1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Tìm hiểu về SSL doc

48 399 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu về SSL
Trường học Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Công Nghệ Thông Tin
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 587,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để bảo vệ những thông tin mật trên mạng Internet hay bất kỳ mạng TCP/IP nào, SSL đã kết hợp những yếu tố sau để thiết lập được một giao dịch an toàn: • Xác thực: đảm bảo tính xác thực củ

Trang 1

Tìm hiểu về SSL

(Thứ Hai, 06/08/2007 - 9:44 AM)

Bài viết sẽ trình bày những yếu tố mà SSL đã kết hợp để thiết lập được một giao dịch an toàn

nhằm bảo vệ những thông tin mật trên mạng Internet hay bất kỳ mạng TCP/IP nào

1.SSL là gì?

Việc kết nối giữa một Web browser tới bất kỳ điểm nào trên mạng Internet điqua rất nhiều các hệ thống độc lập mà không có bất kỳ sự bảo vệ nào với các thông tin trên đường truyền Không một ai kể cả người sử dụng lẫn Web server có bất kỳ sự kiểm soát nào đối với đường đi của dữ liệu hay có thể kiểm soát được liệu có ai đó thâm nhập vào thông tin trên đường truyền Để bảo vệ những thông tin mật trên mạng Internet hay bất kỳ mạng TCP/IP nào, SSL đã kết hợp những yếu tố sau để thiết lập được một giao dịch an toàn:

Xác thực: đảm bảo tính xác thực của trang mà bạn sẽ làm việc ở đầu kia của kết nối

Cũng như vậy, các trang Web cũng cần phải kiểm tra tính xác thực của người sử dụng

Mã hoá: đảm bảo thông tin không thể bị truy cập bởi đối tượng thứ ba Để loại trừ việc

nghe trộm những thông tin “ nhạy cảm” khi nó được truyền qua Internet, dữ liệu phải được mã hoá để không thể bị đọc được bởi những người khác ngoài người gửi và người nhận

Toàn vẹn dữ liệu: đảm bảo thông tin không bị sai lệch và nó phải thể hiện chính xác

thông tin gốc gửi đến

Với việc sử dụng SSL, các Web site có thể cung cấp khả năng bảo mật thông tin, xác thực và toàn vẹn dữ liệu đến người dùng SSL được tích hợp sẵn vào các browser và Web server, cho phép người sử dụng làm việc với các trang Web ở chế độ an toàn Khi Web browser sử dụng kết nối SSL tới server, biểu tượng ổ khóa sẽ xuất hiện trên thanh trạng thái của cửa sổ browser và dòng “http” trong hộp nhập địa chỉ URL sẽ đổi thành “https” Một phiên giao dịch HTTPS sử dụng cổng 443 thay vì sử dụng cổng 80 như dùng cho HTTP

2.Giao thức SSL

Được phát triển bởi Netscape, ngày nay giao thức Secure Socket Layer (SSL) đã được sử dụng rộng rãi trên World Wide Web trong việc xác thực và mã hoá thông tin giữa client và server Tổ chức IETF (Internet Engineering Task Force ) đã chuẩn hoá SSL và đặt lại tên là TLS (TransportLayer Security) Mặc dù là có sự thay đổi về tên nhưng TSL chỉ là một phiên bản mới của SSL Phiên bản TSL 1.0 tương đương với phiên bản SSL 3.1 Tuy nhiên SSL là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi hơn

SSL được thiết kế như là một giao thức riêng cho vấn đề bảo mật có thể hỗ trợ cho rất nhiều ứng dụng Giao thức SSL hoạt động bên trên TCP/IP và bên dưới các giao thức ứng dụng tầng cao hơn như là HTTP (Hyper Text Transport Protocol), IMAP ( Internet Messaging Access Protocol)

và FTP (File Transport Protocol) Trong khi SSL có thể sử dụng để hỗ trợ các giao dịch an toàn

Trang 2

cho rất nhiều ứng dụng khác nhau trên Internet, thì hiện nay SSL được sử dụng chính cho các giao dịch trên Web

SSL không phải là một giao thức đơn lẻ, mà là một tập các thủ tục đã được chuẩn hoá để thực hiện các nhiệm vụ bảo mật sau:

Xác thực server: Cho phép người sử dụng xác thực được server muốn kết nối Lúc này,

phía browser sử dụng các kỹ thuật mã hoá công khai để chắc chắn rằng certificate và public ID của server là có giá trị và được cấp phát bởi một CA (certificate authority) trong danh sách các CA đáng tin cậy của client Điều này rất quan trọng đối với người dùng Ví dụ như khi gửi mã số credit card qua mạng thì người dùng thực sự muốn kiểm tra liệu server sẽ nhận thông tin này có đúng là server mà họ định gửi đến không

Xác thực Client: Cho phép phía server xác thực được người sử dụng muốn kết nối Phía

server cũng sử dụng các kỹ thuật mã hoá công khai để kiểm tra xem certificate và public

ID của server có giá trị hay không và được cấp phát bởi một CA (certificate authority) trong danh sách các CA đáng tin cậy của server không Điều này rất quan trọng đối với các nhà cung cấp Ví dụ như khi một ngân hàng định gửi các thông tin tài chính mang tính bảo mật tới khách hàng thì họ rất muốn kiểm tra định danh của người nhận

Mã hoá kết nối: Tất cả các thông tin trao đổi giữa client và server được mã hoá trên

đường truyền nhằm nâng cao khả năng bảo mật Điều này rất quan trọng đối với cả hai bên khi có các giao dịch mang tính riêng tư Ngoài ra, tất cả các dữ liệu được gửi đi trên một kết nối SSL đã được mã hoá còn được bảo vệ nhờ cơ chế tự động phát hiện các xáo trộn, thay đổi trong dữ liệu ( đó là các thuật toán băm – hash algorithm)

Giao thức SSL bao gồm 2 giao thức con: giao thức SSL record và giao thức SSL handshake Giao thức SSL record xác định các định dạng dùng để truyền dữ liệu Giao thức SSL handshake (gọi là giao thức bắt tay) sẽ sử dụng SSL record protocol để trao đổi một số thông tin giữa server

và client vào lấn đầu tiên thiết lập kết nối SSL

3.Các thuật toán mã hoá dùng trong SSL

Các thuật toán mã hoá (cryptographic algorithm hay còn gọi là cipher) là các hàm toán học được

sử dụng để mã hoá và giải mã thông tin Giao thức SSL hỗ trợ rất nhiều các thuật toán mã hoá, được sử dụng để thực hiện các công việc trong quá trình xác thực server và client, truyền tải các certificates và thiết lập các khoá của từng phiên giao dịch (sesion key) Client và server có thể hỗtrợ các bộ mật mã (cipher suite) khác nhau tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như phiên bản SSL đang dùng, chính sách của công ty về độ dài khoá mà họ cảm thấy chấp nhận được - điều này liên quan đến mức độ bảo mật của thông tin, …

Các bộ mật mã được trình bày ở phần sau sẽ đề cập đến các thuật toán sau:

DES (Data Encryption Standard) là một thuật toán mã hoá có chiều dài khoá là 56 bit

Trang 3

3-DES (Triple-DES): là thuật toán mã hoá có độ dài khoá gấp 3 lần độ dài khoá trong mã

MD5 (Message Digest algorithm) được phát thiển bởi Rivest

RSA: là thuật toán mã hoá công khai dùng cho cả quá trình xác thực và mã hoá dữ liệu

được Rivest, Shamir, and Adleman phát triển

RSA key exchange: là thuật toán trao đổi khoá dùng trong SSL dựa trên thuật toán RSA

RC2 and RC4: là các thuật toán mã hoá được phát triển bởi Rivest dùng cho RSA Data

Các phiên bản SSL 2.0 và SSL 3.0 hỗ trợ cho hầu hết các bộ mã hoá Người quản trị có thể tuỳ chọn bộ mã hoá sẽ dùng cho cả client và server Khi một client và server trao đổi thông tin trong giai đoạn bắt tay (handshake), họ sẽ xác định bộ mã hoá mạnh nhất có thể và sử dụng chúng trong phiên giao dịch SSL

4.Các bộ mã hoá sử dụng thuật toán trao đổi khoá RSA

Đây là danh sách các bộ mã hoá được hỗ trợ trong SSL mà sử dụng thuật toán trao đổi khoá RSA

và được liệt kê theo khả năng bảo mật từ mạnh đến yếu

Mạnh nhất

• Thuật toán mã hoá 3- DES, thuật toán xác thực SHA-1

Mạnh

• Thuật toán mã hoá RC4 (với độ dài khoá 128 bit), thuật toán xác thực MD5

• Thuật toán mã hoá RC2 (với độ dài khoá 128 bit), thuật toán xác thực MD5

Trang 4

• Thuật toán mã hoá DES (với độ dài khoá 56 bit), thuật toán xác thực SHA –1

Tương đối mạnh

• Thuật toán mã hoá RC4 (với độ dài khoá 40 bit), thuật toán xác thực MD5

• Thuật toán mã hoá RC2 (với độ dài khoá 40 bit), thuật toán xác thực MD5

Yếu nhất

• Không mã hoá thông tin, chi dùng thuật toán xác thực MD5

Chú ý:Khi nói các thuật toán mã hoá RC4 và RC2 có độ dài khoá mã hoá là 40 bit thì thực chất

độ dài khoá vẫn là 128 bit nhưng chỉ có 40 bit được dùng để mã hoá

5.SSL handshake

Giao thức SSL sử dụng kết hợp 2 loại mã hoá đối xứng và công khai Sử dụng mã hoá đối xứng nhanh hơn rất nhiều so với mã hoá công khai khi truyền dữ liệu, nhưng mã hoá công khai lại là giải pháp tốt nhất trong qúa trình xác thực Một giao dịch SSL thường bắt đầu bởi quá trình “bắt tay” giữa hai bên (SSL handshake) Các bước trong quá trình “bắt tay” có thể tóm tắt như sau:

1. Client sẽ gửi cho server số phiên bản SSL đang dùng, các tham số của thuật toán mã hoá,

dữ liệu được tạo ra ngẫu nhiên (đó chính là digital signature) và một số thông tin khác màserver cần để thiết lập kết nối với client

2. Server gửi cho client số phiên bản SSL đang dùng, các tham số của thuật toán mã hoá, dữliệu được tạo ra ngẫu nhiên và một số thông tin khác mà client cần để thiết lập kết nối vớiserver Ngoài ra server cũng gửi certificate của nó đến client, và yêu cầu certificate của client nếu cần

3. Client sử dụng một số thông tin mà server gửi đến để xác thực server Nếu như server không được xác thực thì người sử dụng sẽ được cảnh báo và kết nối không được thiết lập.Còn nếu như xác thực được server thì phía client sẽ thực hiện tiếp bước 4

4. Sử dụng tất cả các thông tin được tạo ra trong giai đoạn bắt tay ở trên, client (cùng với sự cộng tác của server và phụ thuộc vào thuật toán được sử dụng) sẽ tạo ra premaster secret cho phiên làm việc, mã hoá bằng khoá công khai (public key) mà server gửi đến trong certificate ở bước 2, và gửi đến server

5. Nếu server có yêu cầu xác thực client, thì phía client sẽ đánh dấu vào phần thông tin riêngchỉ liên quan đến quá trình “bắt tay” này mà hai bên đều biết Trong trường hợp này, client sẽ gửi cả thông tin được đánh dấu và certificate của mình cùng với premaster secret

đã được mã hoá tới server

Trang 5

6. Server sẽ xác thực client Trường hợp client không được xác thực, phiên làm việc sẽ bị ngắt Còn nếu client được xác thực thành công, server sẽ sử dụng khoá bí mật (private key) để giải mã premaster secret, sau đó thực hiện một số bước để tạo ra master secret

7. Client và server sẽ sử dụng master secret để tạo ra các session key, đó chính là các khoá đối xứng được sử dụng để mã hoá và giải mã các thông tin trong phiên làm việc và kiểm tra tính toàn vẹn dữ liệu

8. Client sẽ gửi một lời nhắn đến server thông báo rằng các message tiếp theo sẽ được mã hoá bằng session key Sau đó nó gửi một lời nhắn đã được mã hoá để thông báo rằng phíaclient đã kết thúc giai đoạn “bắt tay”

9. Server cũng gửi một lời nhắn đến client thông báo rằng các message tiếp theo sẽ được mãhoá bằng session key Sau đó nó gửi một lời nhắn đã được mã hoá để thông báo rằng server đã kết thúc giai đoạn “bắt tay”

10. Lúc này giai đoạn “bắt tay” đã hoàn thành, và phiên làm việc SSL bắt đầu Cả hai phía client và server sẽ sử dụng các session key để mã hoá và giải mã thông tin trao đổi giữa hai bên, và kiểm tra tính toàn vẹn dữ liệu

Bài báo này bắt đầu cho loạt bài giới thiệu về cấu hình của Apache 2.0 có hỗ trợ giao thức SSL/TLS, nhằm bảo đảm an ninh tối đa và sự thực thi tối ưu trong hoạt động truyền tải của SSL

- Phần I: Giới thiệu về các khía cạnh của khoá (key) trong SSL/TLS và hướng dẫn cách cài đặt,

thiết lập cấu hình của 2.0 có hỗ trợ các giao thức này

- Phần II: Thảo luận về cấu hình của mod_ssl và các nguồn cung cấp địa chỉ với bộ xác nhận

web server

Trang 6

- Phần III (cũng là phần cuối cùng): Thảo luận các vấn đề về xác định quyền máy khách (client)

và một số lỗi cấu hình điển hình của các nhà quản trị Các lỗi này có thể giảm mức an toàn của bất kì mạng truyền thông sử dụng SSL nào

Giới thiệu về SSL

Secure Sockets Layer (SSL) là giao thức được biết đến nhiều nhất về khả năng bảo mật và độ

tin cậy trong giao dịch khách - chủ (client-server) trên mạng internet Bản thân SSL được dựa trên các khái niệm khá đơn giản Nó sắp xếp các thuật toán mã hoá và khoá giữa 2 lần gửi - nhận của một giao dịch Sau đó thiết lập một đưòng dẫn ảo mã hoá thông qua các giao thức khác (như HTTP) SSL cũng có thể thẩm định cả hai chiều của giao dịch thông qua việc dùng các “chứng

Vị trí của các giao thức trên, tương ứng với mô hình TCP/IP được minh hoạ theo biểu đồ sau:

Biểu đồ 1 Các giao thức con của SSL trong mô hình TCP/IP

Theo biểu đồ trên, SSL nằm trong tầng ứng dụng của giao thức TCP/IP Do đặc điểm này, SSL

có thể được dùng trong hầu hết mọi hệ điều hành hỗ trợ TCP/IP mà không cần phải chỉnh sửa nhân của hệ thống hoặc ngăn xếp TCP/IP Điều này mang lại cho SSL sự cải tiến mạnh mẽ so với các giao thức khác như IPSec (IP Security Protocol) Vì giao thức này đòi hỏi nhân hệ điều hành phải hỗ trợ và chỉnh sửa ngăn xếp TCP/IP SSL cũng có thể dễ dàng vượt qua tường lửa và

proxy, cũng như NAT (Network Address Translation) mà không cần nguồn cung cấp

Trang 7

SSL hoạt động như thế nào? Biểu đồ dưới đây sẽ chỉ ra một cách đơn giản với từng bước quá

trình thiết lập kết nối SSL giữa máy khách (client – dùng một đường dẫn web browser) và máy chủ (server – dùng một SSL web server)

Biểu đồ 2 Từng bước thành lập một kết nối SSL

Như bạn thấy trên hình, quá trình thiết lập kết nối SSL bắt đầu bằng việc trao đổi các tham số mã

hoá và sau đó xác nhận các server một cách tuỳ ý (dùng gia thức SSL Handshake) Nếu “bắt tay” (Handshake) thành công, cả hai chiều đều chấp nhận bộ mã hoá chung và các khoá mã hoá, thì

Trang 8

dữ liệu ở tầng ứng dụng (thông thường dùng HTTP, nhưng cũng có thể là một giao thức khác) có

thể được gửi thông qua đường hầm (tunnel) mã hoá (dùng SSL Record Layer)

Trong thực tế, tiến trình trên còn phức tạp hơn một chút Để tránh những cái “bắt tay” không cần thiết, một số tham số mã hoá được giữ lại Các thông báo được gửi đi Bộ mã hoá cũng có thể được thay đổi Tuy nhiên, bất chấp các đặc điểm kĩ thuật đó, cách thức phổ biến nhất của tiến trình này làm việc thực sự như trên

SSL, PCT, TLS và WTLS (nhưng không có SSH)

Mặc dù SSL là giao thức được biết đến nhiều nhất và phổ biến nhất, nhưng nó không phải là giaothức duy nhất dùng cho mục đích an toàn và giao vận trong web Cũng khá quan trọng để biết rằng, từ sau phát minh SSL v1.0 ra đời , có ít nhất năm giao thức khác hoặc ít hơn hoặc nhiều hơn đóng vai trò quan trọng trong an ninh truy cập World Wide Web Cụ thể:

SSL v2.0

Phiên bản này được tạo ra bởi Netscape Communications năm 1994 Mục đích chính của giao thức này là cung cấp an toàn cho các giao dịch trên World Wide Web Thật không may, nhanh chóng sau đó người ta thấy con số yếu kém về an toàn trong phiên bản đầu của giao thức SSL này Do đó làm cho nó kém tin cậy hơn với cách dùng mang tính chất thương mại

• Cấu trúc của MAC yếu

• Có khả năng để các nhóm bắt buộc dùng bộ mã hoá yếu

• Không bảo vệ quá trình “bắt tay”

• Có khả năng những kẻ tấn công dùng kiểu cắt xén (truncation attack)

PCT v1.0

Được phát triển bởi Microsoft vào năm 1995 PCT (Privacy Communication Technology ) v1.0 địa chỉ hoá một số điểm yếu của SSL 2.0 và đặt ra mục tiêu là thay thế SSL Tuy nhiên giao thức này đã không bao giờ thu được kết quả phổ biến như là SSL v3.0

SSL v3.0

Được phát hành vào năm 1996 bởi Netscape Communications SSL v3.0 giải quyết hầu hết các vấn đề của SSL v2.0 và kết hợp rất nhiều thành phần của PCT Nhanh chóng sau đó nó trở thành giao thức phổ biến nhất cho an toàn truyền thông trên World Wide Web

TLS v1.0 (được biết đến như là SSL v3.1)

Được đưa ra bởi IETF vào năm 1999 (RFC 2246) Giao thức này dựa trên SSL v3.0 và PCT Nó cân bằng cả hai cách thức của Netscape và Microsoft Cũng cần chú ý rằng, mặc dù TLS dựa trên

Trang 9

SSL, nhưng nó không phải là phiên bản sau tương thích 100% với các bản trước nó IETF đã thực hiện môt số cải tiến về an toàn Chẳng hạn như dùng HMAC thay vì MAC, dùng phép tính toán khác trong bảo mật của máy chủ và tài liệu khoá (key), thêm các bộ chỉnh sửa, không hỗ trợ

bộ mã hoá Fortezza , v.v… Kết quả của những nâng cấp này là các giao thức không hoạt động được một cách đầy đủ Cuối cùng TLS cũng rơi vào lãng quên so với SSL v3.0

WTLS

Phiên bản “di động và không dây” của giao thức TLS, sử dụng giao thức UDP như là một hãng truyền thông WTLS được thiết kế và tối ưu cho các băng thông thấp hơn, các tiến trình nhỏ hơn với các thiết bị di động cho phép dùng WAP WTLS đưa ra cùng giao thức WAP 1.1 bởi WAP Forum Tuy nhiên, sau khi giao thức WAP 2.0 được giới thiệu, WTLS bị thay thế bởi một phiên bản nguyên trạng của TLS với mức an toàn cao hơn Nó không cần phải giải mã hay mã hoá lại lưu lượng tại cổng vào của WAP

Vì sao giao thức SSH lại không được dùng cho mục đích đảm bảo an ninh khi truy cập WWW?

Có một vài lí do! Đầu tiên, ngay từ khi bắt đầu, TLS và SSL đã được thiết kế cho các phiên an ninh mạng (HTTP), trong khi SSH được lùi lại để thay thế cho Telnet và FTP SSL không làm gìhơn là “bắt tay” và thiết lập các “đường hầm mã hoá” Và tại cùng thời gian đó, SSH đưa ra cách đăng nhập giữa người - máy, truyền tải các file an toàn, hỗ trợ cho nhiều bước kiểm tra quyền (bao gồm mật khẩu, các khoá chung, Kerberos…) Mặt khác SSL/TLS dựa trên các chứngchỉ X.509v3 và PKT, các chứng chỉ này tạo nên sự phân phối và quản lí khả năng thẩm định quyền hạn dễ dàng hơn nhiều Với những lí do này và một số lí do khác nữa làm cho SSL/TLS ngày càng phù hợp hơn an toàn truy cập WWW và các kiểu khác tương tự trong truyền thông, bao gồm SMTP, LDAP… trong khi SSH ngày càng thuận tiện cho việc quản lí các hệ thống từ xa

Nói tóm lại, mặc dù trong thực tế có nhiều giao thức “an toàn” nhưng ta chỉ nên dùng hai giao thức giao dịch web (ít nhất tại thời điểm này) là: TLS v1.0 và SSL v3.0 Cả hai đều được nhấn mạnh trong loạt bài này với cái tên đơn giản là SSL/TLS Bởi những điểm yếu kém đã được biết đến của SSL v2.0 và “lỗ hổng WAP” nổi tiếng của WTLS, chúng ta nên tránh dùng các giao thứcnày, hoặc ít nhất là hạn chế ở mức thấp nhất

Những yêu cầu của phần mềm

Trong phần tiếp theo của loạt bài này, chúng ta sẽ được biết cách cấu hình Apache 2.0 có hỗ trợ

SSL/TLS, dùng mô hình mod_ssl Trước khi đi xa hơn, bạn đọc nên download mã nguồn của

phiên bản mới nhất Apache 2.0 từ website của Apache Hầu hết các ví dụ cũng làm trong Apache

1.3.x Trong trường hợp này mod_ssl cần được download riêng rẽ từ mã nguồn của Apache trên

website mod_ssl

Các ví dụ cụ thể trong bài này hầu hết làm trên các hệ điều hành Linux, giống Linux và BSD –

hệ thống điều hành cơ bản Đòi hỏi duy nhất cho hệ điều hành là phải có cả thư viện OpenSSL và

GCC

Trang 10

Là một web browser mặc định, MS Internet Explorer đã được chọn cho bài thử nghiệm của chúng ta chủ yếu bởi vì sự quá phổ biến của nó Tuy nhiên, bất kì một web brower hiện đại nào khác cũng có thể được dùng như FireFox, Mozilla, Netscape, Safari, Opera…

Cài đặt Apache hỗ trợ SSL/TLS

Bước đầu tiên để cài đặt phần mềm Apache có hỗ trợ SSL/TLS là cấu hình và cài đặt Apache 2 web server, tạo ra một người dùng và một nhóm được đặt tên là “apache” Một cách cài đặt an toàn đã được xuất bản trên SecurityFocus, trong bài báo Security Apache 2.0: Step-by-Step Chỉ

có một điểm khác nhau duy nhất là tiến trình để thiết lập mod_ssl và mod_setenvif Nó đòi hỏi phải tương thích với một số phiên bản của Internet Explorer như sau (thay đổi được chỉ ra trong

phần in đậm):

./configure \ prefix=/usr/local/apache2 \ with-mpm=prefork \

enable-ssl \

disable-charset-lite \ disable-include \ disable-env \

enable-setenvif \

disable-status \ disable-autoindex \ disable-asis \ disable-cgi \ disable-negotiation \ disable-imap \

disable-actions \ disable-userdir \ disable-alias \ disable-so Sau khi cấu hình xong, chúng ta có thể cài đặt Apache theo thư mục gốc:

Trang 11

1 Tạo một số nội dung web mẫu mà sẽ được đáp ứng qua SSL/TLS:

2 Thay thế file cấu hình Apache mặc định (thông thường được tìm thấy trong

/usr/local/apache2/conf/httpd.conf) bằng một cái mới, dùng nội dung sau (tối ưu hoá mức an toàn và sự thực thi):

Trang 12

LogFormat "%{Referer}i -> %U" referer

LogFormat "%{User-agent}i" agent

Trang 13

SSLMutex file:/usr/local/apache2/logs/ssl_mutex

SSLRandomSeed startup file:/dev/urandom 1024

SSLRandomSeed connect file:/dev/urandom 1024

3 Chú ý: Các bạn nên thay đổi một số giá trị trong file cấu hình trên Chẳng hạn như tên của

web server, địa chỉ e-mail của người quản trị.v.v…

4 Tham gia cấu trúc lại thư mục khoá private của web server, các chứng chỉ, và danh sách

5 Tạo một dịch vụ “tự kí nhận” (nó sẽ chỉ được dùng cho mục đích kiểm tra – các chứng chỉ

thực của bạn nên lấy từ một CA thích hợp như Verisign):

-subj '/CN=Test-Only Certificate'

Kiểm tra phần cài đặt

Tại thời điểm này, chúng ta có thể bắt đầu Apache hỗ trợ SSL/TLS như sau:

Trang 14

/usr/local/apache2/bin/apachectl startssl

Apache/2.0.52 mod_ssl/2.0.52 (Pass Phrase Dialog)

Some of your private key files are encrypted for security reasons.

In order to read them you have to provide us with the pass phrases.

Server 127.0.0.1:443 (RSA)

Enter pass phrase:*************

Ok: Pass Phrase Dialog successful

Sau khi máy chủ bắt đầu, chúng ta có thể cố gắng kết nối tới nó bằng cách trỏ vào web browser với một đường dẫn URL có dạng: https://name.of.the.web.server (trong trường hợp của chúng ta là https://www.seccure.lab)

Trong một vài phút, chúng ta sẽ thấy cảnh báo nói rằng có vấn đề với việc kiểm chứng sự xác nhận web server chúng ta muốn truy cập Minh hoạ trong hình 3 là một ví dụ từ MS Internet Explorer 6.0

Hình 3 Cảnh báo trước của IE 6.0.

Sự xuất hiện của cảnh báo trên đúng một cách hoàn hảo! Chúng ta nên nhận cảnh báo này vì hai

lí do sau:

Web browser không biết Certificate Authority (quyền hạn chứng chỉ), được cung cấp bởi

chứng chỉ của web server (và không thể biết, bởi vì chúng ta đang dùng chứng chỉ tự kí –

selfsigned certificate)

Trang 15

CN (Common Name) – Tên chung được cho bởi chứng chỉ không nối ghép tên của website - tại thời điểm nó là chứng chỉ chỉ đọc (Text-only Certificate), và nó sẽ là tên

miền một cách đầy đủ của web server (ví dụ như: www.seccure.lab)

Sau khi thực thi với Internet Explorer, chúng ta nên xem nội dung web sau, như trong hình minh hoạ 4:

Hình 4 Trang web làm việc mẫu của SSL

Một điều cần chú ý, có một cái khoá vàng ở cuối của web browser Điều đó có nghĩa là kết nối SSL đã được thiết lập thành công Giá trị 128 bit nói lên rằng khoá đối xứng được dùng để mã hoá giao dịch có độ dài 128 bit Và nó đủ mạnh (ít nhất tại thời điểm này) để bảo vệ giao thông mạng khỏi sự xâm nhập trái phép

Nếu chúng ta kích đúp vào biểu tượng khoá, chúng ta sẽ thấy các thuộc tính của chứng chỉ

website, như được chỉ ra trong hình 5:

Hình 5 Các chi tiết của chứng chỉ tự kí (sekf-signed certificate)

Trang 16

Gở rối

Nếu vì một lí do nào đó chúng ta không thể truy cập được vào website, có một chức năng chẩn

đoán hữu ích là “s_client”, nằm trong thư viện OpenSSL Nó có thể được dùng để gỡ rối các kết

nối SSL/TLS Ví dụ sau chỉ ra cách dùng chức năng này như thế nào:

/usr/bin/openssl s_client -connect localhost:443

CONNECTED(00000003)

depth=0 /CN=Test-Only Certificate

verify error:num=18:self signed certificate

New, TLSv1/SSLv3, Cipher is DHE-RSA-AES256-SHA

Server public key is 1024 bit

Trang 17

Verify return code: 18 (self signed certificate)

Chức năng s_client có nhiều tuỳ chọn hữu ích Chẳng hạn như tắt/mở (on/off) một giao thức cụ

thể (-ssl2 , -ssl3, -tls1) Sau đó khởi động lại Apache và kiểm tra các file đăng nhập (/usr/local/apache2/logs/) để có thêm thông tin

Chúng ta cũng có thể dùng Ethereal hoặc ssldump Chúng ta có thể xem một cách thụ động các

thông báo Handshake của SSL, và cố gắng tìm ra lí do lỗi nếu không có những công cụ này

Một màn hình nhỏ thực thi việc này trên Ethereal được mô tả trong hình 6

Hình 6 Màn hình Ethereal với phương thức SSL Handshake.

Trang 18

Phần II

Trong phần đầu tiên của loạt bài này, các bạn đã được hướng dẫn cách cài đặt, cấu hình và gỡ rốiphần mềm Apache 2.0 hỗ trợ SSL/TLS Bây giờ, phần hai sẽ tiếp tục thảo luận vấn đề thiết lập modul mod_ssl để đạt được mức an toàn cao nhất và sự thực thi tối ưu Đồng thời các bạn cũng

sẽ được hướng dẫn làm thế nào để tạo ra một Quyền hạn chứng chỉ (Certification Authority) nội

bộ và một chứng chỉ SSL dựa trên thư viện nguồn mở OpenSSL

Những yêu cầu thiết lập cho mod_ssl

Trong Apache 2.0.52 có hơn 30 hướng dẫn có thể dùng để cấu hình mod_ssl Bản mô tả chi tiết

cả 30 hướng dẫn này có thể tìm thấy trong Apache's mod_ssl documentation Phần này chỉ tập

trung vào các yêu cầu thiết lập để nâng cao độ an toàn và sự thực thi của kết nối SSL/TLS Danh sách các thiết lập này được chỉ ra trong bảng dưới đây:

SSLEngine Phải đặt ở chế độ cho phép, nếu không thì máy chủ (hay máy trạm ảo) sẽ không dùng SSL/TLS được

SSLRequireSSL

Phải đặt ở chế độ cho phép, nếu không người dùng có thểtruy cập nội dung web qua các yêu cầu HTTP thông thường mà không cần chút gì tới SSL/TLS

SSLProtocol

SSLProxyProtocol

Nên thiết lập chế độ chỉ dùng TLS v1.0 và SSL v3.0 Hầuhết các web browser hiện nay đểu hỗ trợ cả hai Vì thế chúng ta có thể vô hiệu hoá SSL v2.0 một cách an toàn

SSLCipherSuite

SSLProxyCipherSuite

Để tạo ra phương thức mã hoá mạnh, tham số này nên đặt

ở mức HIGH (>168 bits) và MEDIUM (128 bits) Mức LOW (<56 bits) và NULL (không mã hoá) đặt bộ mã hoávào trạng thái bị vô hiệu hoá Nên vô hiệu hoá tất cả các

bộ mã hoá hỗ trợ nhận dạng nặc danh (aNULL) Nhưng cũng tuỳ mục đích Nếu chúng ta muốn hỗ trợ cho web browser mà không cần mã hoá mạnh thì dùng bộ mã hoá EXPORT (56 bit và 40 bit) Điều cuối cùng, chúng ta nêndùng SHA1 hơn là MD5 Bởi vì SHA1 được coi là an toàn hơn MD5, sau khi phát hiện ra các xung đột trong MD5 Tóm lại, các thiết lập cần thiết nên là:

HIGH:MEDIUM:!aNULL:+SHA1:+MD5:+HIGH:

+MEDIUM

Chú ý: có thể xem các thiết lập hỗ trợ bộ mã hoá nào như

Trang 19

Để khởi động Apache nên cài đặt để sử dụng thiết bị ngẫu nhiên giả (/dev/urandom) và/hoặc EGD (Entrophy Gathering Daemon) Trước khi mỗi kết nối SSL mới được thiết lập, nên cấu hình lại để dùng nguồn được cài đặt sẵn, /dev/urandom hoặc EGD Không nên dùng /dev/random trong cả hai trường hợp Bởi vì /dev/randomchỉ có thể cung cấp nhiều entropy tại một thời điểm nhất định nào đó

SSLSessionCache

Để tránh lặp lại các “bắt tay” SSL cho các yêu cầu HTTP song song (ví dụ khi web browser tải nhiều hình ảnh trong một khoảng thời gian), SSL caching nên được dùng Nó sẽ thiết lập để dùng bộ nhớ chia sẻ (SHM), hoặc DBM Khi thiết lập này là "none", thực thi của web server có thể giảm một cách đáng kể

SSLSessionCacheTime

out

Giá trị này mô tả số giây thời gian sau khi đường vào trong SSLSessionCache hết hiệu lực Nó nên được đặt ít nhất là 300-600 giây Tuy nhiên thời gian thực phụ thuộc vào thời gian trung bình người dùng sử dụng trong mỗi lần viếng thăm web server Ví dụ nếu thời gian trung bình

là khoảng 15 phút, thì giá trị thiết lập nên ít nhất là 900 (15 phút * 60 giây)

SSLVerifyClient

SSLProxyVerify

Khi không dùng bộ nhận dạng client hay proxy, các tuỳ chọn này nên đặt ở chế độ “none” Không bao giờ nên đặt chúng ở chế độ "optional_no_ca" Bởi vì ngược lại với bộ nhận dạng PKI, những chỗ nào client được nhận dạng, chúng phải đưa ra các chứng chỉ phù hợp

“Optional” thỉnh thoảng được dùng (phụ thuộc xem là cần hay không), tuy nhiên nó có thể không làm việc với tất cả các web browser

SSLVerifyDepth

SSLProxyVerifyDepth

Nên là con số lớn nhất của CA trung gian Ví dụ, để lấy chỉ các chứng chỉ tự kí nên đặt nó là 0, cho các chứng chỉclient được kí bởi Root CA, nên đặt là 1…

Trang 20

SSLProxyEngine Nên vô hiệu hoá (đặt ở chế độ disable), nếu cơ chế SSL/TLS proxy không được dùng.

Bảng 1 Các thiết lập cần thiết cho mod_ssl.

Thiết lập mẫu của chúng ta tương ứng với các hướng dẫn trên có thể tìm thấy trong httpd.conf

SSLRandomSeed startup file:/dev/urandom 1024

SSLRandomSeed connect file:/dev/urandom 1024

Trang 21

1.1 trên SSL, các cảnh bào chú ý đóng SSL trên socket cuối kết nối

Các tuỳ chọn sau nên thiết lập:

SetEnvIf User-Agent ".*MSIE.*" \ nokeepalive ssl-unclean-shutdown \ downgrade-1.0 force-response-1.0

Tuỳ chọn trên là nguyên nhân web server sẽ dùng HTTP/1.1 hoặc kết nối keep – alive và sẽ không gửi chú ý đóng SSL khi web browser là

MS Internet Explorer

Bảng 2 Các yêu cầu thiết lập cho mod_log và mod_set_envif

File cấu hình mẫu (httpd.conf) thể hiện trong bài trước đã bao gồm các tuỳ chọn trên, giúp người đọc thuận tiện hơn

Bộ nhận dạng web server

Cho tới giờ, chúng ta có thể cấu hình và kiểm tra SSL/TLS, nhưng web browser của chúng ta không thể kiểm tra được nhận dạng của web server Trong bài đầu tiên, chúng ta đã dùng một chứng chỉ web server được tạo ra nhằm mục đích kiểm tra và không chứa các thông tin yêu cầu cho nhận dạng thực và các giao dịch thương mại

Để web browser nhận dạng thành công web server, chúng ta cần tạo ra một chứng chỉ web serverphù hợp, nên bao gồm:

• Khoá thông thường cho web server

• Ngày tháng có hiệu lực (ngày bắt đầu và ngày hết hạn)

• Hỗ trợ các thuật toán mã hoá

• Bộ tên riêng biệt (DN), phải bao gồm đầy đủ tên miền có giá trị của web server, được biếtđến như là tên thông thường (CN) Tuy nhiên cũng có thể có một số thành phần khác nhưđất nước (C), bang (S), khu vực (L), tên tổ chức (O), tên đơn vị tổ chức (OU) hoặc có thể hơn

• Dãy số chứng chỉ

• Thuộc tính X.509v3 sẽ nói cho web browser về kiểu và cách dùng của chứng chỉ

• URI của điểm phân phối CRL (nếu tồn tại)

• URI của X.509v3 Certificate Policy (nếu tồn tại)

Trang 22

• Tên và chữ kí được xác nhận bởi bộ nhận dạng chứng chỉ (CA)

Chú ý quan trọng là thuộc tính tên thông thường (CN) phải là tên miền có đủ điều kiện trên web

server Nếu không web browser sẽ không thể kiểm chứng được chứng chỉ có thuộc web server đang dùng hay không

Mẫu chứng chỉ web server (mẫu kiểu text) có thể như sau:

Certificate:

Data:

Version: 3 (0x2)

Serial Number: 1 (0x1)

Signature Algorithm: sha1WithRSAEncryption

Issuer: O=Seccure, OU=Seccure Root CA

Validity Not Before:

Nov 28 01:00:20 2004 GMT

Not After : Nov 28 01:00:20 2005 GMT

Subject: O=Seccure, OU=Seccure Labs, CN=www.seccure.lab

Subject Public Key Info:

Public Key Algorithm: rsaEncryption

RSA Public Key: (1024 bit)

Digital Signature, Key Encipherment

X509v3 Extended Key Usage:

TLS Web Server Authentication, Netscape Server Gated Crypto, Microsoft Server Gated Crypto

Netscape Comment:

OpenSSL Certificate for SSL Web Server

Signature Algorithm: sha1WithRSAEncryption

45:30:9d:04:0e:b7:86:9e:61:a1:b0:68:2b:44:93:1c:57 :2a:

Trang 23

Tên tổ chức O O = Seccure Đơn vị tổ chức OU OU = Seccure LabsTên thông thường CN CN = www.seccure.lab

Bảng 3 Ví dụ mẫu cho một chứng chỉ đúng

Có nên dùng mật khẩu để bảo vệ?

Trước khi bắt đầu tạo các chứng chỉ, việc hiểu ý nghĩa mật khẩu (passphrase) trong chứng chỉ là rất quan trọng Các khoá private của web server có nên được mã hoá hay không? Có nhiều ý kiếnđược đưa ra, trong đó có ý kiến cho rằng không nên bảo vệ khoá private bằng mật khẩu Nó không chỉ bất tiện mà còn tạo ra cảm giác thiếu an toàn Vì sao? Hãy xem các điểm sau:

1 Thứ nhất, nó đòi hỏi phải nhập mật khẩu sau mỗi lần khởi động lại web server Điều này khá khó chịu nếu hệ thống cần khởi động lại thường xuyên (như do cập nhật lại code, một lỗi điện tử hay thay đổi cấu hình, v.v…)

2 Nếu một kẻ xâm nhập nào đó chế ngự và lấy đi khoá private trên web server, có nghĩa là web server bị phá hoại và kẻ xâm nhập có quyền truy cập vào hệ điều hành của web server ở Root Trong trường hợp này, kẻ xâm nhập có thể lấy cắp mật khẩu bằng cách cài keylogger Và sau đó,hoặc là phá huỷ hoặc là khởi động lại hệ thống để ép người quản trị nhập lại mật khẩu Kẻ xâm nhập có thể kết xuất bộ nhớ của Apache và tìm ra khoá private của web server lưu trữ trong một đoạn nào đó

Do vậy, nâng cao mã hoá khoá private của web server bằng mật khẩu chỉ giúp bảo vệ chúng chống lại những đứa trẻ Còn đối với các chuyên gia phá hoại hệ thống thì vô tác dụng

Trang 24

Tạo chứng chỉ web server

Trong phần này chúng ta có thể tạo các chứng chỉ web server Thông thường có 3 kiểu chứng chỉ

mà chúng ta có thể dùng:

1 Chứng chỉ tự kí (self-signed certificate)

2 Chứng chỉ được chứng nhận bởi CA (hầu hết)

3 Chứng chỉ được kí bởi CA nội bộ

Phần dưới đây sẽ mô tả chi tiết phương thức tạo các chứng chỉ trên Kết quả cuối cùng của bất kì phương thức nào được dùng sẽ chỉ có 2 file:

• server.key – khoá private của web server

• server.crt - chứng chỉ mã hoá PEM bao gồm cả khoá public của web browser

Phương thức 1: Chứng chỉ tự kí (chỉ dùng cho mục đích kiểm tra)

Phương thức này được đưa ra chỉ để tiếp tục quá trình kiểm tra của chúng ta, hoặc dùng trong môi trường nhỏ, gần gũi (chẳng hạn như tại nhà hay một mạng Intranets nhỏ) Để web browser

có thể nhận dạng được web server chứng chỉ tự kí phải được cài đặt vào mọi web browser cần truy cập web server đó Điều này có thể khá bất tiện

Cặp đôi khoá public/private của web server và chứng chỉ mã hoá tự kí PEM có thể được tạo ra như sau:

-subj '/O=Seccure/OU=Seccure Labs/CN=www.seccure.lab'

Các câu lệnh trên sẽ tạo ra một chứng chỉ mới new), có tên x509), có giá trị trong một năm days 365), và sẽ được kí bằng cách dùng thuật toán SHA1 (-sha1) Khoá private RSA có độ dài

(-1024 bit (-newkey rsa: 10224), và không cần bảo vệ bằng mật khẩu (-nodes) Chứng chỉ và cặp đôi khoá public/private sẽ được tạo trong hai file “server.crt” và “server.key” Tên của khu vực này là “Seccure Labs” và tên miền đầy đủ là: www.seccure.lab

Sau khi tạo ra chứng chỉ trên, chúng ta cần phân phối và cài đặt nó trên mọi web browser có thể kết nối với web server Nếu không thì khi web browser đòi hỏi một kết nối, nó sẽ không thể kiểm

Ngày đăng: 02/08/2014, 09:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3. Cảnh báo trước của IE 6.0. - Tìm hiểu về SSL doc
Hình 3. Cảnh báo trước của IE 6.0 (Trang 14)
Hình 5. Các chi tiết của chứng chỉ tự kí (sekf-signed certificate) - Tìm hiểu về SSL doc
Hình 5. Các chi tiết của chứng chỉ tự kí (sekf-signed certificate) (Trang 15)
Hình 4. Trang web làm việc mẫu của SSL. - Tìm hiểu về SSL doc
Hình 4. Trang web làm việc mẫu của SSL (Trang 15)
Hình 6. Màn hình Ethereal với phương thức SSL Handshake. - Tìm hiểu về SSL doc
Hình 6. Màn hình Ethereal với phương thức SSL Handshake (Trang 17)
Bảng 1. Các thiết lập cần thiết cho mod_ssl. - Tìm hiểu về SSL doc
Bảng 1. Các thiết lập cần thiết cho mod_ssl (Trang 20)
Bảng 2. Các yêu cầu thiết lập cho mod_log và mod_set_envif. - Tìm hiểu về SSL doc
Bảng 2. Các yêu cầu thiết lập cho mod_log và mod_set_envif (Trang 21)
Bảng 3. Ví dụ mẫu cho một chứng chỉ đúng - Tìm hiểu về SSL doc
Bảng 3. Ví dụ mẫu cho một chứng chỉ đúng (Trang 23)
Hình 2. Ví dụ cài đặt chứng chỉ CA gốc trên Internet Explorer. - Tìm hiểu về SSL doc
Hình 2. Ví dụ cài đặt chứng chỉ CA gốc trên Internet Explorer (Trang 31)
Hình 3. Cấu hình Internet Explorer để kiểm tra việc thu hồi chứng chỉ. - Tìm hiểu về SSL doc
Hình 3. Cấu hình Internet Explorer để kiểm tra việc thu hồi chứng chỉ (Trang 33)
Hình 4. Trả lời của Internet Explorer's với một chứng chỉ bị thu hồi. - Tìm hiểu về SSL doc
Hình 4. Trả lời của Internet Explorer's với một chứng chỉ bị thu hồi (Trang 33)
Hình 1. Internet Explorer yêu cầu một chứng chỉ client. - Tìm hiểu về SSL doc
Hình 1. Internet Explorer yêu cầu một chứng chỉ client (Trang 37)
Hình 3. Bảo vệ chứng chỉ client trong Internet Explorer. - Tìm hiểu về SSL doc
Hình 3. Bảo vệ chứng chỉ client trong Internet Explorer (Trang 39)
Hình 2. Cài đặt một chứng chỉ trong Internet Explorer - Tìm hiểu về SSL doc
Hình 2. Cài đặt một chứng chỉ trong Internet Explorer (Trang 39)
Hình 4. Mức an toàn nên đặt là &#34;High&#34; trong IE. - Tìm hiểu về SSL doc
Hình 4. Mức an toàn nên đặt là &#34;High&#34; trong IE (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w