1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả sử dụng Chela-Ferr® hỗ trợ điều trị thiếu máu thiếu sắt ở thai phụ tuổi thai 26-28 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2016

6 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 497,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày xác định tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt và đánh giá hiệu quả của viên uống Chela-Ferr® trong hỗ trợ điều trị thiếu máu thiếu sắt ở thai phụ tuổi thai 26-28 tuần tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2016.

Trang 1

Đỗ Quan Hà, Đinh Bích Thủy, Nguyễn Thùy Trang

Bệnh viện Phụ Sản Trung ương

HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ THIẾU MÁU THIẾU SẮT

Ở THAI PHỤ TUỔI THAI 26-28 TUẦN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2016

Tác giả liên hệ (Corresponding author):

Đỗ Quan Hà,

email: doquanha@yahoo.com

Ngày nhận bài (received): 01/03/2017

Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised):

15/03/2017

Ngày bài báo được chấp nhận đăng

(accepted): 28/04/2017

Từ khóa: thiếu máu, thiếu sắt,

phụ nữ mang thai, Chela-Ferr ®

Keywords: anemia, iron

deficiency, pregnant women,

Chela-Ferr ®

Tóm tắt Mục tiêu: 1) Xác định tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt; và 2) Đánh giá hiệu quả

phụ tuổi thai 26-28 tuần tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2016

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 628 thai phụ tuổi thai 26-28 tuần và nghiên cứu can thiệp tiến cứu trong 20

Kết quả: Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai là 11,6%; không có sự khác biệt theo nhóm tuổi hoặc số con đã sinh; Tỷ lệ thiếu sắt là 67,3%, thiếu sắt ở mức độ nặng là 24,5% và 42,8% dự trữ sắt giảm; Hemoglobin tăng trung bình 0,76 g/dL (p<0,005); Ferritin huyết thanh tăng trung bình 4,75 µg/L (p<0,05) Tỷ lệ, tình trạng thiếu máu và các triệu chứng giảm đáng kể: 90% phụ nữ thiếu máu thiếu sắt đã hết hẳn thiếu máu hoặc cải thiện rõ; trong số đó 100% thiếu máu thể nhẹ đã hết hoàn toàn

Kết luận: Tỷ lệ thiếu máu là 11,6%; trong số thiếu máu, thiếu sắt ở mức độ nặng là 24,5% và dự trữ sắt giảm là 42,8% Hemoglobin và Ferritin huyết thanh huyết thanh cải thiện rõ rệt Tình trạng thiếu máu

và các triệu chứng giảm đáng kể.

Từ khóa: thiếu máu, thiếu sắt, phụ nữ mang thai, Chela-Ferr ®

Abstract

TREATMENT OF IRON DEFICIENCY ANEMIA AMONG PREGNANT WOMEN WITH GESTATIONAL AGE OF 26-28 WEEKS AT THE NATIONAL HOSPITAL OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY 2016

Objectives: (To determine the prevalence of anemia and iron deficiency among pregnant women; and 2) To evaluate the effectiveness

pregnant women with gestational age of 26-28 weeks at the National Hospital of Obstetrics and Gynecology in 2016

Trang 2

18 - 23

1 Đặt vấn đề

Một vấn đề khá phổ biến ở phụ nữ mang thai

(PNMT) là tình trạng thiếu máu dinh dưỡng, trong

đó thường gặp nhất là thiếu máu thiếu sắt Theo

Tổ chức Y tế thế giới năm 2012, có khoảng 41,8%

PNMT trên thế giới bị thiếu máu, một nửa trong số

đó là thiếu máu do thiếu sắt [1]

Thiếu máu và thiếu máu thiếu sắt có thể gây

nhiều hậu quả đối với PNMT, thai và trẻ sau sinh

Thiếu máu làm tăng tỷ lệ các biến chứng trong thai

nghén, tăng tỷ lệ đẻ khó, mổ lấy thai và các biến cố

sau đẻ Thiếu máu thiếu sắt khi có thai làm tăng tỷ

lệ sảy thai, đẻ non, thai chết lưu và giảm cân nặng

khi sinh cũng như gây ảnh hưởng đến sự phát triển

trí tuệ và vận động, làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và tỷ

lệ tử vong của trẻ [2-4]

Một số nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ

thiếu máu ở PNMT dao động khoảng 12,8% đến

54,4% tùy thuộc vùng miền hoặc giai đoạn trong

thai kỳ [5-7] Bệnh viện Phụ Sản Trung ương đã

quản lý thai cùng với sàng lọc thiếu máu và thiếu

máu thiếu sắt từ nhiều năm nhưng trong những năm

gần đây không có nghiên cứu nào về vấn đề này

folic mới được đưa vào sử dụng ở Việt Nam trong

thời gian gần đây và chưa có nghiên cứu nào trong

Báo cáo này có các mục tiêu sau:

1 Xác định tỷ lệ thiếu máu và thiếu máu thiếu sắt ở thai phụ tuổi thai 26-28 tuần tại Khoa Khám bệnh theo Yêu cầu - Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2016

2 Đánh giá hiệu quả và tác dụng phụ của viên

thiếu sắt ở thai phụ tuổi thai 26-28 tuần

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 8/2016 đến hết tháng 11/2016 tại Khoa Khám bệnh theo yêu cầu, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Thai phụ tuổi thai 26-28 tuần

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Mục tiêu 1: Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Mục tiêu 2: Nghiên cứu can thiệp tiến cứu, có

so sánh trước-sau

2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 2.4.1 Mục tiêu 1

Subjects and Method: Cross sectional study among 628 pregnant women with gestational age of

26-28 weeks and prospective interventional study among 20 pregnant women with iron deficiency

Results: The prevalence of anemia among pregnant women was 11.6%; with no difference by age

groups of parity; The ratio of iron deficiency was 67.3%, severe deficiency accounted for 24.5% and

42.8% decreased iron reserve; Average increase of Hemoglobin was 0.76 g/dL (p<0,005), of serum

Ferritin 4.75 µg/L (p<0,05) The percentage, level of anemia and symptoms declined significantly:

90% women with iron deficiency anemia no longer had anemia or improved; among them 100% of

those have mild anemia fully recovered.

Conclusion: The prevalence of anemia was 11.6%; among those with anemia, severe deficiency

accounted for 24.5% and 42.8% decreased iron reserve Hemoglobin and serum Ferritin improved

significantly The situation of anemia and symptoms clearly improved.

Keywords: anemia, iron deficiency, pregnant women, Chela-Ferr ®

Trang 3

SẢN KHOA – SƠ SINH

Tiêu chuẩn lựa chọn:

Toàn bộ những thai phụ tuổi thai 26-28 tuần

đến khám và quản lý thai tại Khoa Khám bệnh theo

yêu cầu Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ tháng

8-11/2016

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu

cắt ngang xác định một tỷ lệ [8]:

2

2 2 /

1 ) (

Z

n = Cỡ mẫu tối thiểu cần thiết cho nghiên cứu

p = tỷ lệ thiếu máu ở PNMT, lấy bằng 29,4%

(hay 0,294) theo nghiên cứu của Phạm Vân Thúy và

cộng sự (2014) tại Thái Bình [2] q = 1-p = 0,706

d = Sai số mong đợi, chọn d = 5% hay 0,05

Cỡ mẫu tối thiểu n = 319, làm tròn là 320 thai phụ

Chọn mẫu toàn bộ theo phương pháp lấy mẫu

liên tiếp những thai phụ đủ điều kiện tham gia Thực

tế nghiên cứu do thu nhận khá nhanh nên đến hết

tháng 11/2016, chúng tôi đã thu nhận được 628

thai phụ đủ điều kiện tham gia vào nghiên cứu

2.4.2 Mục tiêu 2

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Toàn bộ những thai phụ tuổi thai 26-28 tuần

được chẩn đoán thiếu máu thể nhẹ đến vừa do

thiếu sắt

- Tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu và

cam kết khám lại sau 1 tháng

Thiếu sắt trong nghiên cứu này được định nghĩa

là xét nghiệm có hàm lượng Ferritin huyết thanh

dưới 30,0 µg/L (giảm dự trữ sắt)

Tiêu chuẩn loại trừ.

- Đang có bệnh nhiễm trùng cấp, bệnh mạn tính

- Dị ứng hoặc mẫn cảm với các thành phần

của thuốc

- Thiếu máu nặng

Cách chọn mẫu: chọn mẫu toàn bộ.

Thực tế sàng lọc 628 thai phụ đã phát hiện 73

trường hợp thiếu máu thể nhẹ đến vừa Tuy nhiên,

trong số đó chỉ có 49 trường hợp được chỉ định làm

xét nghiệm Ferritin Những trường hợp thiếu máu

có thiếu sắt đều được mời tham gia nghiên cứu

Đối tượng Thiếu máu Thiếu máu nhẹ Thiếu máu vừa Thiếu máu nặngThiếu máu, Hb (g/dL)

Phụ nữ có thai <11,0 10,0-10,9 7,0-9,9 <7,0

Bảng 1 Tiêu chuẩn chẩn đoán thiếu máu sử dụng trong nghiên cứu [9]

nhưng chỉ có 20 trường hợp đồng ý tham gia và cam kết đến khám, xét nghiệm lại

Thuốc sử dụng trong nghiên cứu:

một dạng sắt hữu cơ, một chiết xuất amino axit – sắt bisglycinate (II), với khả dụng sinh học tương tự

PNMT là phù hợp với khuyến cáo của WHO [1] Thai phụ được chẩn đoán thiếu máu thiếu sắt đồng ý tham gia nghiên cứu được cấp 2 hộp (60

sau 1 tháng để làm lại xét nghiệm và phỏng vấn

2.5 Đạo đức trong nghiên cứu

Đề tài đã được Hội đồng Khoa học và Đạo đức trong Nghiên cứu Y sinh học, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương phê duyệt trước khi thực hiện Nghiên cứu không thay đổi quy trình chăm sóc thai nghén thường quy tại Bệnh viện, kể cả đối với những thai phụ từ chối tham gia Mọi ĐTNC đều được giải thích, tư vấn đầy đủ và tự nguyện đồng ý tham gia Thông tin cá nhân được giữ bí mật, chỉ công bố kết quả tổng hợp

3 Kết quả nghiên cứu

3.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Tuổi trung bình của ĐTNC là 30,19 ± 5,02; ít nhất là 18, lớn nhất là 49

ĐTNC chưa sinh lần nào chiếm tỷ lệ cao nhất 48,9%, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên chiếm 14% Số thai phụ đã phá thai 1-2 lần chiếm tỷ lệ 32,3%, 5,9% đã phá thai từ 3 lần trở lên

3.2 Tỷ lệ thiếu máu và thiếu máu thiếu sắt

Trong 628 ĐTNC được sàng lọc, có 73 ca thiếu máu, chiếm 11,6% Trong số 73 trường hợp có 49

Nhóm tuổi Số lượng (N) Tỷ lệ (%)

< 20 tuổi 4 0,6

20 – 24 tuổi 56 8,9

25 – 29 tuổi 245 39,0

30 – 34 tuổi 201 32,0

35 – 39 tuổi 93 14,8

≥ 40 tuổi 29 4,7 Tổng 628 100

Bảng 2 Phân bố nhóm tuổi

Trang 4

ca (67,1%) thiếu máu nhẹ và 24 (32,9%) thiếu máu

vừa, không có ca nào thiếu máu nặng Không có sự

khác biệt về tỷ lệ thiếu máu ở thai phụ theo nhóm

tuổi và số lần sinh Trong số này chỉ có 49 trường

hợp được làm xét nghiệm Ferritin

Tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt là 67,3%, trong đó

24,5% thiếu sắt ở mức độ nặng; và 42,8% dự trữ

sắt giảm Số thiếu máu có Ferritin bình thường

chiếm 32,7%

3.3 Hiệu quả hỗ trợ điều trị thiếu máu

thiếu sắt

Tổng cộng có 20 người đồng ý tự nguyện tham

gia, cam kết khám lại sau 1 tháng và được thu

nhận vào nghiên cứu can thiệp Họ được cấp 2 hộp

lại sau 1 tháng Tại lần khám lại, số viên trung bình

các ĐTNC đã sử dụng là 48 viên

Mức tăng hemoglobin trung bình của các ĐTNC

là 0,76 g/dL với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê rõ

rệt (t-test ghép cặp một phía) Do có sự thay đổi như

vậy, tất cả các ĐTNC thiếu máu nhẹ được xét nghiệm

lại đều hết thiếu máu Trong số 5 ĐTNC thiếu máu vừa

người chuyển sang thiếu máu mức độ nhẹ (60%- số

liệu không trình bày trong bảng) Như vậy, tỷ lệ thiếu

máu đã giảm khoảng 6 lần với 3 người sau can thiệp

còn thiếu máu nhưng đều ở mức độ nhẹ

Biểu đồ 1 Tỷ lệ thiếu máu (n=628)

Biểu đồ 2 Ferritin huyết tương trong nhóm thiếu máu (n=49)

Hemoglobin (g/dL) Giá trị p

Trước (trung bình) Sau (trung bình) Mức tăng trung bình

10,49 ± 0,24 11,25 ± 0,30 0,76 ± 0,23 0,003

Bảng 3 So sánh hàm lượng Hemoglobin trước và sau can thiệp

Mức tăng Ferritin huyết thanh trung bình của các ĐTNC là 4,75 µg/L với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê rõ rệt (t-test ghép cặp một phía)

Các kết quả thu được số người có từng triệu chứng (mệt mỏi/hoa mắt/ chóng mặt; hồi hộp/

đánh trống ngực/nhịp tim nhanh; táo bón và cảm giác chán ăn) đều giảm sau khi được sử dụng thuốc

4 Bàn luận

4.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Kết quả của chúng tôi cho thấy ĐTNC có độ tuổi từ 25-29 chiếm tỷ lệ cao nhất (39,0%), sau đó

là nhóm tuổi từ 30-34 (32,0%); tương tự nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội (2012-2013) với tỷ

lệ cao nhất ở nhóm 20-34 tuổi (89,4%) [5] Cả 2 nghiên cứu đều thực hiện ở Hà Nội trong thời gian gần đây nên có lẽ có sự tương đồng cao

4.2 Tỷ lệ thiếu máu và thiếu máu thiếu sắt

Kết quả của chúng tôi cho thấy tỷ lệ thiếu máu

ở PNMT là 11,6% So với một số nghiên cứu tại nước ngoài, tỷ lệ thiếu máu ở PNMT trong nghiên cứu này thấp hơn một số nước như Malaysia 34,6%

[10], Ấn độ 84,9% [11] Sự khác biệt này cho thấy thiếu máu ở PNMT ở Việt Nam tuy đã thấp hơn so với các nước khác trong khu vực nhưng vẫn đang

là một vấn đề đáng quan tâm

Bảng 5 so sánh kết quả của chúng tôi với tỷ lệ thiếu máu ở PNMT trong các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam:

Có thể thấy một xu hướng chung là tỷ lệ thiếu máu ở PNMT đã giảm dần qua các năm vừa qua,

Ferritin huyết thanh (µg/L) Giá trị p Trước (trung bình) Sau (trung bình) Mức tăng trung bình

22,80 ± 2,48 27,55 ± 2,15 4,75 ± 2,12 0,02

Bảng 4 So sánh hàm lượng Ferritin huyết thanh trước và sau sử dụng thuốc

Biểu đồ 3 Số người mắc triệu chứng trước và sau sử dụng ChelaFerr ®

Trang 5

SẢN KHOA – SƠ SINH

Tác giả Năm NC Địa điểm NC Tỷ lệ (%)

Đặng Thị Hà [12] 2000 TP Hồ Chí Minh 38,1

Nguyễn Viết Trung [13] 2002 Hà Nội 37,02

Nguyễn Xuân Ninh [14] 2006 Hà Nội 36,7

Võ Thị Thu Nguyệt [7] 2008 TP Hồ Chí Minh 20,19

Phạm Vân Thúy và CS [2] 2014 Thái Bình 29,4

Nguyễn Quang Tùng [5] 2012-2013 Hà Nội 12,8

NC của chúng tôi 2016 Hà Nội 11,6

Bảng 5 Tỷ lệ thiếu máu ở PNMT trong nghiên cứu của các tác giả

có lẽ do sự phát triển kinh tế xã hội giúp cho người

dân có điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt hơn, đặc

biệt là chăm sóc sức khỏe thai nghén

Kết quả của chúng tôi thấp hơn nhiều so với các

nghiên cứu khác nhưng khá tương đồng và chỉ hơi

thấp hơn so với của Nguyễn Quang Tùng

(2012-2013) tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội [5] Điều này

có thể giải thích được do hai nghiên cứu trong thời

gian khá gần nhau và trên cùng địa bàn Hà Nội

Ngoài ra, đối tượng đến Khoa Khám bệnh theo

yêu cầu cũng có thể có điều kiện kinh tế và dinh

dưỡng tốt hơn so với mặt bằng chung

Trong số 73 trường hợp thiếu máu có tới hai

phần ba (67,1%) là thiếu máu nhẹ, 32,9% thiếu

máu mức độ vừa, không có thiếu máu nặng; tương

tự của Võ Thị Thu Nguyệt với tỷ lệ thiếu máu nhẹ và

trung bình lần lượt là 62,3% và 37,7% [7]

Trong số 73 thai phụ thiếu máu, chỉ có 49 được

làm xét nghiệm Ferritin huyết thanh cho thấy xét

nghiệm này còn chưa được thực sự coi trọng Trong

số đó, có 33 trường hợp được khẳng định là thiếu

máu thiếu sắt, chiếm tỷ lệ 67,3%, trong đó 24,5%

(SF<12µg/l) thiếu sắt ở mức độ nặng và 42,8% dự

trữ sắt giảm (SF=12-30µg/l)

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu của

Đặng Thị Hà (2000) cho thấy trong số thai phụ

thiếu máu, tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt là 82,64% [12]

và Võ Thị Thu Nguyệt (2008) cho thấy tỷ lệ này là

85,25% [7]; đều cao hơn của chúng tôi

Nguyễn Quang Tùng (2012-2013) cho kết quả

thiếu sắt nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội

là 79,6% trong nhóm thiếu máu Trong đó thiếu

sắt ở mức độ nặng 67,1%, dự trữ sắt giảm chiếm

12,5% [5]

Kết quả của chúng tôi có thấp hơn đôi chút so

với các tác giả trên, một phần có thể do đặc thù về

điều kiện kinh tế của ĐTNC Tuy nhiên vẫn có thể

thấy thiếu máu ở Việt Nam vẫn chủ yếu là do thiếu

dinh dưỡng, trong đó thiếu sắt chiếm chủ yếu

4.3 Hiệu quả của viên uống Chela – Ferr ® trong hỗ trợ điều trị thiếu máu thiếu sắt

tăng đáng kể hàm lượng Hemoglobin ở những phụ

nữ thiếu máu thiếu sắt trong nghiên cứu này Sau một tháng sử dụng thuốc, Hemoglobin trung bình

đã tăng từ 10,49 lên 11,25 g/dL Mức tăng 0,76 g/dL được ghi nhận chỉ trên một cỡ mẫu không lớn nhưng có ý nghĩa thống kê

Theo Võ Thị Thu Nguyệt (2008), tỷ lệ thiếu máu

ở nhóm PNMT không được bổ sung viên sắt là 44%

và ở nhóm được bổ sung viên sắt là 6,8%; ở nhóm

sử dụng sữa có bố sung sắt là 11,6%, thấp hơn hẳn

so với nhóm còn lại (47,8%) [7] Tuy so sánh các quần thể khác nhau, khác với nghiên cứu của chúng tôi nhưng nhìn chung tỷ lệ thiếu máu ở nhóm có can thiệp thấp hơn 4-6 lần so với nhóm không can thiệp; khá tương tự mức giảm 6 lần trong nghiên cứu này Nghiên cứu bổ sung sắt trong 12 tuần tại Thái Bình cho thấy hàm lượng Hb tăng 0,86g/dL ở nhóm thai phụ 21-24 tuần [2] là một nhóm có tuổi thai gần tương đồng với ĐTNC của chúng tôi Chúng

đã có mức tăng gần tương đương (0,76 g/dL) cho

dù chỉ sử dụng trong thời gian 1 tháng

Chúng tôi đã ghi nhận mức tăng rõ rệt hàm lượng Ferritin huyết thanh sau sử dụng thuốc Với mức tăng trung bình 4,75 µg/L có ý nghĩa thống kê,

sự gia tăng hàm lượng Hemoglobin đã nêu ở phần trên có thể giải thích được và rõ ràng là kết quả của việc bổ sung sắt trong vòng 1 tháng vừa qua Chính vì lý do đó, tính chung trong nghiên cứu này có tới 90% số đối tượng nghiên cứu thiếu máu thiếu sắt đã hết hẳn thiếu máu hoặc cải thiện đáng

kể và nhiều khả năng sẽ còn được cải thiện nếu tiếp tục sử dụng thuốc; trong số đó 100% phụ nữ thiếu máu thể nhẹ đã hết hoàn toàn

Kết quả cũng cho thấy số người có mắc các triệu chứng như: mệt mỏi/hoa mắt/ chóng mặt; hồi hộp/đánh trống ngực/nhịp tim nhanh; và cảm giác chán ăn đều đã giảm rõ rệt Trong số các triệu chứng, một tác dụng phụ đáng quan tâm của việc

sử dụng viên sắt là táo bón đã giảm (từ 5 xuống chỉ

không gây tăng, thậm chí có thể giảm nguy cơ táo bón cho người sử dụng

Trang 6

18 - 23

5 Kết luận

5.1 Tỷ lệ thiếu máu và thiếu máu thiếu sắt

• Tỷ lệ thiếu máu ở 628 PNMT là 11,6%; không

có sự khác biệt theo nhóm tuổi hoặc số con đã sinh

• Trong số 49 thai phụ thiếu máu được xét nghiệm

Ferritin, tỷ lệ thiếu sắt là 67,3%, trong đó thiếu sắt ở

mức độ nặng là 24,5% và 42,8% dự trữ sắt giảm

5.2 Hiệu quả của viên uống Chela – Ferr ®

trong hỗ trợ điều trị thiếu máu thiếu sắt

Nghiên cứu thuần tập trên 20 phụ nữ thiếu máu vừa và nhẹ, có thiểu sắt, sử dụng viên uống Chela

• Hemoglobin và Ferritin huyết thanh huyết thanh cải thiện rõ rệt: Hemoglobin tăng từ 10,49 lên 11,25 g/dL, mức tăng trung bình 0,76 g/dL;

Ferritin huyết thanh tăng trung bình 4,75 µg/L (từ 22,80 lên 27,55 µg/L)

Tài liệu tham khảo

1 WHO, Guideline: Daily iron and folic acid supplementation in pregnant

women 2012; Geneva: World Health Organization,.

2 Thúy, P.V and N.T.M Chính., Tình trạng thiếu máu của phụ nữ có

thai 13-24 tuần sau 12 tuần thử nghiệm uống viên sắt tại Quỳnh Phụ,

Thái Bình Tạp chí Y học Dự phòng, 2014; 4(153)(xxiv): p 68.

3 Lệ, N.T and T.Q Vinh, Tình hình thiếu máu thiếu sắt trong quý hai

của thai kỳ và hiệu quả của điều trị hỗ trợ Tạp chí Phụ Sản, 2013; 11

(4)(12/2013).

4 Phạm Thị Thúy Hòa, Nguyễn Lân, and Trần Thúy Nga, So sánh hiệu

quả bổ sung viên sắt với acid folic hàng tuần và hàng ngày lên tình

trạng thiếu máu của phụ nữ nông thôn thời kỳ có thai Tạp chí Y học

Dự phòng, 2000; 4(46)(X): p 24-30.

5 Nguyễn Quang Tùng, Thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ mang thai tại

Hà Nội năm 2012-2013 Tạp chí Y học Thực hành, 2014; 940(11/2014).

6 Lê Minh Chính, Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ Sán Dìu trong thời kỳ

mang thai tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên và hiệu quả của biện

pháp can thiệp 2010; Trường Đại học Thái Nguyên.

7 Võ Thị Thu Nguyệt, et al., Khảo sát tình trạng thiếu máu thiếu sắt

trong 3 tháng giữa thai kỳ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đại

học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 2008; 12(1).

8 Trường Đại học Y khoa Hà Nội, Phương pháp nghiên cứu khoa học

trong y học và sức khỏe cộng đồng 2006; Nhà xuất bản Y học.

9 WHO, Haemoglobin concentrations for the diagnosis of anaemia and

assessment of severity 2011; Geneva, World Health Organization.

10 Hassan, R., W.Z Abdullah, and N.H Nik Hussain, Anemia and iron

status of Malay women attending an antenatal clinic in Kubang Kerian, Kelantan, Malaysia Southeast Asian J Trop Med Public Health 2005;

36(5): p 1304-7.

11 G S Toteja, P Singh, and e all, Prevalence of anemia among

pregnant women and adolescent girls in 16 districts of India Food and Nutrition Bulletin, 2006; 27 no 4: p 311-315.

12 Đặng Thị Hà, Tầm soát thiếu máu thiếu sắt trong thai kỳ tại Thành

phố Hồ Chí Minh Luận án Tiên sỹ Y học, 2000.

13 Nguyễn Viết Trung, Nghiên cứu một yếu tố liên quan đến nguyên

nhân và cơ chế gây thiếu máu ở phụ nữ có thai 2003; Học viên Quân Y.

14 Nguyễn Xuân Ninh, et al., Tình trạng thiếu máu ở trẻ em và phụ nữ

tuổi sinh đẻ tại 6 tỉnh đại diện ở Việt Nam 2006 Chuyên đề Hội nghị khoa học Hội dinh dưỡng lần thứ 3, 2006; p 15-18.

Ngày đăng: 17/07/2020, 01:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w