Chương trình phòng chống thiếu máu dinh dưỡng là chương trình quốc gia, được triển khai trên toàn TP.HCM từ năm 2005 với hoạt động chủ yếu là bổ sung viên sắt & truyền thông về kiến thức
Trang 1THIẾU MÁU THIẾU SẮT Ở THAI PHỤ
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Thiếu máu thiếu sắt ở thai phụ là vấn đề sức khỏe cộng đồng tại
Việt Nam nhưng đến nay chưa có số liệu về tình trạng này tại TP.HCM
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ thiếu máu (Hb<11g/dl), thiếu sắt (ferritin<12ng/ml),
dự trữ sắt thấp (ferritin 12-<30ng/ml) và các yếu tố liên quan ở thai phụ TP.HCM
Phương pháp: Điều tra cắt ngang trên 776 thai phụ tại TP.HCM Đối tượng
được cân, lấy máu xét nghiệm Hb, ferritin, & CRP, phỏng vấn thông tin về kinh tế xã hội, bổ sung sắt, & kiến thức phòng ngừa thiếu máu Nhóm nhỏ 406 thai phụ được chọn ngẫu nhiên để phỏng vấn chế độ ăn 24h
Kết quả: Tỉ lệ thiếu máu, thiếu sắt & dự trữ sắt thấp ở thai phụ lần lượt là
17,5%; 8,0% và 34,7% Tỉ lệ thiếu sắt (10,7% so với 3,4%, p<0,01) & dự trữ sắt thấp (45,4% so với 16,2%, p<0,01) ở 3 tháng cuối cao gấp 3 lần 3 tháng giữa Hb & ferritin có liên quan thuận với tổng số ngày uống sắt tính đến thời điểm điều tra ở 3 tháng cuối thai kỳ (lần lượt là r=0,26, p<0,01 & r=0,17, p<0,01) Hb có liên quan nghịch với tổng số ngày uống sắt (r=-0,14, p<0,05) ở 3 tháng giữa Mối tương quan vẫn có ý nghĩa thống kê sau khi hiệu chỉnh cho BMI trước mang thai & tuổi So với
Trang 2RDA, thai phụ ở 3 tháng giữa & 3 tháng cuối có năng lượng ăn vào đạt gần 80%, protein trên 100%, nhưng chất sắt chỉ khoảng 40% nhu cầu khuyến nghị (RDA) Sự khác biệt về năng lượng, protein, sắt, vitamin C, thịt, rau, & trái cây ăn vào giữa các nhóm thiếu máu so với không thiếu máu, thiếu sắt so với không thiếu sắt không có ý nghĩa thống kê
Kết luận: Thiếu máu thai phụ là vấn đề sức khỏe cộng đồng tại TP.HCM Bổ
sung sắt sớm trong 3 tháng đầu có thể không hiệu quả tăng Hb & ferritin trong 3 tháng đầu & 3 tháng giữa thai kỳ Tuy nhiên, giả thuyết này cần được chứng minh thêm bằng nghiên cứu sâu hơn Bổ sung sắt từ 3 tháng giữa giúp tăng Hb & ferritin ở
3 tháng cuối Lượng sắt ăn vào của thai phụ 3 tháng giữa & 3 tháng cuối là rất thấp so với nhu cầu khuyến nghị
Pham Ngoc Oanh, Nguyen Thanh Danh, and Le Thi Kim Qui
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 - Supplement of No 4 - 2008: 141 - 147
Trang 3Background: Iron deficiency anemia is a public health problem in Vietnam
Pregnant women (PW) are vulnerable to anemia in community Up to now, there is
no data on anemia in PW in HCMC
Objectives: To identify prevalence of anemia (Hb<11g/dl), iron deficiency
(ferritin<12ng/ml), low iron storage (ferritin within 12-<30ng/ml) and related factors
to anemia & iron deficiency in PW in HCMC
* Trung tâm dinh dưỡng TP.HCM
Methods: A cross sectional survey was conducted in 776 PW in HCMC in
2007 Subjects were scaled, collected fasting blood to analyze Hb, ferritin & CRP A prepared questionnaire was used to interview information on socio-economic, iron supplement, & knowledge on anemia prevention A sub-group 406 PW was randomly selected for 24h dietary recall
Results: The prevalence of anemia, iron deficiency, low iron storage was
17.5%, 8.0% and 34.7%, respectively The prevalence of iron deficiency (10.7% vs
Trang 43.4%) and low iron storage (45.4% vs 16.2%) were 3 times higher in the last trimester compare to the second trimester Hb and ferritin correlated to total days of taking iron supplement (up to the date of survey) in the last trimester (r=0.26, p<0.01 and r=0.17, p<0.01) Hb conversely correlated to total days of taking iron supplement
in the second trimester (r=-0.14, p<0.05) Compare to RDA, energy in 2nd and 3rdtrimester were approximately 80%, more than 100% for protein, and only 40% for iron consumption The difference in energy, protein, iron, vitamin C, meat, vegetables, and fruits consumption between none anemia vs anemia PW, between none iron deficiency vs iron deficiency PW was not significant
Conclusions: Anemia is a public health problem in pregnant women in HCM
city Early iron supplement in the 1st trimester might not effect on increasing Hb & ferritin in the 2nd and the 3rd trimester This phenomenon needs to be confirmed in further research Iron supplement in the 2nd trimester will increase Hb and ferritin concentration in the 3rd trimester Iron consumption of pregnant women in 2nd and 3rdtrimester is very low compare to RDA
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thiếu máu thiếu sắt là vấn đề sức khoẻ cộng đồng ảnh hưởng đến >50% thai phụ ở các nước Đông Nam Châu Á(1), làm tăng nguy cơ trẻ chậm phát triển ngay từ trong bụng mẹ, sinh ra nhẹ cân, sanh non, suy dinh dưỡng, hoặc tử vong chu sinh ở
mẹ & con(2,3) Theo kết quả điều tra do Viện Dinh Dưỡng tiến hành năm 1988-1990
Trang 5trên 2471 phụ nữ tuổi sinh đẻ thì tỉ lệ thiếu máu ở thai phụ vùng nông thôn là 49% (3 tháng cuối là 59%), và ở Hà Nội là 41% (3 tháng cuối là 48%)(4,5,6) Tỉ lệ thiếu máu ở thai phụ toàn quốc năm 2000 là 32,2%, ở vùng Đông Nam Bộ là 34,3%(7)
Chương trình phòng chống thiếu máu dinh dưỡng là chương trình quốc gia, được triển khai trên toàn TP.HCM từ năm 2005 với hoạt động chủ yếu là bổ sung viên sắt & truyền thông về kiến thức phòng chống thiếu máu cho thai phụ Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có số liệu cụ thể về tình trạng thiếu máu & kiến thức về phòng chống thiếu máu của thai phụ tại TP.HCM Để có cơ sở định hướng cho chiến lược can thiệp nhằm cải thiện tình trạng thiếu máu ở thai phụ, góp phần cải thiện tầm vóc của giống nòi bắt đầu từ sự phát triển của bào thai, Trung tâm Dinh dưỡng (TTDD)
đã tiến hành khảo sát tình trạng thiếu máu & thiếu sắt ở thai phụ tại TP.HCM năm
2007 với mục đích xác định tỉ lệ thiếu máu, thiếu sắt, sắt dự trữ thấp & các yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu & thiếu sắt của thai phụ tại TP.HCM
PHƯƠNG PHÁP
Đối tượng
Điều tra cắt ngang được thực hiện tại 30 phường/xã (PX) thuộc TP.HCM được chọn ngẫu nhiên theo phương pháp PPS Tổng số 776 thai phụ (25-30 thai phụ ở mỗi PX) tham gia điều tra Các đối tượng được khám tổng quát, đánh giá thiếu máu trên lâm sàng, cân bằng cân điện tử TANITA sai số 200g Phỏng vấn một số thông tin về kinh tế xã hội, chiều cao & cân nặng trước mang thai, bổ sung sắt, khám thai, & kiến
Trang 6thức phòng ngừa thiếu máu lúc mang thai dựa vào bảng câu hỏi soạn sẵn Trong tổng
số 776 thai phụ tham gia, 406 đối tượng (khoảng 13 đối tượng/PX) được chọn ngẫu nhiên trong số các đối tượng trên để phỏng vấn chế độ ăn 24h của ngày hôm trước trong 1 ngày
Định lượng Ferritin & CRP: Mỗi đối tượng được lấy 5 ml máu tĩnh mạch khi đói vào lúc 6-8h của buổi sáng trong ngày điều tra Máu tĩnh mạch được bảo quản trong thùng lạnh và được quay ly tâm với tốc độ 3000 vòng/phút trong 5 phút để tách huyết thanh sau 3 – 4 giờ lấy mẫu từ thực địa Mẫu huyết thanh được tách để cho kết quả công thức máu, định lượng Ferritin, & CRP Công thức máu được định lượng bằng phương pháp tán xạ ánh sáng laser (thuốc thử của hãng Abbott, máy phân tích CellDyn 3500 - 3700) Ferritin được định lượng bằng phương pháp hoá phát quang miễn dịch CMIA (thuốc thử của hãng Abbott, máy Architect) CRP được định lượng bằng phương pháp miễn dịch đo độ đục Turbidimetric immunoassay (thuốc thử Wako của hãng Abbott, máy Architect) Công thức máu, ferritin và CRP được phân tích tại labo của Medic
Tiêu chuẩn chẩn đoán
Tình trạng thiếu máu được xác định khi Hb<11g/dl; thiếu sắt khi Ferritin<12ng/ml; dự trữ sắt thấp khi Ferritin trong khoảng 12-<30ng/ml(8); và có tình trạng viêm khi CRP 10mg/l(8) BMI trước mang thai được tính bằng cân
Trang 7nặng (kg) chia cho bình phương chiều cao (m2) (cân nặng & chiều cao do đối tượng cung cấp qua phỏng vấn)
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được nhập bằng phần mềm EPI-INFO 6.0 & xử lý bằng phần mềm SPSS 11.0 Đối với biến có phân phối không chuẩn (ferritin huyết thanh, lượng vitamin C, thịt, cá, rau, trái cây ăn vào) sẽ được chuyển sang logarit để đưa về phân phối chuẩn trước khi phân tích Test Chi bình phương được sử dụng để so sánh các tỉ
lệ General Linear Model (GLM) được sử dụng để so sánh các số trung bình giữa các nhóm được phân theo tam cá nguyệt Phân tích các mối tương quan bằng phép kiểm tương quan Pearson trước và sau khi hiệu chỉnh cho các yếu tố gây nhiễu (tuổi, BMI trước mang thai) Giá trị p<0,05 được xem như có ý nghĩa thống kê
KẾT QUẢ
Đặc điểm của thai phụ tham gia điều tra được mô tả trong Bảng 1 Hơn 50% thai phụ tham gia điều tra ở nhóm 20-29 tuổi Thai phụ ở 3 tháng cuối & 3 tháng giữa thai kỳ chiếm lần lượt là 64% & 32%
Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của đối tượng tham gia điều tra
Trang 9so sánh Post-hoc t-test được áp dụng, chúng tôi nhận thấy Hb & ferritin của thai phụ ở
3 tháng giữa & 3 tháng cuối thai kỳ đều thấp hơn hẳn so với 3 tháng đầu Tỉ lệ thiếu máu thai phụ 3 tháng giữa & 3 tháng cuối cao Tỉ lệ dự trữ sắt thấp của thai phụ 3 tháng cuối cao gần gấp 3 lần so với 3 tháng giữa (p<0,01)
Bảng 2: Mức tăng cân, Hb, Hct, ferritin huyết thanh trung bình, tỉ lệ thiếu
máu, tỉ lệ thiếu sắt & tỉ lệ sắt dự trữ thấp của thai phụ theo 3 giai đoạn của thai kỳ
Biến
3 tháng đầu
3 tháng giữa
3 tháng cuối
Trang 10số (n=29) (n=248) (n=499) bộ (n=776) trị p *
Tăng
cân (kg)
1,2 3,3
4,5 3,3
9,4 3,9
7,5 4,5
19,9 2,6
19,7 2,4
19,8 2,5
NS
Hb
(g/dl)
12,5 1,2a
11,8 0,9
11,9 1,0
11,9 1,0
<0,01
Hct
(%)
36,7 3,4a
35,3 2,7
35,6 2,6
35,6 2,7
63,0 46,8b
33,7 32,1
45,4 41,9
<0,01
Tỉ lệ
thiếu máu
2 (6,9%)
44 (17,7%)
90 (18,0%)
136 (17,5%)
NS
Trang 11Tỉ lệ
thiếu sắt
0 (0,0%)
8 (3,4%)
52 (10,7%)
60 (8,0%)
<0,01
Tỉ lệ
dự trữ sắt thấp
1 (3,7%)
38 (16,2%)
221 (45,4%)
260 (34,7%)
<0,01
Số liệu trình bày: trung bình độ lệch chuẩn hoặc n (%)
*
, thực hiện bởi GLM (đối với số trung bình) hoặc Chi bình phương (đối với tỉ
lệ, chỉ so 3 tháng giữa & 3 tháng cuối) NS: khác biệt không có ý nghĩa thống kê
a
, khác biệt so với 3 tháng giữa & 3 tháng cuối: p<0,01 (Post-hoc t-test)
b
, khác biệt so với 3 tháng cuối: p<0,01 (Post-hoc t-test)
Năng lượng, dưỡng chất & các nhóm thực phẩm tiêu thụ 24h của thai phụ ở 6 tháng sau thai kỳ được trình bày trong Bảng 3 Do thai phụ hay bị nghén trong 3 tháng đầu thai kỳ ảnh hưởng đến chế độ ăn uống thật sự nên số liệu không được trình bày trong bảng này Năng lượng, chất sắt, vitamin C, thịt, rau, & trái cây tiêu thụ trong 24h ở nhóm không thiếu máu & không thiếu sắt đều cao hơn so với nhóm có thiếu máu hoặc thiếu sắt Tuy nhiên, khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, riêng đối với nhóm trái cây thì khác biệt này ở ngưỡng có ý nghĩa thống kê (p=0,098) giữa
2 nhóm thiếu & không thiếu máu Thai phụ tiêu thụ năng lượng đạt gần 80% so với
Trang 12RDA Lượng protein tiêu thụ của thai phụ đều đạt mức nhu cầu khuyến nghị Tuy nhiên, lượng sắt tiêu thụ so với khuyến nghị ở thai phụ là rất thấp (chỉ khoảng 40% so với RDA)
Tương quan giữa nồng độ Hb hoặc giá trị logarit của Ferritin huyết thanh với tổng số ngày uống viên sắt tính đến thời điểm điều tra theo từng giai đoạn thai
kỳ được thể hiện trong Biểu đồ 1-6 Hb có khuynh hướng tương quan nghịch với ngày uống viên sắt trong 3 tháng đầu & 3 tháng giữa thai kỳ (lần lượt là r=-0,25 & r=-0,14), tuy nhiên mối tương quan có ý nghĩa thống kê chỉ quan sát được đối với
3 tháng giữa thai kỳ (p<0,05) Trong 3 tháng cuối, việc uống viên sắt làm tăng Hb
rõ rệt (r=0,26, p<0,01) Logarit của ferritin cũng có khuynh hướng tương tự như
Hb đối với số ngày uống viên sắt Tuy nhiên, mối tương quan yếu hơn & chỉ có ý nghĩa thống kê ở 3 tháng cuối (r=0,17, p<0,01) Các mối tương quan này vẫn còn
ý nghĩa thống kê sau khi được hiệu chỉnh cho BMI trước khi mang thai & cho tuổi
Bảng 3: So sánh năng lượng, dưỡng chất & các nhóm thực phẩm tiêu thụ 24h
ở 6 tháng sau thai kỳ giữa nhóm thiếu máu & không thiếu máu và giữa nhóm thiếu sắt
& không thiếu sắt
Tình trạng thiếu máu
Tình trạng thiếu sắt a
Trang 13
Tình trạng thiếu máu
Tình trạng thiếu sắt a
Không thiếu máu (n=290)
Thiếu máu
(n=58)
Không thiếu sắt (n=313)
Thiếu sắt
(n=27)
Năng
lượng (kcal)
2130,2 733,3
2083,9 799,7
2143,0 745,7
1955,3 735,7
Protein
(g)
89,5 38,0
89,9 51,2
90,6 40,7
81,9 40,0
Sắt
(mg)
18,1 8,4
16,8 10,5
18,1 8,8
16,3 8,5
Vitamin
C (mg) b
90,3 (47,5-160,3)
63,8 (43,7-121,1)
89,9 (48,9-155,7)
63,8 (32,9-115,8)
Trang 14
Tình trạng thiếu máu
Tình trạng thiếu sắt a
b
(49,4-207,8) (44,0-200,0) (47,8-202,8) (55,5-238,9)
Cá (g) b
14,3 (0,0-83,2)
28,4 (0,0-94,7)
16,5 (0,0-92,0)
0,0 85,7)
(0-Rau (g)
b
205,3 (125,0-317,3)
189,5 (148,3-275,0)
205,4 (126,2-313,1)
179,3 (123,4-257,1)
Trái
cây(g) b
180,0 (54,5-401,0)
124,8 (0,0-257,7)
180,0 (38,0-400,0)
83,0 (0-199,5)
Năng
lượng (%)
78,9 (26,8)
77,3 (30,2)
79,5 (27,4)
71,5 (26,5)
Protein
(%)
101,8 (43,0)
102,5 (59,1)
103,2 (46,3)
92,3 (44,4)
Trang 15
Tình trạng thiếu máu
Tình trạng thiếu sắt a
Sắt (%)
40,3 (18,6)
37,3 (23,3)
40,2 (19,5)
36,1 (18,9)
Số liệu trình bày: trung bình (độ lệch chuẩn) hoặc trung vị (25th – 75th bách phân vị)
độ sắt giá trị sinh học cao (10)
Các thông tin về nơi khám thai & kiến thức phòng chống thiếu máu không trình bày ở đây Hơn 50% thai phụ khu vực nội thành chọn bệnh viện là nơi khám thai Trong khi đó, thai phụ ở vùng ngoại thành đi khám thai chủ yếu ở trạm y tế (56,4%) Chỉ có 41,3% thai phụ biết được tác hại của thiếu máu đối với thai kỳ Tỉ lệ thai phụ biết cách phòng ngừa thiếu máu đầy đủ (ăn đủ dinh dưỡng kết hợp uống sắt
bổ sung) là 26,6% Tỉ lệ thai phụ biết thực phẩm giàu chất sắt là 64,0% Gần 50% thai
Trang 16phụ biết được những thông tin trên là từ bệnh viện, Trung tâm y tế hoặc phòng mạch
Tỉ lệ thai phụ biết thông tin này từ trạm y tế là 38,0% Không quan sát được mối tương quan giữa kiến thức phòng ngừa thiếu máu với tình trạng thiếu máu của thai phụ
Biểu đồ 1: 3 tháng đầu r = - 0,25; NS
Biểu đồ 2: 3 tháng giữa r = - 0,14; p<0,05
Trang 19Biểu đồ 6: 3 tháng cuối r = 0,17; p<0,01
Biểu đồ 1-6: Tương quan giữa nồng độ Hb (Biểu đồ 1-3) hoặc logarit của
Ferritin (Biểu đồ 4-6) với số ngày uống viên sắt đến lúc điều tra
BÀN LUẬN
Tỉ lệ thiếu máu của thai phụ TP.HCM năm 2007 là 17,5% (Bảng 2), nghĩa là thiếu máu có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới(8)
Tỉ lệ này chỉ bằng khoảng một nửa so với tỉ lệ thiếu máu thai phụ toàn quốc năm
2000 (32,2%) & vùng Đông Nam Bộ (34,3%), thấp hơn so với vùng đồng bằng sông Hồng (23,7%)(7) So với các nước trong khu vực thì tỉ lệ thiếu máu ở thai phụ TP.HCM cao hơn so với tỉ lệ này ở Singapore (15,3%)(10), nhưng hơi thấp hơn so với Thái Lan (19,2%)(11), & chỉ khoảng một nửa so với Malaysia (35%)(12)
Tỉ lệ thiếu sắt ở thai phụ TP.HCM là 8,0% (Bảng 2), tỉ lệ này ở 3 tháng cuối thai kỳ cao gấp 3 lần so với 3 tháng giữa (10,7% so với 3,4%, p<0,01) Khoảng 1/3