải từ những bệnh viện chuyên về các bệnh truyền nhiễm, cũng như trong các khoa lây nhiễm của các bệnh viện Những nguồn nước thải này là một trong những nhân tố
cơ bản có khả năng làm lây lan các bệnh truyền nhiễm thông qua đường tiêu hóa Đặc biệt nguy hiểm khi nước thải bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật khi sử dụng nguồn nước này vào mục đích tưới tiêu, ăn uống
Trang 13Những cá nhân phải thường xuyên tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với chất thải y tế nguy hại đó là: bác sĩ, y tá, hộ lý; bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú; khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân
Nước thải Bệnh viện là nguồn ô nhiễm động, phát triển dây chuyền, gồm nhiều thành phần sống, các hợp chất vô cơ, hữu cơ… Các thành phần, các chất đó liên tục tương tác với nhau nảy sinh thêm các thành phần mới, chất mới với những nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và nguy hiểm hơn đến đời sống con người
Vì vậy, cần phải có các giải pháp công nghệ để xử lý an toàn và triệt để, có hiệu quả nước thải bệnh viện, bảo đảm các tiêu chuẩn cho phép khi thải ra môi trường
1.7 Qui định chung về xử lý nước thải bệnh viện [5]
Theo qui chế quản lý chất thải y tế được ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ – BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành ngày 30/1/2007, chương IX quy định một số vấn đề về xử lý nước thải bệnh viện như sau:
Điều 27 Quy định chung về xử lý nước thải
1 Mỗi bệnh viện phải có hệ thống thu gom và xử lý nước thải đồng bộ
2 Các bệnh viện không có hệ thống xử lý nước thải phải bổ sung hệ thống xử lý nước thải hoàn chỉnh
3 Các bệnh viện đã có hệ thống xử lý nước thải từ trước nhưng bị hỏng không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả, phải tu bổ và nâng cấp để vận hành đạt tiêu chuẩn môi trường
4 Các bệnh viện xây dựng mới, bắt buộc phải có hệ thống xử lý nước thải trong hạng mục xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
5 Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện phải đáp ứng với các tiêu chuẩn môi trường, phải phù hợp với các điều kiện địa hình, kinh phí đầu tư, chi phí vận hành và bảo trì
6 Định kỳ kiểm tra chất lượng xử lý nước thải và lưu giữ hồ sơ xử lý nước thải
Điều 28 Thu gom nước thải
Trang 141 Bệnh viện phải có hệ thống thu gom riêng nước bề mặt và nước thải từ các khoa, phòng Hệ thống cống thu gom nước thải phải là hệ thống ngầm hoặc có nắp đậy
2 Hệ thống xử lý nước thải phải có bể thu gom bùn
Điều 29 Các yêu cầu của hệ thống xử lý nước thải bệnh viện
1 Có quy trình công nghệ phù hợp, xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường;
2 Công suất phù hợp với lượng nước thải phát sinh của bệnh viện;
3 Cửa xả nước thải phải thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát;
4 Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải phải được xử lý như chất thải rắn y tế
5 Định kỳ kiểm tra chất lượng xử lý nước thải Có sổ quản lý vận hành và kết quả kiểm tra chất lượng liên quan
Trang 15CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÍ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN
Nước thải bệnh viện là loại nước thải có hàm lượng chất nguy hại rất lớn Hiện nay người ta thường áp dụng một số phương pháp xử lí như: phương pháp cơ học, phương pháp hóa lí, phương pháp sinh học
2.1 Phương pháp cơ học [6]
Xử lí theo phương pháp cơ học nhằm mục đích loại bỏ các tạp chất không tan ra khỏi nước thải ( vô cơ và hữu cơ) Đây được coi như bước đệm nhằm đảm bảo tính an toàn cho các thiết bị và các quá trình xử lí tiếp theo
lí hết dầu mỡ mới được phép cho chảy vào thủy vực Hơn nữa, nước thải có lẫn dầu
mỡ khi vào xử lí sinh học sẽ làm bít lỗ hổng ở vật liệu lọc, ở phin lọc sinh học và còn làm hỏng cấu trúc bùn hoạt tính trong bể aeroten
Trang 162.1.4 Bể điều hòa
Bể điều hòa dùng để duy trì dòng thải và nồng độ vào công trình xử lí ổn định, khắc phục những sự dao động về nồng độ và lưu lượng của nước thải gây ra và nâng cao hiệu suất của các quá trình xử lí sinh học Bể điều hòa có thể phân loại như sau:
- Bể điều hòa lưu lượng – chất lượng: loại bể này phải có đủ dung tích để điều hòa lưu lượng chất lượng và bên trong phải có thiết bị khuấy để đảm bảo sự khuấy trộn đều trong toàn bộ thể tích
- Bể điều hòa lưu lượng: loại bể này đòi hỏi phải đủ dung tích để điều hòa lưu lượng, bên trong không cần có thiết bị khuấy trộn Bể được chia thành nhiều ngăn, định kỳ có thể tháo từng ngăn để xúc cát và cặn lắng ra ngoài
2.1.5 Bể lắng
Dùng để tách các chất bẩn không tan ở dạng lơ lửng trong nước thải dựa vào sự
chênh lệch giữa trọng lượng các hạt cặn có trong nước thải
Trong bể lắng người ta thường phân ra làm 4 vùng:
- Vùng phân phối nước
- Vùng lắng các hạt cặn
- Vùng chứa cặn
- Vùng thu nước ra
Tùy theo từng công nghệ xử lí mà người ta phân biệt bể lắng đợt I và lằng đợt II
Bể lắng đợt I được đặt trước công trình xử lí sinh học Bể lắng II được đặt sau công trình xử lí sinh học Bể lắng được chia làm 3 loại : bể lắng ngang, bể lắng đứng, bể lắng li tâm
Ngoài ra còn có bể lắng trong đó quá trình lắng được lọc qua tầng cặn lơ lửng gọi
là bể lắng trong có tầng cặn lơ lửng
2.1.6 Bể lọc
Công trình này dùng để tách các phần tử lơ lửng phân tán có trong nước thải với kích thước tương đối nhỏ sau bể lắng bằng cách cho nước thải đi qua các vật liệu lọc như cát, thạch anh, than cốc, than bùn, than gỗ bể lọc thường làm việc với hai chế độ
Trang 17là lọc và rửa lọc Quá trình lọc chỉ áp dụng cho các công nghệ xử lí thải tái sử dụng và cần thu hồi một số thành phần quý hiếm có trong nước thải
Bể lọc được phân loại như sau :
- Lọc qua vách lọc
- Bể lọc với vật liệu lọc dạng hạt
- Thiết bị lọc chậm
- Thiết bị lọc nhanh
Ưu điểm của phương pháp xử lý cơ học:
- Ít tốn năng lượng vận hành thiết bị, quy trình xử lý đơn giản
- Loại bỏ được nhiều các chất nặng, các chất có kích thước lớn, làm cho quá trình xử lý tiếp theo đạt hiệu quả cao hơn
Nhược điểm:
- Chưa loại bỏ được các chất lơ lửng, hợp chất hoà tan một cách triệt để
- Không giải quyết được việc khử màu, khử mùi, chất độc trong nguồn nước thải
- Hiệu suất xử lý không cao
2.1.7 Tuyển nổi
Là phương pháp dùng để loại bỏ các tạp chất ra khỏi nước bằng cách tạo cho chúng khả năng dể nổi trên mặt nước khi bám theo các bọt khí Ứng dụng để xử lí các chất lơ lửng trong nước (bùn hoạt tính, màng vi sinh vật)
2.2 Phương pháp hóa lí
Cơ sở của phương pháp này là đưa vào nước thải chất phản ứng nào đó, chất này phản ứng với các tạp chất bẩn trong nước thải và có khả năng loại chúng ra khỏi nước thải dưới dạng cặn lắng hoặc dưới dạng hòa tan không độc
Những phương pháp xử lý hóa lý điều dựa trên cơ sở ứng dụng các quá trình: hấp phụ, tuyển nổi, trao đổi ion, tách bằng màng, chưng bay hơi, trích ly, cô đặc,
Trang 182.2.1 Hấp phụ [6]
Dùng để tách các chất hữu cơ và khí hòa tan khỏi nước thải bằng cách tập trung
những chất đó trên bề mặt chất rắn (chất hấp phụ) hoặc bằng cách tương tác giữa các chất bẩn hòa tan với các chất rắn (hấp phụ hóa học)
2.2.2 Keo tụ, tạo bông [7]
Phương pháp keo tụ dùng để làm trong và khử màu nước thải bằng cách dùng các chất keo tụ và các chất trợ keo tụ để liên kết các chất rắn ở dạng lơ lửng và keo có trong nước thải thành những bông có kích thước lớn hơn
- Quá trình keo tụ xảy ra theo hai giai đoạn:
Chất keo tụ thủy phân khi cho vào nước, hình thành dung dịch keo và ngưng tụ
Trung hòa, hấp phụ, lọc, các tạp chất trong nước
Kết quả là hình thành các hạt lớn và lắng xuống
- Cơ chế của quá tình keo tụ:
Quá trình nén lớp điện tích kép các ion trái dấu cho vào nhằm làm giảm thế zeta làm cho sức hút mạnh hơn lực đẩy tạo ra sự kết dính giữa các hạt keo
Quá trình keo tụ do hấp phụ, trung hòa điện tích tạo ra điểm đẳng điện zeta = 0 Các hạt keo hấp phụ ion trái dấu lên bề mặt song song với cơ chế nén lớp điện tích kép nhưng cơ chế mạnh hơn
Quá trình keo tụ do hấp phụ tỉnh điện thành từng lớp, các hạt keo đều tích điện, nhờ lực tỉnh điện chúng có xu hướng kết hợp với nhau
Quá trình keo tụ do sự bắc cầu: các polymer vô cơ hoặc hữu cơ có thể ion hóa nhờ cấu trúc mạnh dài chúng tạo ra cầu nối giữa các hạt keo nhưng phải tính toán đủ để tránh hiện tượng tái ổn định của hệ keo
Quá trình keo tụ ngay dưới quá trình lắng hình thành các tinh thể Al(OH)3, Fe(OH)3, các muối không tan, các polyelectrolit
- Các phương pháp keo tụ:
Làm giảm thế năng zeta của hạt:
Trang 19Khi nồng độ của ion đối tăng lên càng nhiều, ion chuyển từ lớp khuếch tán sang lớp điện tích kép và chiều dài của lớp khuếch tán giảm
Keo tụ hệ keo bằng cách đưa vào dung dịch một hệ keo mới tích điện ngược dấu với hệ keo muốn keo tụ: lúc đó trong dung dịch xảy ra sự trung hòa lẩn nhau của các hạt keo tích điện trái dấu Muốn dùng phương pháp này phải đảm bảo chính xác sự cân bằng tổng điện tích của hệ keo mới đưa vào dung dịch và tổng điện tích cuả hệ keo muốn keo tụ
Keo tụ do chuyển động nhiệt:
Các hạt keo bị mất độ bền và có khả năng dính kết tham gia vào các chuyển động nhiệt va chạm với nhau tạo thành bông cặn
Keo tụ khuấy trộn:
Hạt keo ban đầu lớn hay khi hạt bông tạo ra do chuyển động nhiệt đạt tới 1µm thì chúng va chạm do khuấy trộn Do đó, cường độ khuấy trộn là một trong những yếu tố
có tác dụng quyết định đến quá trình keo tụ
Keo tụ bằng phèn có tính đến tác dụng phá hoại bông cặn do khuấy trộn: Các hạt cặn làm bẩn nước và các hạt keo tạo ra do thủy phân phèn tham gia vào quá trình keo tụ
Tốc độ tạo ra bông cặn là hàm số của tốc độ phản ứng hóa học và cường độ khuấy trộn
Kích thước bông cặn được tạo thành lớn hơn hơn hàng ngàn lần so với các hạt cặn tự nhiên
Bông cặn tạo ra do quá trình keo tụ có tính chất vật lý và kích thước hình hạt khác xa bông cặn lý tưởng
Keo tụ do tiếp xúc: Sử dụng khả năng dính kết của các hạt cặn lên bề mặt các hạt của vật liệu lọc
Các chất keo tụ thường là các phèn nhôm như : Al2(SO4 )3.18 H2O, NaAlO2,
Al2(OH)5Cl, Kal(SO4)2.12H2O, NH4Al(SO4)2, phèn sắt như :Fe2(SO4)3.2H2O,
Fe2(SO4)3.3H2O, FeSO4.7H2O, FeCl3 hoặc các chất keo tụ không phân li, dạng cao phân tử có nguồn gốc thiên nhiên hoặc tổng hợp
Trang 202.3 Phương pháp sinh học [8]
Cơ sở của phương pháp này là dựa vào khả năng sống và hoạt động của vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải Các vi sinh vật sử dụng một số hợp chất hữu cơ và một số chất khoáng làm nguồn dinh dưỡng và tạo ra năng lượng Trong quá trình dinh dưỡng chúng nhận được các chất làm vật liệu xây dựng tế bào, sinh trưởng và sinh sản nên khối lượng sinh khối tăng lên
Phương pháp sinh học thường được sử dụng để làm sạch hoàn toàn các loại nước thải có chứa các chất hữu cơ hòa tan hoặc các chất phân tán nhỏ, keo Do vậy, phương pháp này thường được dùng sau khi loại các tạp chất phân tán thô ra khỏi nước thải Đối với các chất vô cơ chứa trong nước thải thì phương pháp này dùng để khử chất sulfite, muối amon, nitrat – tức là các chất chưa bị oxy hóa hoàn toàn Sản phẩm cuối cùng của quá trình phân hủy sinh hóa các chất bẩn sẽ là: khí CO2, nitơ, nước, ion sulfate, sinh khối… Cho đến nay, người ta đã biết được nhiều loại vi sinh vật có thể phân hủy tất cả các chất hữu cơ có trong thiên nhiên và rất nhiều các chất hữu cơ tổng hợp nhân tạo
Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học có thể xem là tốt nhất trong các phương pháp khác vì: chi phí thấp; có thể xử lý được độc tố; xử lý được N-NH3; tính
ổn định cao
Thông thường giai đoạn xử lý sinh học sau giai đoạn xử lý cơ học
Những công trình xử lý sinh học phân thành hai nhóm:
Những công trình trong đó quá trình xử lý thực hiện trong điều kiện tự nhiên: cánh đồng tưới, bãi lọc, cánh đồng lọc thường thì quá trình xử lý diễn ra chậm
Những công trình trong đó quá trình xử lý thực hiện trong điều kiện nhân tạo: bể lọc sinh học, bể làm thoáng sinh học… Do các điều kiện tạo nên bằng nhân tạo nên quá trình xử lý diễn ra nhanh hơn, cường độ mạnh hơn
Trong trường hợp xử lý nước thải bằng bùn hoạt tính thường đưa một phần bùn hoạt tính quay trở lại (bùn tuần hoàn) để tạo điều kiện cho quá trình sinh hóa hiệu quả Phần bùn còn lại là bùn dư, thường đưa tới bể lắng bùn để làm giảm thể tích trước khi đưa tới các công trình xử lý cặn bã bằng phương pháp sinh học
Trang 21Quá trình xử lý sinh học trong điều kiện nhân tạo không loại trừ triệt để các loại
vi khuẩn, nhất là các loại vi trùng gây bệnh và truyền bệnh Bởi vậy sau giai đoạn xử
lý sinh học trong điều kiện nhân tạo cần thực hiện khử trùng nước thải trước khi xả thải vào môi trường
Các loại cặn giữ lại trên các công trình xử lý nước thải đều có mùi hôi thối khó chịu (nhất là cặn tươi từ bể lắng đợt I) và nguy hiểm về mặt vệ sinh Vì vậy, phải xử lý cặn bã thích hợp
Để giảm hàm lượng các chất hữu cơ trong cặn bã và để đạt các chỉ tiêu vệ sinh thường sử dụng phương pháp sinh học kỵ khí trong các hố bùn (đối với các trạm xử lý nhỏ), sân phơi bùn, thiết bị sấy khô bằng cơ học Khi lượng cặn khá lớn có thể dùng phương pháp sấy nhiệt
2.3.1 Xử lý sinh học trong điều kiện tự nhiên [8]
Phương pháp xử lí qua đất
Thực chất của quá trình xử lý là: khi lọc nước thải qua đất các chất rắn lơ lửng và keo sẽ bị giữ lại ở lớp trên cùng, những chất này tạo ra một màng gồm rất nhiều vi sinh vật bao bọc trên bề mặt các hạt đất, màng này sẽ hấp phụ các chất hữu cơ hòa tan trong nước thải Những vi sinh vật sẽ sử dụng oxy của không khí qua các khe đất và chuyển hóa các chất hữu cơ thành các hợp chất khoáng
Hồ sinh vật có thể chia ra làm 2 loại chính như sau: